Thời Pháp Thuộc

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những vay mượn từ tiếng Pháp

39 views

Sang đến thời kỳ “một trăm năm đô hộ giặc Tây”. Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã trở thành thuộc địa của Pháp. Cũng vì thế, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội và đời thường của người Việt.

Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, nổi bật nhất là văn hóa Pháp.

Khi chiếm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá Nho giáo sang văn hoá Phương Tây. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Linh mục Alexandre de Rhodes

Đối với người bình dân, việc tiếp nhận tiếng Pháp đến một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nói “Cắt tóc, thui dê” để chỉ ngày Quốc khánh Pháp 14/7, Quatorze Juliet. Người ta có thể dùng tiếng Tây “bồi” nhưng lại không cảm thấy xấu hổ vì vốn liếng tiếng Pháp của mình vốn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để tả con cọp, người ta có thể dài dòng văn tự: “tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng (jaune), một chút màu đen (noir), nó ăn thịt ông (monsieur), nó ăn thịt cả tôi (moi).

Nhân đây cũng xin nói thêm về những đại danh từ nhân xưng như toa (anh, mày – toi), moa hay mỏa (tôi, tao – moi), en hay ẻn (cô ấy, chị ấy – elle), lúy hay lủy (anh ấy, hắn – lui), xừ hay me-xừ (ông, ngài – monsieur)… Học trò trường Tây, những nhà trí thức khoa bảng hay cả những kẻ tỏ ra “thời thượng” ngày xưa thường dùng những đại từ này. Cũng vì thế có một câu mang tính cách châm chọc: “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn tiểu quá nên moa phải… trên đầu toa” (toa ở đây có 2 nghĩa: toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi (anh) trong tiếng Pháp).

Nói thêm về hỏa xa, người Pháp xây dựng đường xe lửa đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1881. Đây là đoạn đường ray (rail) từ Cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn, dài 13km. Mãi đến năm 1885 chuyến xe lửa đầu tiên mới được khởi hành và một năm sau, tuyến đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71km bắt đầu hoạt động. Sau đó, mạng lưới đường sắt được xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, dùng kỹ thuật của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Tính đến năm 1975 miền Nam có khoảng 1.240km đường ray nhưng vì chiến cuộc nên chỉ được sử dụng khoảng 60%.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Nhà ga xe lửa cạnh đầu đường Lê Lai (1931)

Nhà ga cũng có xuất xứ từ tiếng Pháp gare. Ga là công trình kiến trúc làm nơi cho tàu hoả, tàu điện hay máy bay đỗ để hành khách lên xuống hoặc để xếp dỡ hàng hoá. Từ sự vay mượn này ta có thêm những từ ngữ như sân ga, trưởng ga, ga chính, ga xép… Nhân nói về ga tưởng cũng nên nhắc lại động từ bẻ ghi (aiguiller) tức là điều khiển ghi (aiguille) cho xe lửa chuyển sang đường khác. Trong tiếng Việt, bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Ga Đà Lạt (1938)

Có những từ ngữ xuất xứ từ tiếng Pháp nhưng vì lâu ngày dùng quen nên người ta cứ tưởng chúng là những từ “thuần Việt”. Chẳng hạn như cao su (caoutchouc), một loại cây công nghiệp được người Pháp du nhập vào Việt Nam qua hình thức những đồn điền tại miền Nam. Ngôn ngữ tiếng Việt rất linh động trong cách dùng từ ngữ cao su qua các biến thể như giờ cao su (giờ giấc co dãn, không đúng giờ), kẹo cao su (chewing-gum)…

Nhà băng (banque) là một chữ quen dùng trong ngôn ngữ hàng ngày còn xà bông cũng là loại chữ dùng lâu ngày thành quen nên ít người để ý xuất xứ của nó là từ tiếng Pháp, savon. Ở miền Bắc, xà bông được cải biên thành xà phòng, là chất dùng để giặt rửa, chế tạo bằng cách cho một chất kiềm tác dụng với một chất béo. Nổi tiếng ở Sài Gòn xưa có xà bông Cô Ba của Trương Văn Bền, dùng dầu dừa làm nguyên liệu chính.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Ngân Hàng Đông Dương nhìn từ phía sau góc Tôn Thất Đạm-Nguyễn Công Trứ

Chúng ta thấy ngôn ngữ Việt vay mượn từ tiếng Pháp trong rất nhiều lãnh vực. Về ẩm thực, tiếng Việt thường mượn cả cách phát âm đến tên của các món ăn có xuất xứ từ phương Tây. Vào nhà hàng, người phục vụ đưa ra mơ-nuy (thực đơn – menu) trong đó có những món như bít-tết (chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh – beefsteak), những thức uống như bia (rượu bia – bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon), rượu vang (rượu nho – vin)…

Về thịt thì có xúc-xích (saucisse), pa-tê (paté), giăm-bông (jambon), thịt phi-lê (thịt thăn, thịt lườn – filet). Các món ăn thì có ra-gu (ragout), cà-ri (curry)… Khi ăn xong, khách xộp còn cho người phục vụ tiền puộc-boa (tiền thưởng – pourboire). Ngày nay từ boa hay bo được dùng phổ biến với ý nghĩa cho tiền thưởng, hay còn gọi là tiền phong bao hoặc tiền phục vụ.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Bánh Pâté Chaud

Từ rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp. Có nhiều loại bánh đặc biệt như bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài – baguette), bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud), bánh croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant).

Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà như ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat), trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette) hoặc trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque).

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Cà phê Brodard trên đường Catinat

Món không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê (café). Cà phê phải được lọc từ cái phin (filtre à café) mới đúng điệu. Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn nhiều người đã mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình”: “cái nồi ngồi trên cái cốc”.

Ngôn ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi (chemise), cổ tay có cài khuy măng-sét (manchette). Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì mặc áo vét (vest) hay bộ vét-tông (veston) kèm theo chiếc cà-vạt (cravate) trên cổ áo sơ mi. Trời hơi lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê (gilet) và hai tay mang găng (gants) cho ấm.

Ngay cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ thì mang xú-chiêng (nịt ngực – soutien-gorge) và xì-líp (slip). Nam giới thì mặc áo may-ô (maillot) bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya (dây nịt – ceinture) và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts).

Trang phục có thể được may từ các loại cô-tông (vải bông – coton) hoặc bằng len (làm từ lông cừu – laine). Trên đầu có mũ phớt (feutre, một loại mũ dạ), mũ be-rê (béret, một loại mũ nồi)… dưới chân là đôi dép săng-đan (sandales), sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc).

Đi lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá (giày của lính – soldat). Loại lính nhảy dù, biệt kích (ngày nay là đặc công) gọi là còm-măng-đô (commando). Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!). Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được dùng chỉ những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu thông.

Xưa kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên: mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui), sen đầm (gendarme), phú-lít (police), ông cò (commissaire)… Lực lượng thuế quan (ngày nay gọi là hải quan) được gọi là đoan (douane), lính đoan còn có nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp thuộc.

Nông phẩm thì có đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert), đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois), bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ (bông cải – chou-fleur), xà lách (salade), cải xoong (còn gọi là xà lách xoong – cresson), cà-rốt (carotte), ác-ti-sô (artichaut)…

Tiếng Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica (khẩu cầm)… Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường – dancing) luôn có ọc-két (ban nhạc – orchestre) chơi nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve (gái nhẩy – cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Vũ trường Maxim’s trên đường Tự Do cạnh khách sạn Majestic

Người phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ tiếng Việt những từ ngữ như bơ (beurre), pho-mát (fromage), kem (crème)… Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai nhãn hiệu sữa Ông Thọ (Longevity) và Con Chim (Nestlé) như đã nói ở phần trên.

Có người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi thọ (longévité) của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy. Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim (gồm chim mẹ và 2 chim con) nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim cho tiện.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Trụ sở hãng sữa Nestlé (sữa Con chim) trên đường Công Lý

Thế mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng (Lait Mont-Blanc) và sữa bột Guigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn vụng một thìa Guigoz của em út: vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ ly ty như tan ngay trong miệng.

Sữa bột Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ đo lường. Khi dùng hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng đường, muối, tiêu, bột ngọt…

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Logo hình tổ chim của hãng sữa Nestlé

Những người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz đã theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người “tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để phòng khi cần đến.

Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”. Học tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu”. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc măng (lấy ở trên rừng), luộc rau, luộc khoai mỳ (“chôm chỉa” khi đi “tăng gia sản xuất”)… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp núc.

Chúng tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn (Tây Ninh) nên có cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm nuôi”.

Sau 30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975.

Tình cờ tôi bắt gặp trang web của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới 15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có sữa!

Người Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô (xe hơi – auto, automobile). Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven (manivelle) đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có bộ phận đề-ma-rơ (khởi động – démarreur). Sau khi đề (demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe – chauffeur) sẽ cầm lấy vô-lăng (bánh lái – volant) để điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như cờ-lê (chìa vặn – clé), mỏ-lết (molete), đinh vít (vis), tuốc-nơ-vít (cái vặn vít – tournevis), công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur), công tắc (cầu dao – contact)…

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Công ty xe hơi Pháp Citroen (REX Hotel Saigon) 1927

Bây giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có guy-đông (thanh tay lái – guidon), dưới chân có pê-đan (bàn đạp – pedale), săm (ruột bánh xe – chambre à air) và phía sau là bọc-ba-ga (để chở hàng hóa – porte-bagages).

Chi tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên (dây xích – chaine), có líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre), rồi phanh (thắng – frein) ở cả bánh trước lẫn bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu (thanh chắn bùn – garde-boue) và gạc-đờ-sên (thanh che dây xích – garde-chaine).

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Xe hơi trên đường Nguyễn Huệ

Mỗi chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm (pompe) để phòng khi lốp xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô (dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). Tôi còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục man châm gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện.

Hồi xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling… Đó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa.

Tác giã : Nguyễn Ngọc Chính

Lễ tế Nam Giao của Vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 (Phần 3)

93 views

Các triều đại quân chủ Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của hệ tư tưởng Nho giáo, nhà vua được xem là Thiên tử, tuân theo mệnh trời để trị vì dân chúng. Chính vì vậy, việc làm lễ Tế Nam Giao (tế trời đất) luôn được các triều đại phong kiến coi trọng. Dưới triều Nguyễn, lễ tế Nam Giao là nghi lễ quan trọng hàng đầu, được xếp vào hàng Đại tự, được tổ chức long trọng dịp đầu xuân.

Sau đây là loạt ảnh quý về lễ tế đàn Nam Giao năm 1924 là lễ tế đàn Nam Giao cuối cùng trong sự nghiệp vua Khải Định.

Xin đọc phần 1
Xin đọc tiếp phần 2
Xin đọc tiếp phần 4

Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đội lễ nhạc của cung đình
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Ban nhạc của vua
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đội vệ binh danh dự trên sân sau điện Thái Hòa
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Vua Khải định chuẩn bị rời điện Kiến Trung
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn xe xích lô kéo chở quan bộ triều đình
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Cỗ xe hoàng gia
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Kiệu hoàng
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tập dượt cho buổi lễ tế Nam Giao
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Dựng các bàn thờ tại đàn Nam Giao. Trong hình là một án thờ trên Phương đàn.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Trên sân trước Đại Cung Môn trước giờ vua lên đường đi tế Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Kiệu hoàng đã được chuẩn bị để rước vua ở điện Cần Chánh.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Sân điện Cần Chánh trước lúc vua lên đường đi tế Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Quan lại đang đợi rước vua ở điện Cần Chánh.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn Ngự đạo rời Kinh thành Huế qua ngả cửa Thượng Tứ (Mirador VIII, theo cách gọi của Tây).

Gia Định Báo – Số 6, năm thứ hai (tháng sáu 1866)

124 views

Mời các bạn đọc số 6 của Gia Định Báo, ra mắt vào tháng sáu năm 1866. Gia Định Báo là báo đầu tiên bằng tiếng quốc ngữ của Việt Nam.

Gia-Định-Báo-–-Số-6-năm-thứ-hai-tháng-sáu-1866

Bạn cũng có thể tải báo để đọc trên những thiết bị đọc sách như Kindle (Amazon)… bằng cách bấp vào những links sau đây tùy theo dạng :

Dạng EPUB : http://ul.to/6nmjsbai

Dạng Kindle : http://ul.to/f7sbej64

Dạng MOBI : http://ul.to/cvw9xycp

Những Phú Hộ Lừng Danh Nam Kỳ : Bùi Quang Chiêu (1873-1945)

266 views

Bùi Quang Chiêu là một nhà chính trị gia nổi tiếng của Nam Kỳ xuất thân từ giai cấp giàu có ở thế kỷ XIX-XX tranh đấu đòi tự trị cho Việt Nam vào đầu thế kỷ 20

Làng Đa Phúc vào cuối thế kỷ 19 (đầu thế kỷ 20), đổi lại thành Đại Điền, quận Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre là quê hương của những nhà giàu, trí thức tân học đầu tiên ở Nam Kỳ. Nơi đây phát tích nhiều cự phú, có ảnh hưởng quan trọng đến kinh tế, xã hội nước ta. Thuộc loại thông minh, học hành đỗ đạt sớm nhứt là hai ông cùng sinh trưởng lại cù lao Minh: Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo.

Ông Bùi Quang Chiêu là kỹ sư canh nông đầu tiên của Nam Kỳ (1897), và Dương Văn Giáo là luật sư tốt nghiệp Luật khoa Tiến sĩ và chính trị học tại Paris rất sớm.

Hai ông từng là bạn đồng môn, đồng chí trong đảng Lập hiến, có thời hoạt động chung để tranh đấu cho nền độc lập của xứ sở và chịu chung số phận: bị Việt Minh thủ tiêu mùa thu năm 1945. Hai ông phải chết vì Việt Minh cộng sản sợ uy tín lớn của các ông. Cũng như luật sư Dương Văn Giáo, ông Bùi Quang Chiêu là một khuôn mặt chính trị lớn ở Nam Kỳ vào mấy thập niên đầu thế kỷ này.

Xuất thân trong một gia đình đại điền chủ, có thân phụ là một nhà nho, từng chủ trương chống đối người Pháp xâm lăng, nhưng Bùi Quang Chiêu là một người được Pháp nâng đỡ và chịu ảnh hưởng văn hoá Pháp trong đường lối chính trị ôn hoà. Bùi Quang Chiêu là con của ông Bùi Quang Đại và bà Phan Thị Tuân.

Thuở nhỏ, Chiêu theo học trường làng ở Mỏ Cày, rồi lên Sài gòn, tiếp tục theo học trường Chasseloup-Laubat. Ông Chiêu được Pháp cấp học bổng để du học bên Algérie cho đến khi đậu Tú tài toàn phần. Sau khi tốt nghiệp trường trung học, Chiêu xin học trường Thuộc địa tại Paris trong 2 năm 1894-1895, trước khi dược nhận vào học viện Nông Nghiệp.

Bùi Quang Chiêu là người Việt nam đầu tiên tốt nghiệp kỹ sư nông nghiệp vào năm 1897. Trường Thuộc địa là nơi mà anh bồi tàu Nguyễn Tất Thành (sau này đổi lại Hồ Chí Minh) mới chân ướt chân ráo đặt chân lên đất Pháp, vội vàng làm đơn xin theo học. Chính phủ Pháp bác đơn vì trình độ cậu ta còn quá kém. Phải chi lúc đó, chính quyền Pháp thâu nhận cậu Nguyễn Tất Thành, thì sau này, bộ máy Thuộc địa sẽ có thêm nhiều Hoàng Trọng Phu, Thân Trọng Huề… đâu đến nỗi cậu bồi tàu Nguyễn Tất Thành phẫn chí đi theo cộng sản, gây tai hoạ cho cả dân tộc Việt nam. Xin xem thêm bài “ Bác Hồ đi tìm đường cứu nước… Pháp” cùng tác giả. Theo tài liệu của Tiến sĩ Sử học Vũ Ngự Chiêu thì “trường Thuộc địa” (école Coloniale) là một học hiệu lừng danh, chuyên đào tạo các viên chức hành chánh thuộc địa của Pháp. Trước thế chiến thứ nhứt, trường gồm 2 phân khoa:

  • Phân khoa bản xứ (Section Indigene)
  • Phân khoa Pháp (Section Française)

Phân khoa bản xứ là liền thân của trường Thuộc địa Paris.

Khởi đầu từ một nhóm 13 thiếu niên người Miên được Auguste Pavie mang về Paris huấn luyện tiếng Pháp vào mùa Thu năm 1885. Phân khoa này được mở rộng dần, để đón nhận các học viên người Việt, Lào, Porto Novo và vài trẻ lai Pháp.

Năm 1889, trường Thuộc địa được Thứ trưởng Thuộc địa Eugene Étienne chính thức thành lập, gồm cả hai phân khoa bản xứ và Pháp. Mười năm sau, giám đốc Etienne Aymonier báo cáo rằng đã có 49 học viên bản xứ rời trường. Quá bán học viên gốc Miên (25 người). Trong số 17 người Việt, có nhiều nhân vật khá lừng lẫy: Bác vật canh nông Bùi Quang Chiêu, giáo sư Lê Văn Chính ở Quốc Tử Giám, Thân Trọng Huề (Thượng Thơ), Lê Văn Miên (hoạ sĩ), về sau làm Đốc học trường Pháp Nam ở Vinh…

Từ năm 1908, toàn quyền Klobukowski quyết định thay đổi việc thâu nhận học viên vào phân hiệu bản xứ. Từ đây, trường chỉ thâu nhận học viên đã đậu các khoa thi Hương và thi Hội ở Việt nam, để chuẩn bị cho những tân khoa này bước vào guồng máy hành chánh bảo hộ. Thời gian huấn luyện kéo dài 2 năm. Tháng 3-1911, một số phó bảng và ấm sinh người Việt như Bùi Kỷ, Bùi Thiện Cơ, Phan Kế Toại, Trương Như Đính (con như Trương Như Cường) bắt đầu lên đường dự khoá huấn luyện trắc nghiệm này. Thật ra, họ là những học viên người Việt cuối cùng của phân hiệu bản xứ Trường Thuộc địa. (Phải chi năm 1911, đơn xin nhập học của cậu bồi tàu Nguyễn Tất Thành được thâu nhận thì nước ta đã bước qua một khúc ngoặc quan trọng khác).

Sau khi tốt nghiệp kỹ sư Canh nông, Bùi Quang Chiêu hồi hương và được bổ làm công chức trong phủ Toàn quyền tại Hà Nội. Thời gian đó P. Doumer có nhiều chương trình phát triển kinh tế cho toàn thể Đông Dương rất quy mô. Sau ông Chiêu được đổi qua làm thanh tra nông nghiệp. Khi trường Canh Nông ở Huế thành lập, Chiêu được cử ra Huế dạy ít lâu. Năm 1908, Chiêu về Nam Kỳ và làm việc trong sở Canh Nông.

Năm 1923, Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo, Nguyễn Phan Long… thành lập đảng Lập hiến, chủ trương tranh đấu ôn hoà, đòi cho nước Việt nam có một bản hiến pháp như Úc. Thời gian đó, ông Chiêu cũng đắc cử Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ. Sau vài niên khoá, ông Bùi Quang Chiêu đắc cử Nghị viên Nam Kỳ tại Thượng Hội Quốc gia thuộc địa ở Paris (1932). Cũng như Trương Văn Bền, Chiêu là hội viên lâu đời của Hội dông Kinh tế lý tài Đông Dương.

Năm 1926, ông làm chủ nhiệm sáng lập tờ báo Pháp ngữ “Diễn đàn Đông Dương” (La Tribune Indochinoise), bắt đầu một giai đoạn tranh đấu tích cực hơn. Cũng năm đó, Bùi Quang Chiêu vận động với Toàn quyền Đông Dương ban cho Việt nam một bản hiến pháp, nhưng bị từ chối khéo. Toàn quyền bảo việc đó ngoài quyền hạn của ông, vì thế ông Chiêu nhứt định qua Pháp, để tranh đấu nhưng thất bại.

Bùi Quang Chiêu là một người hoạt động trong nhiều lãnh vực: chính trị, kinh tế, thương mại, công nghệ, văn hoá và trong phạm vi nào ông cũng thành công nhờ uy tín lẫn khả năng.

Bùi Quang Chiêu: nhà chính trị, nhà báo

Hồi những thập niên đầu thế kỷ 20, dư luận trong nước thường cho rằng “Bùi Quang Chiêu là Phạm Quỳnh ở Nam Kỳ”. Sự đánh giá ấy cũng không sai biệt lắm. Cả hai ông Chiêu và Quỳnh đều là những người thân Pháp, được Pháp tin cậy, giữ địa vị cao, tuy nhiên vai trò của Bùi Quang Chiêu không quan trọng bằng Phạm Quỳnh.

Năm 1930, tuần báo “Phụ Nhân Văn” có mở một cuộc thi kỷ niệm đệ nhứt chu niên ngày thành lập báo. Đầu đề thứ ba của cuộc thi là một câu hỏi như sau: “Nếu có cuộc tuyển cử 10 vị “Việt nam nhân dân đại biểu” (như Dân biểu, hay Nghị sĩ) mà những vị kể tên dưới đây (tờ báo nêu tên 10 nhân sĩ lúc ấy) ra ứng cử, thì độc giả sẽ cử những vị nào?

Kết quả các câu trả lời được sắp thứ tự như sau:

  1. Phan Văn Trường (luật sư)
  2. Huỳnh Thúc Kháng
  3. Nguyễn Phan Long
  4. Diệp Văn Kỳ
  5. Lưu Văn Lang
  6. Bùi Quang Chiêu
  7. Trần Trọng Kim
  8. Dương Văn Giáo
  9. Trần Trinh Trạch
  10. Phạm Quỳnh

Dấn thân hoại động từ thập niên 1910, ông Chiêu bắt đầu bày tỏ thái độ, sự băn khoăn của mình trước thời cuộc nước nhà. Những bài viết của ông dân lượt xuất hiện trên báo “Diễn đàn bản xứ” của ông Nguyễn Phú Khai (Tháng 3 – 1917). Gần 10 năm sau, ông chủ trương riêng tờ báo “Diễn đàn Đông Dương”. Thời đó tờ “Diễn đàn bản xứ”, (La Tribune Indigène) có thể coi như cơ quan ngôn luận của đảng Lập hiến trong thời kỳ đầu. Tờ “Diễn đàn Đông Dương” do chính ông Chiêu làm chủ nhiệm, ông Nguyễn Kim Đính làm chủ bút kiêm quản lý. Trên lãnh vực báo chí truyền thông, ông Chiêu biết lợi dụng phương tiện và sức mạnh của cơ quan ngôn luận để làm áp lực với chính quyền Pháp và các nhóm kinh tài khác, để được ưu đãi trong lãnh vực thương mại, kinh doanh. Về đường lối chính trị, Bùi Quang Chiêu chủ trương theo dùng thuyết “Pháp Việt đề huề” do Toàn quyền Albert Sanaut đề ra. Trong một bài xã luận trên báo “Diễn đàn Đông Dương” số 47, ra ngày 26-11-1926, ông viết: “Người Pháp đã góp phần thắt chặt tình hữu nghị Việt Pháp, tạo nền móng vững chắc để từ đó Đông Dương sẽ vươn lên đẹp đẽ và vững mạnh. Người Việt nam đã từng yêu mến nhiều người Pháp có thiện chí mà họ xem như là bạn thân, anh cả; những người anh cả này sẵn sàng đền đáp lại, giúp đỡ anh em…”.

Bắt đầu từ năm 1917, đến năm 1926, Bùi Quang Chiêu cùng các bạn từng du học ở Pháp về như Nguyễn Phú Khai, Võ Hà Trị, mở ra một thời kỳ mới trong việc phát triển báo chí tiếng Pháp ở Nam Kỳ.

Cuộc đời làm chính trị của Bùi Quang Chiêu

Cuộc đời làm chính trị của Bùi Quang Chiêu có thể phân làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn đầu, ông viết cho tờ “Diễn đàn bản xứ” của Nguyễn Phú Khai. Ông Nguyễn Phú Khai là người sinh tại tỉnh Bà Rịa, trong một gia đình điền chủ lớn. Sau khi học xong bậc trung học dê nhứt cấp (theo cách phân chia giáo dục ngày nay), ông được thâu nhận vào trường Thuộc địa năm 1904. Sau đó, ông học tiếp, đậu bằng kỹ sư công chánh. Thế chiến thứ nhứt bùng nổ (1914), Khai gia nhập quân đội Pháp với cấp bậc Thiếu uý. Về Sài gòn, Nguyễn Phú Khai cùng với Bùi Quang Chiêu lập tờ báo Pháp ngữ “Diễn đàn bản xứ”, để vận động cho Việt nam được hưởng quy chế lập hiến như Úc. Theo chủ trương của Nguyễn Phú Khai: “Sở dĩ dân tộc Việt nam nghèo khổ vì các quan lại Pháp Nam đàn áp, bóc lột, còn Hoa kiều tiếp tay, bằng cách nắm vận mạng kinh tế. Đó là nguồn gốc của một quốc gia nghèo và chậm tiến”. Theo Khai, muốn cho đất nước tiến bộ, không cần phải độc lập mà cần mở mang kinh tế, có nghĩa là người Việt phải đứng ra tham dự vào các hoạt động kinh tế, cạnh tranh để đem quyền lợi về cho người bản xứ. Trong tinh thần tranh thương với Hoa kiều, chính Nguyễn Phú Khai là một trong những người Việt đầu tiên lập nhà máy xay lúa ở Mỹ Tho năm 1915. Quan điểm của Nguyễn Phú Khai được Bùi Quang Chiêu nhiệt thành chia sẻ. Cả hai nhiều lần cổ võ lập trường bằng những bài báo trên “Diễn đàn bản xứ”: Hô hào mở mang kinh tế, nâng cao dân trí và về chính trị, đòi được quyền tự trị mà thôi. Các thành viên của đảng Lập hiến, sau này như các ông Hội đồng quản hạt Lê Quang Liêm, Diệp Văn Cương, Trần Văn Khá, Trương Văn Bền… đều tán thành quan điểm của Chiêu và Khá. Ông Diệp Văn Kỳ, một Hội đồng quản hạt, thành viên của đảng Lập hiến, từng tuyên bố trước phiên họp Hội đồng quản hại ngày 10-9-1917, yêu cầu người Pháp cải thiện nhiều lãnh vực cai trị của chế độ thuộc địa:

  • Cải cách hệ thống hành chánh làng xã, giảm bớt nhiệm vụ, tăng lương cho hương chức hội tề.
  • Cần giao cho cai tổng giữ chức thẩm phán hoà giải.
  • Dễ dàng cho người Việt nhập Pháp tịch.
  • Mở rộng thêm Hội đồng quản hạt, để nhiều người Việt làm thành viên để tiếng nói của người địa phương thêm quan trọng.

Tuy không phải là tuyên ngôn của đảng Lập hiến, nhưng nhiều người nghĩ rằng các đề nghị ấy đều phản ảnh lập trường của đảng này.

Ông Cương chủ trương đồng hoá với nền văn hoá Pháp hơn là hợp tác. Năm 1919, Bùi Quang Chiêu trở lại quan điểm cũ của Nguyễn Phú Khai cho rằng: Hoa kiều là đồng minh của Pháp trong việc bốc lột kinh tế của người Việt nam. Do đó ngày 28-8- 1919, tờ “Diễn đàn bản xứ” của Nguyễn Phú Khai đăng một bài “cuộc tẩy chay hàng hoá Hoa kiều”. Hai ngày sau, nhóm này lập ra “Hiệp hội thương mại của người An Nam” với Khai làm chủ tịch, Nguyễn Chánh Sát, chủ bút tờ “Nông Cổ Mím Đàm” (1901-24), và Trần Quang Nghiêm, đồng phó chủ tịch. Thành tích của những người đề xuất phong trào “Tẩy chay Chinois” là:

  • Lập ngân hàng Việt nam (1 0- 1919)
  • Mở Đại hội Kinh tế Nam Kỳ, tập họp đại biểu 16 trong số 20 tỉnh của miền Nam.

Sau đó có phong trào nhiều người Việt nhảy ra tranh thương bằng cách mở những nhà máy. Đây cũng là một phong trào khá bồng bột, sôi nổi như hồi “Cuộc Minh tân” mà Trần Chánh Chiếu phát động hồi năm 1908. Nhiều nhà máy xay lúa mọc lên khắp nơi: Nhà máy xay lúa của Lê Văn Tiết ở Chợ Lớn, mỗi ngày xay được 16 tấn gạo; nhà máy xay của Nguyễn Thành Liêm ở Mỹ Tho, ông Lê Phát Vĩnh, con trai ông Huyện sĩ lập nhà dệt sa-ten, the lụa ở Sài gòn, sử dụng 50 công nhân… Thời điểm này cũng là lúc các nhà giàu có kiến thức Tây học xuất vốn lập đồn điền cao su, trà, cà phê.

Ông Chiêu công khai ủng hộ lập trường “Pháp Việt đề huề” của A. Sarraut:

Ao ước hai nước Pháp Nam sẽ hợp tác đề huề và ra vẻ hoài nghi vấn đề “độc lập, giải phóng” còn mơ hồ trong tương lai, một vấn đề mà bọn trẻ cách mạng vừa được 20 tuổi đời, đang háo hức đòi hỏi”.

Nói về sự xuất hiện bí mật của những phần tử cộng sản tại Đông Dương, ông Chiêu nói: “Cộng sản là những hiệp sĩ mang dấu hiệu búa liềm, đang mở cuộc tảo thanh chống guồng máy cai trị của chúng ta”. (La Tribune Indochinoise ngày 9-5-1924)

Khi tờ “La Tribune Chinoise” ra đời, đảng Lập hiến đã:

  • Tạo riêng thế đối thế ôn hoà, có uy tín trong giới tư sản, trí thức Nam Kỳ. Ban Giám đốc tờ báo cứ ung dung theo đường lối hợp tác giữa kẻ thống trị và bị trị.
  • Tiếng nói của những nhà giàu, hấp thụ văn hoá Tây phương.
  • Những cây viết: Trần Văn Khá, Bùi Quang Chiêu, Lê Quang Liêm, Nguyễn Phan Long… đều nhứt loạt cổ động cho đường lối này.

Chúng ta thường nghe ông bà nhắc lại hồi thập niên 1920, 30 ở Nam Kỳ gần như tỉnh nào cũng lập hội “Canh nông tương tế- tín dụng (Société Indigène de Crédit Agricole Mutuel), cứ tưởng đây chỉ là một hội tương tế, hiếu hỉ. Thực ra, đó là một tổ chức tập họp các điền chủ ở Nam Kỳ, để đối phó với Hoa kiều độc quyền mua bán lúa gạo. Chính các hội “Canh nông tương tế – tín dụng” ấy khuyến khích các đại điền chủ ở mỗi tỉnh lập nhà máy xay lúa, bán thẳng ra ngoài không qua trung gian của Hoa kiều. Hội Canh nông tương tế – tín dụng thành lập sớm nhất ở Nam Kỳ là Mỹ Tho (1912). Sau đó, gần như tỉnh nào cũng có. Mục đích chính của hội là lập ra mỗi tỉnh một cái lẫm (kho lúa), để tới mùa, các chủ ruộng đem lúa gởi vào đó. Hội xem xét, phân phối, ấn định giá bán ra thị trường, không bị bọn đầu cơ ép giá. Ngoài ra, họ còn lập “Canh nông ngân hàng tín dụng” (Agricole Crédit) giúp họ vay khỏi bị người Chà Chetty bóc lột. Khi ông Phạm Quỳnh vào Nam, thăm ông Lê Quang Liêm, lúc đó đang làm chủ quận Long Xuyên, hội trưởng “Hội khuyến học” và chủ trương Đại Việt tạp chí” cổ võ đường lối Pháp Việt đề huề như “Nam Phong” ngoài Bắc. Ông Phạm Quỳnh đề nghị với ông “Phủ Bảy” tức Lê Quang Liêm nên hợp tác hai tờ báo “Đại Việt và Nam Phong” làm một tạp chí chung cho cả Nam lẫn Bắc. Cả hai ông đều tán thành vì chung một mục đích, đường lối. Tuy nhiên việc hợp tác ấy không thành.

Nhắc lại tờ báo “Diễn đàn Đông Dương” của ông Bùi Quang Chiêu sống mạnh từ năm 1926 đến 1941. Ngoài nghề làm báo, ông Chiêu còn là một chánh khách giao thiệp rộng. Ông Chiêu cố tranh đấu đòi cho Việt nam có một bản hiến pháp vì lẽ “từ trước tới nay, chính sách cai trị thuộc địa của Pháp không dựa vào một khuôn khổ nhứt định nào”. Theo ông Chiêu “có hiến pháp để dân chúng biết sống và hành động đúng theo hiến pháp”. Vì thế đảng của ông lấy tên là “Đảng Lập hiến”.

Vào năm 1918, ông Chiêu có đưa ra một nhận xét: “Muốn mở mang kinh tế nước nhà, nâng cao dân trí, để đi đến mục tiêu cuối cùng là độc lập, chúng ta phải dựa vào Pháp hoặc Nhật”.

Đối với cộng sản những người quốc gia thân Pháp hay Nhựt, đều có tội phải chết, chỉ có quyền theo Liên Xô mới là… yêu nước. Kể từ khi thành lập đảng cộng sản Đông Dương (1930) đến nay, cộng sản Việt nam tuyệt đối trung thành mệnh lệnh của Liên Xô, dù phải bán rẻ quyền lợi quốc gia dân tộc. Hơn một thế hệ qua rồi, kể từ khi dốc toàn bộ sinh lực miền Bắc, cùng với võ khí viện trọ của Liên Xô, chiếm cho bằng được miền Nam, Việt cộng vẫn còn mắc nợ Liên Xô 10 tỷ đô la. Với tổng sản lượng quốc gia là 17 tỷ (thống kê của LHQ năm 1989) liệu Việt cộng huy động tất cả tài nguyên đất nước, tiềm lực, tài lực của toàn dân, có thể trả hết món nợ võ khí ấy trong suất thế kỷ 21 được chăng? Đó là công hay tội của cộng sản? Cùng một hành động mà người quốc gia làm thì bị kết tội, còn cộng sản làm thì có công!

Khi Toàn quyền Varenne vô Sài gòn, ông Chiêu đưa yêu sách, nhưng Varenne từ chối “vì ngoài thẩm quyền”. Ông cho biết chỉ có Quốc hội Pháp mới có quyền. Do đó, ông Chiêu nhứt định qua Pháp vận động (1926). Tuy vậy, mối hy vọng đó không thành tựu. Ông Bùi Quang Chiêu trở về Sài gòn tay không. Khi ông về tới Sài gòn, lớp trí thức tư sản tổ chức biểu tình đón ông tại bến tàu. Đồng thời, những tay thực dân, chủ đồn điền, vốn coi Nam Kỳ là vương quốc của họ, cũng huy động một nhóm người quá khích, tổ chức cuộc phản biểu tình để phá rối. Hai bên xô xát hỗn loạn. Tờ “Đông Pháp thời báo” thuật lại biến cố đó như sau: “một cảnh trí ngoài sự tưởng tượng của người ta: Dân chúng nườm nượp kéo đến bên tàu Nhà Rồng như nước lũ. Đường nào đường nấy chật nức người ta, từ trước Sở Thương Chánh cho tới Quai de Belgique, qua cầu, thẳng tuột tới bến tàu. Tàu tới trễ, dân chúng lũ lượt tới chúng đông. Ngẫu nhiên vì vụ Nguyễn An Ninh bị bắt mà Chiêu được nhân dân tiếp đón long trọng. Cả ngàn thanh niên hộ tống đi hai hàng, tay đeo băng vàng, huy hiệu đảng Jeune An nam, vừa đi chậm theo Bùi Quang Chiêu vừa hô khẩu hiệu: “Phải thả Nguyễn An Ninh”. Phía phản biểu tình của Pháp cho người nhào vô phá hoại. Một tên Tây con, côn đồ lẻn vào gần và đá đít Bùi Quang Chiêu một cái. Thế là dân chúng như nước vỡ bờ, túa chạy theo đánh đấm mấy chú Tây. Nếu không có cảnh sát can thiệp kịp, thế nào cũng có án mạng, người chết”. (“Nguyễn An Ninh” của Phương Lan, trang 157).

Khi ở Pháp, ông Bùi Quang Chiêu có viết một loạt bài báo đăng trên tờ “Việt nam hồn” của ông Nguyễn Thế Truyền. Nói về lai lịch tờ “Việt nam hồn”, cụ Đặng Hữu Thụ, tác giả sách “Nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền” sưu tầm tài liệu tại các văn khố Pháp, cho biết:

Việc ra báo “Việt nam hồn” bằng tiếng Việt là ý kiến của ông Nguyễn Ái Quốc. Vào khoảng cuối năm 1922 đầu năm 1923, Quốc phổ biến trong giới Việt kiều ở Pháp một tờ truyền đơn, kêu gọi họ mua báo này, do chính ông ta làm chủ bút. Lời kêu gọi ấy việt theo thể thức một bài vè: “Hồn Nam Việt”:

Ở trong thế giới, ống nói, tàu bay,
Việc lạ tin hay, ngày ngày thường có.
Nào ai muốn rõ phải có nhật trình,
Mình ở gia đình, mắt soi vạn lý,
Á, Âu, Úc Mỹ… rút lại một tờ.
Mong mỏi người mình, mở mày mở mặt,
Báo này sẽ đặt tên “Việt nam hồn”.
Mỗi tháng hai lần, mỗi lần trăm bản,
Xin anh em bạn, ai có muốn coi,
Cắt gửi cho tôi, cái toa mãi chi (order).
Mấy lời chứng thị, thư bâí tận ngôn,
Chúc “Việt nam hồn” vạn tuế, vạn tuế?

Phía dưới có câu: “Cắt cái toa này, gởi cho M. Nguyễn Ái Quốc, 3 rue du March des Patriarches, Paris 5”. Đoạn dư, để một khoảng trống cho người mua điền tên, họ, địa chỉ. Ông có ghi thêm: “Nếu không đủ 100 người xem thì không thể làm được”.

Đó là cách thức của ông Hồ mượn đầu heo nấu cháo, định ra báo “Việt nam hồn”, nhưng thất bại vì không đủ số người đặt mua.

Đến cuối năm 1925, ông Nguyễn Ái Quốc đi Liên Xô được hai năm rưỡi, ông Nguyễn Thế Truyền mới thực hiện ra tờ báo “Việt nam hồn” riêng do chính ông làm chủ nhiệm. Trên danh nghĩa, tờ Việt nam hồn do ông Nguyễn Ái Quốc sáng lập, nhưng không có một bài viết nào vì khi báo ra đời, ông đã đi Liên Xô, mà “quên” trả lại số tiền của mấy mươi độc giả đặt mua báo, vì không ra được!

Sự thật đã rõ ràng như vậy, mà tài liệu cộng sản bên nhà, luôn luôn đề cao “uy tín dỏm” của “Bác”: “Trong thời gian ở Pháp, Bác có ra tờ báo “Việt nam hồn” để cổ động trong giới người Việt sinh sống tại Pháp…”. “Bác” không có ra tờ báo “Việt nam hồn” nào, mà chỉ có báo “Việt nam… lèo”. (Tài liệu của Đặng Hữu Thụ đã nêu ở trên, trang 73).

Tờ báo “Việt nam hồn” của ông Nguyễn Thế Truyền là nguyệt san, viết bằng 3 thứ tiếng Việt, Pháp, Hán. Có vài số như số 10 14 đều viết bằng quốc ngữ. Trước khi tờ báo đầu tiên chào đời, ống Nguyễn Thế Truyền có tung ra tờ truyền đơn cổ động:

Nghĩ lắm lúc thâm gan, tím ruột,
Vạch trời kia mà tuột gươm ra,
Cũng xương, cũng thịt cũng da,
Cũng hòn máu đỏ, con nhà Lạc Long.
Thế mà chịu trong vòng trói buộc,
Mấy mươi năm nhơ nhuốc lầm than,
Thương ơi Đại Việt giang san,
Thông minh đã sẵn, khôn ngoan cũng thừa…

(Sách đã dẫn, trang 76)

Trong những bài báo của ông, nhiều lần ông đòi hỏi người Pháp ban bố tự do dân chủ cho Việt nam, nâng cao dân trí, mỏ mang kinh tế để tiến (rân đến chỗ tự trị, như thế, sẽ tránh được hỗn loạn. Theo ông, nếu Việt nam độc lập mà hỗn loạn, dân trí còn ở trình độ thấp kém sẽ làm mồi cho cộng sản.

Trong một bài viết bằng tiếng Pháp đăng trên báo “Việt nam hồn” của ông Nguyễn Thế Truyền, tựa “Pour le dominion Indochinois” đăng liên tiếp trên 4 số báo, ông Chiêu tố cáo chánh sách dùng rượu đầu độc dân tộc Việt nam:

Nếu ở Việt nam số trường học cũng nhiều nh ư số tiểu bài rượu và thuốc phiện, thì dân Việt nam sẽ là dân có học thức vào bậc nhíp thê”giới. Trẻ con đi học buộc phải nạp giấy khai sanh cho nhà trường, nhưng nếu trẻ con đi mua một lượng thuốc phiện, thì không phải nạp giấy tờ gì. Quyền tự do độc nhất mà người Việt nam chúng tôi được hưởng là quyền tự đầu độc bằng rượu và thuốc phiện”.

Khắp lãnh thổ chằng chịt những liệu bài rượu, mà oái oăm thay, các tiểu bài này đập vào mắt quần chúng bằng những ngọn cờ ba sọc, cắm một cách kiêu hãnh trên mái nhà. Trên hay dưới lá cờ, có mấy chữ R.A. Đó là chữ tắt ty rượu “Régie alcool”. Trong thời gian ở Pháp ông Nguyễn Thế Truyền nhiều lần đi diễn thuyết về nạn độc quyền nấu và bán rượu của Pháp. Cụ Đặng Hữu Thụ viết về việc này như sau:

Ở Nam Kỳ, rượu được một công ty Pháp độc quyền nấu và do chính phủ bán. Vì độc quyền nấu rượu dành cho các công ty Pháp, nên các người Việt nam phải làm nghề nấu rượu theo phương thức cổ truyền bị phá sản, mất kế sinh nhai. Khi mới thành lập, công ty rượu “Sociéte Francaise des Distillenes de L”lndochine” có số vốn 2 triệu Francs. Vì lợi tức nhiều, các cổ phần tăng gia mau chóng, số vốn tăng lên vào năm 1926 là 33 triệu Francs. Lợi tức năm 1926 của công ty là 21 triệu Francs. Mỗi cổ phần năm 1901 là 500 Francs, đến năm 1926 bán tới 6.600 Francs. Chủ tịch công ty rượu là ông A.R. Fontaine. Các ty rượu mở khắp nơi. Làng nào cũng có. Các quan lại Việt nam được chỉ thị của cấp trên phải làm cho rượu bán chạy, tiêu thụ được nhiều. Quan Phủ, Huyện nào mà trong hạt của mình, rượu bán được nhiều rượu thì chóng được thăng thưởng. Vì vậy, có nhiều vị quan buộc mỗi xã phải tiêu thụ một số lượng rượu nhất định. Việc bắt rượu lậu gây ra nhiều tệ đoan. Nhà đoan đi xét rượu lậu, thấy ở bờ rào hay ở ruộng của người nào, có giấu men rượu và dụng cụ nấu rượu, cùng rượu lậu, là người ấy bị đưa ra toà phạt vạ, phạt tù rất nặng nề, không kể tiền bồi thường thiệt hại cho nhà đoan”. (Sđd, trang 233)

Đặc biệt vào năm 1928, khi có vụ án Đồng Nọc Nạn, tờ báo “La Tribune Indochinoise” có đăng tải vụ này, tường thuật vắn tắt diễn tiến vụ án, kết án gia đình Mã Ngân đã cấu kết với ông Phủ Huấn giựt đất của gia đình Mười Chức. Vụ án đẫm máu đã làm thiệt mạng cò hiến binh Pháp và 3 người trong gia đình Mười Chức. (Xem thêm “Vụ án Đồng Nọc Nạn, sách Nam Kỳ lục tỉnh” cùng tác giả)

Bùi Quang Chiêu: người làm thương mại, văn hoá

Năm 1929, ông Bùi Quang Chiêu cùng luật sư Dương Văn Giáo đi Calcuua dự phiên họp của đảng Quốc Đại Ấn Độ. Nhân cơ hội này, hai ông ghé thăm viện Đại học Tagore Santiniketan, mặc dầu không gặp được thi hào Tagore. Năm sau, thi hào Tagore trên đường đi Nhựt Bổn, có ghé qua Sài gòn, gặp và nói chuyện với ông Chiêu. Nhân dịp này, ông Chiêu có viết nhiều bài báo ca ngợi cả Gandhi lẫn đường lối cai trị của Anh ở Ấn Độ. Trong thời gian từ năm 1932 tới 1941, ông Chiêu hoạt động ở Pháp với tư cách Nghị sĩ Đông Dương trong Thượng hội đồng quốc gia Pháp.

Khi ở vào tuổi 70, có lần ông Chiêu tâm sự với một người bạn thân là “quá tin vào thiện chí của Pháp, nên mới mất nhiều thời gian theo đuổi mục đích”. Năm 1945, theo lịnh của Trần Văn Giàu và Nguyễn Văn Trấn, bọn “Quốc gia tự vệ” tới tư gia ông Chiêu ở Phú Nhuận hạ sát gần trọn gia đình một cách man rợ.

Cho tới nay, ít người được biết đến con người văn hoá của ông Bùi Quang Chiêu. Chọn Học viện Canh Nông để theo học, điều đó biểu lộ chí hướng của Bùi Quang Chiêu, muốn mở mang kinh tế nước nhà. Với bằng kỹ sư Canh nông, khi hồi hương, ông Chiêu được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Nha Canh nông ở Hà Nội. Năm sau (1907), ông được dồi về Nam làm Thanh tra nông nghiệp. Với chức vụ này, Chiêu được Toàn quyền Pháp giao quyền quản lý cơ sở tằm tơ, dệt lụa ở Tân Châu.

Năm 1913, ông Chiêu trở ra Bắc nghiên cứu vấn đề tơ lụa cho chính phủ. Về Nam lần thứ hai, ông Chiêu được chính thức bổ làm Giám đốc cơ sở sản xuất tằm tơ tằm Tân Châu, lợi tức mỗi năm ước chừng 4.000 đồng.

Bùi Quang Chiêu là một trong số các ông Hội đồng quản hạt Nam Kỳ có sáng kiến thành lập trường “Nữ học đường”, sau này là trường Gia Long.

Năm 1923, ông Chiêu lập ra “An Nam học đường” tại Phú Nhuận, Gia Định. Tuy gặp nhiều khó khăn do chính sách hạn chế giáo dục của người Pháp, nhưng An Nam học đường cũng tồn tại đến năm 1928. Trường này góp phần đào tạo một thế hệ thanh niên mới, hiếu học. Hà Huy Tập từ Bắc vào Nam tìm sinh kế, có đến xin dạy tại trường này. Tạ Thu Thâu trước khi qua Pháp du học, cũng là giáo sư của An Nam học đường nhiều năm. Bất cứ người nào làm ăn thành công về vấn đề gì, cũng có người ganh tỵ. Bùi Quang Chiêu không tránh được thông lệ đó. Trên tạp chí “Văn minh” số ra ngày 2-3-1927, tố cáo ông Bùi Quang Chiêu khi đứng ra khai thác và quản lý sỏ tằm tơ Tân Châu, đã nhận được một số trợ cấp rất lớn là 20.000 đồng. Ngoài ra, ông còn thâu huê lợi quảng cáo trên báo “Diễn đàn Đông Dương” hàng năm tới 4.000 đồng.

Kể từ khi có phong trào “Tẩy chay Chinois” vào năm 1918, Bùi Quang Chiêu cũng dấn thân vào công việc kinh doanh, thương mại. Điều đó cũng chứng tỏ ông là người có đầu óc thực tiễn, dứt bỏ quan niệm bảo thủ, khinh khi nghề buôn bán. Sau khi có các bài tố cáo Hoa kiều là đồng minh của Pháp, bóc lột đồng bào, Bùi Quang Chiêu cũng tham dự vào cuộc tranh thương với họ: mở xưởng làm nón ở Sài gòn, lập nhà máy xay lúa ở Chợ Lớn, mở hiệu buôn “Nam Đồng Lợi”.

Có óc tháo vát biết tổ chức lại giao thiệp rộng, được Toàn quyền Đông Dương Van Vollenhoven nâng đỡ, vì là bạn học, nên các cơ sở kinh tế, thương mại của Bùi Quang Chiêu mỗi ngày một phát triển mạnh.

Ông Chiêu có người em ruột là Dược sĩ Bùi Quang Tùng. Hồi năm 1945, khi cuộc kháng chiến chống Pháp mới bùng nổ, chính dược sĩ Tùng lái chiếc xe Traction mở máy điện quang, máy truyền máu trực tiếp ra bưng, để tiếp tế cho Sở Y tế Nam Bộ. Nhờ đó, Sở Y tế đã cứu sống nhiều chiến sĩ bị thương ngoài mặt trận trở về.

Người cộng sản nhìn ở đâu cũng thấy kẻ thù. Những ai yêu nước, không theo kiểu cách của họ đều là phản quốc. Chủ trương chụp mũ, lý luận một chiêu, độc tôn đảng cộng sản, đã làm cho biết bao nhiêu người yêu nước, các nhân lài chết oan.

Thời đại của ông Chiêu, của ông Phạm Quỳnh, chọn đường lối hoạt động chính trị riêng cho mình. Là người của buổi giao thời, cho nên xét theo quan niệm quá khích của cộng sản, thì không ai cảm thông được. Thời thế lúc đó cũng như sau đó, chính cựu Hoàng Bảo Đại cũng tâm sự “nếu không biết khéo léo giao thiệp giữa một trạng thái chính trị do sự chiếm đoạt gây nên, và một trật tự mới, trong đó, kiến tạo một xã hội phồn vinh, trọng nhân phẩm, không thể trong chốc lát mà tạo ra được”. Ai cố gắng giữ hài hoà, sự ôn hoà trong cách thức tranh đấu để đi đến một sự triển khai khôn ngoan và cuối cùng đi tới chỗ hoàn toàn độc lập. Lấy quan điểm bây giờ xét hoàn cảnh xưa có lúc không thực tế. Người quốc gia không kết tội vì không quá tin, không cuồng tín.

Tác giã : Hứa Hoàn

Gia Định Báo – Số 5, năm thứ hai (tháng năm 1866)

200 views

Gia Định Báo (嘉定報) là tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt mới (chữ Quốc ngữ), được sáng lập bởi Trương Vĩnh Ký, được ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn.

Đây là số thứ 5 được phát hành vào tháng năm năm 1866.

Gia-Định-Báo-–-Số-4-năm-thứ-hai-tháng-tư-1866

Lễ tế Nam Giao của Vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 (Phần 2)

266 views

Loạt ảnh quý về lễ tế đàn Nam Giao của vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 do nhiếp ảnh gia Đặng Châu thực hiện. Đây là lễ tế đàn Nam Giao cuối cùng trong thời gian trị vì ngắn ngủi của nhà vua.

Xin đọc phần 1
Xin đọc tiếp phần 3
Xin đọc tiếp phần 4

Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lối đi trung tâm sân của vòng thành thứ ba. Bàn thờ cho các Thiên tài và nhạc cụ cổ xưa được bầy xunh quanh sân. Chúng ta có thể thấy phía xa là Nhà Vàng và Nhà Azure.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Như ảnh trước, đây là góc chụp trái của sân của vòng thành thứ ba.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Ba bước thang dẫn đến sân trên có hình vuôn của vòng thành thứ hai, trên đó “Ngôi nhà màu vàng” được dựng lên. Phía sau, chúng ta có thể thấy mái nhà của “Maison Azurée” được dựng trên gò tròn của vòng thành thứ nhất.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Các bàn thờ sử dụng trong lễ tế đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Mỗi bàn thờ được phụ trách bởi một viên quan do triều đình phân công.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn vũ công bước ra sân tế.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tòa Thanh Ốc, một khu nhà dạng lều trùm bằng vải xanh được dựng lên làm nơi đặt bàn thờ trời trong lễ tế đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Trâu, dê và lợn được xẻ thịt để phục vụ lễ tế ở khu vực Thần Trù, Đông Bắc đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đám rước vua Khải Định tiến về đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Kiệu vua tiến vào đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Cận cảnh kiệu vua. Có thể nhìn thấy khuôn mặt vua khải định sau ô cửa của kiệu.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định 28
Vệ binh hoàng gia cưỡi ngựa, cầm giáo, có nhiệm vụ bảo vệ trị an khi lễ tế được thực hiện.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đám rước của cung đình di chuyển từ Ngọ Môn vào điện Thái Hòa ở Hoàng thành Huế để đón rước vua Khải Định đi thực hiện lễ tế đàn Nam Giao năm 1924.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Kiệu của vua Khải Định được rước từ điện Thái Hòa qua Ngọ Môn để đến đàn Nam Giao ở phía Nam kinh thành Huế.

Gia Định Báo – Số 4 năm thứ hai (tháng tư 1866)

174 views

Gia Định báo phát hành trong phạm vi vùng chiếm đóng của thực dân Pháp lúc đó là 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ.

Nội dung chính của Gia Định báo ban đầu gồm 2 phần: công vụ và tạp vụ. Phần công vụ chuyên về các vấn đề chính trị, pháp lý, công quyền, đăng các công văn, nghị định, thông tư, đạo dụ của chính quyền thực dân; còn phần tạp vụ gồm các tin tức địa phương trên các lĩnh vực: kinh tế, tôn giáo, văn hóa – xã hội…

Đây là số 4 được phát hành vào tháng tư năm 1866.

Gia-Định-Báo-–-Số-4-năm-thứ-hai-tháng-tư-1866

Lễ tế Nam Giao của Vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 (Phần 1)

231 views

Loạt ảnh quý về lễ tế đàn Nam Giao của vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 do nhiếp ảnh gia Đặng Châu thực hiện. Đây là lễ tế đàn Nam Giao cuối cùng trong thời gian trị vì ngắn ngủi của nhà vua.

Xin đọc tiếp phần 2
Xin đọc tiếp phần 3
Xin đọc tiếp phần 4

Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tại đàn tế : bức bình phong nơi cửa phía nam được trang trí bên trên bằng hai con rồng giấy.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Bộ Lễ rước tượng “đồng nhân” vào hoàng cung.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tượng người bằng đồng, dùng trong lễ tế Nam Giao của triều Nguyễn.
Tượng người “đồng nhân” có cầm thẻ bài có khắc 3 chữ. Hai chữ phía trên là “trai giới”, chữ dưới cùng là chữ “bài”: 牌, chữ bài có nghĩa cái biển hay bảng. “Trai giới bài” 齋 戒 牌
Theo điển lệ nhà Nguyễn, bốn ngày trước ngày tế, Bộ Lễ rước tượng đồng nhân vào hoàng cung hoặc trai cung (nhà tại đàn Nam Giao để vua tạm trú chờ cử hành tế lễ) để vua bắt đầu một cuộc trai giới ba ngày, giữ mình trong sạch, chuẩn bị cho lễ tế thiêng liêng. Tượng là hình người mặc lễ phục, đứng thẳng, hai tay chắp lại, cầm thẻ bài có khắc hai chữ “trai giới” . Trong thời gian trai giới, tượng được để trước mặt vua, có công dụng giúp cho vua tập trung nghĩ tưởng điều trong sạch.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Trai cung: sau 24 giờ trai tịnh và hoàn tất nghi lễ tế giao, nhà vua rời Viên đàn trở lại trai cung, tại đây các quan chúc mừng nhà vua đã hoàn thành nghi lễ tế giao và vua lên đường trở về điện riêng của mình (là điện Kiến Trung, trong trường hợp của vua Khải Định và vua Bảo Đại).
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Vua Khải định rời điện Kiến Trung
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tại trai cung, các quan trong lúc chờ để chúc mừng vua đã hoàn tất lễ tế giao. Bìa trái là ông Nguyễn Hữu Bài, thứ ba từ trái qua là ông Hồ Đắc Trung.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Các quan trong lúc chờ vua xuất phát lên đường từ điện Cần Chánh để đến đàn lễ giao.
Bên trái là Tả Vu, bên phải là Tả Dược Lang nối vào Đại Cung Môn nằm ngoài ảnh.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn rước vua Khải Định tử cổng Ngô Môn về phía cung điện Thái Hòa.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn rước vua Khải Định qua đoạn đường Đông Ba dọc theo bờ sông Hương.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đội lính bảo vệ hoàng gia, trong bộ đồng phục đầy màu sắc, đang dừng lại trên một đoạn đường trong thành cổ. Đoàn rước sau khi vượt qua cổng Ngô Môn, đi đến cổng Đông Nam (Mirador VIII) qua đó sẽ ra khỏi Thành cổ. Phía bên trái của hình, chúng ta có thể thấy một nhíp ảnh gia.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đông Nam Môn – Cửa Thượng Tứ (Mirador VIII)
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn Ngự đạo rời Kinh thành Huế qua cửa Thượng Tứ (tức cửa Đông Nam, Mirador VIII theo tên gọi của người Pháp).
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Những người đánh trống trong đội lễ nhạc.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Cổng đàn Nam Giao trước khi đám rước tới nơi.

Hình ảnh : Association des amis du vieux Huê

Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định, tháng 9 năm 1924 (Phần 2)

161 views

Trong 9 năm trị vì ngắn ngủi của mình (1916-1925), vua Khải Định cũng làm được một số việc được người đời nhắc đến, trong đó có chuyến Bắc tuần năm 1918 và cuộc Pháp du rầm rộ năm 1922. Trong những năm còn lại của đời mình, nhà vua cũng còn kịp tổ chức một lễ tứ tuần đại khánh với những nghi thức long trọng nhất.

Đọc phần 1

Tháng 6 Âm lịch năm 1924, Bộ Lại và Bộ Binh dâng lên nhà vua danh sách các Tổng đốc, Tuần vũ, Đề đốc, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh, Quản đạo tại tất cả các tỉnh. Nhà vua áp dấu son lên tên những người được đại diện các tỉnh về dự lễ, thông thường mỗi tỉnh ông chọn một người. Mặt khác, Bộ Lễ chỉ thị cho tỉnh Thừa Thiên mời các quan văn võ đã nghỉ hưu hay đang nghỉ phép có phẩm trật từ hàng ngũ phẩm trở lên cùng những bô lão từ 70 tuổi trở lên dự buổi lễ sẽ diễn ra trong vòng 10 ngày cuối tháng 8 Âm lịch năm 1924. Ở các tỉnh, những thành phần trên sẽ đi theo các quan tỉnh đến vọng cung chúc thọ vua. Phủ tôn nhơn (cơ quan phụ trách các vấn đề trong hoàng tộc) lập danh sách các hoàng thân, tôn tước, công tử, công tôn và tôn thất tham dự buổi lễ.

Trước đó, bộ Lễ cũng đã thông tri cho quan lại thuộc các tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, yêu cầu chọn những người có khả năng ca hát và tổ chức các trò chơi truyền thống, báo về bộ để tấu trình nhà vua biết. Hai tháng sau, bộ Lễ tập trung các viên chức của bộ, các nhạc công, ca công, tập luyện để biểu diễn trong buổi lễ tổ chức tại điện Thái Hòa và buổi đại yến tại điện Cần Chánh. Năm ngày trước chính lễ, Bộ Lễ hướng dẫn những người này đến Duyệt Thị đường (nhà hát trong cung điện) để tổng dượt trước sự chứng kiến của nhà vua.

Tháng 8 Âm lịch, Bộ Lễ ra thông báo cho các tòa án bản xứ biết là không được tuyên án trong 15 ngày, gồm 10 ngày trước buổi lễ, ngày lễ chính và 4 ngày sau buổi lễ. Các công sở và nhà dân treo cờ và thắp đèn suốt 5 ngày kể từ hai ngày trước buổi lễ. Bộ này cũng yêu cầu Khâm Thiên giám chọn hai ngày tốt trong tháng 8 để các hoàng thân, tôn tước thay mặt nhà vua làm lễ Kỳ cáo (công bố lễ sẽ diễn ra) ở Nam giao, Triệu miếu, Thái miếu, Hưng miếu. Riêng vua Khải Định sẽ đích thân hành lễ tại Thế miếu (nơi thờ các vua triều Nguyễn). Sau đó, vào một ngày không định trước, nhà vua sẽ thân hành đến chào các bà thái hậu.

Lễ vật do các quan lại ở Huế và các tỉnh dâng lên vua được bộ Lễ tập trung, kiểm soát trước khi chuyển đến địa điểm hành lễ. Trước cửa Ngọ môn, người ta dựng lên một “chánh lâu” (khán đài chính) là nơi để lễ vật của hoàng thái hậu, phủ tôn nhơn, văn võ đại thần, các cung phi, công chúa, Phụ lộc phu nhơn (bà ngoại vua Khải Định), vợ và con các hoàng thân, thích lý (bà con của mẹ vua) và phu nhơn các văn võ đại thần. Ngoài chánh lâu, còn có:

– Sáu đắc lâu (khán đài phụ) chứa lễ vật của Tả trực, Hữu trực, Tả kỳ, Hữu kỳ, Bắc kỳ và Thừa Thiên.
– Hai trường bằng (khán đài rộng) là nơi tập hợp các thành viên của phủ Tôn nhơn, các quan lại trong triều.
– Một khán đài trước Phu Văn Lâu được dựng lên cho công chúng đứng xem lễ
– Một thủy lâu và thủy bằng (khán đài nổi trên sông) trước Nghinh hương đình (bến thuyền của vua)

Mười ngày trước lễ, lúc 6 giờ sáng, người ta bắn 9 phát súng thần công, cờ treo khắp nơi, và đèn đuốc thắp sáng. Một ngày trước lễ, nhà vua cùng các hoàng thân, văn võ đại thần đi xem các khán đài.

Cuối cùng thì buổi lễ cũng đã diễn ra long trọng tại điện Thái Hòa. Nhân dịp này, vua Khải Định ban các ân chiếu phong thưởng những người có công và mở tiệc khoản đãi Toàn quyền Đông Dương, Khâm sứ Huế cùng các viên chức Pháp khác. Tối đến, vua Khải Định cùng các hoàng thân và văn võ đại thần ra Ngọ môn xem các trò chơi và đốt pháo bông.

Tham dự bữa tiệc ở điện Cần chánh có các hoàng thân, văn võ đại thần cùng tôn tước có phẩm trật từ tam phẩm trở lên. Các cung phi đời trước, cung phi tại triều, vợ và con gái các hoàng thân, vợ các đại thần dự yến phía sau điện Cần chánh, trong các bộ thành phục (áo dài có tay rộng). Buổi chiều, tiệc lại được dọn ra ở Duyệt thị đường dành cho các tôn tước từ tứ phẩm trở xuống, các công tôn, công tử, tôn thất, thích lý và quan lại đang làm việc tại Huế có phẩm trật từ tứ phẩm đến thất phẩm, cùng các quan đã về hưu từ ngũ phẩm trở lên. Ba ngày sau buổi lễ, các bô lão từ 70 tuổi trở lên được mời dự tiệc tại Thừa Thiên phủ.

Cũng cần nhắc lại là khoảng nửa năm trước cuộc lễ, Khâm sứ Huế Pasquier đã gửi cho Cơ mật viện một văn thư loan báo việc Toàn quyền Đông Dương Merlin quyết định gửi tặng vua Khải Định một con bạch tượng (voi trắng) do các thợ săn bắt được ở Đắc Lắc. Trong thư, có đoạn viết: “Quan Toàn quyền Đông Dương rất sung sướng được tặng hoàng đế kỷ vật này khi Ngài bắt đầu vào tuổi 40, và đối với ông, việc bắt được trên đất An Nam và chuyển giao lại cho triều đình một con bạch tượng trong năm nay chỉ có thể là một điều hạnh phúc đối với hoàng đế và nhân dân của ngài…”.

Tại buổi lễ chính, toàn quyền Merlin đích thân tham dự, hai bên trao đổi với nhau những bài diễn văn đầy tính ngoại giao. Trong sớ tấu, chỉ dụ về buổi lễ, người ta nói nhiều đến sự giản dị, tiết kiệm, song nếu những gì thật sự diễn ra đúng với chương trình đã vạch thì kinh phí bỏ ra không phải là nhỏ.

Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Cung đình Huế bên dòng sông Hương
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Khải Hoàn Môn và khán đài
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Một đoàn hát tuồn Nam Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Vũ công từ một nhóm dân tộc thiểu số
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Nhóm vũ công và hát của vùng Vinh và Thanh Hóa
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Cổng Ngọ Môn
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Các quan lại đang chờ ở điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Các quan lại đang quỳ ở điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Các quan lại đang quỳ ở điện Thái Hòa
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Vua Khải Định dùng bửa ăn trưa ở điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Tiệc dành cho các quan ở điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Điện Thái Hòa
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Thuyền của các Thái Hậu và Hoàng Hậu
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Thái tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại tương lai)

Tác giã bài : Lê Nguyễn
Hình của ông Ngô Văn Đức Vincent de Bordeaux

Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định, tháng 9 năm 1924 (Phần 1)

190 views

Vua Khải Định sinh năm 1885, tính đến năm 1924 là đủ 40 tuổi (ta). Song trước đó một năm, triều đình đã chuẩn bị dần lễ mừng tứ tuần đại khánh của ông

Ngày 17/5/1923, các thành viên Phủ Tôn nhơn (đúng ra là Phủ Tông nhơn) cùng văn võ đại thần dâng lên nhà vua một sớ tấu nhắc lại những đại lễ tứ tuần khánh tiết (mừng 40 tuổi) được tổ chức trọng thể vào các đời vua Minh Mạng (năm 1830), Thiệu Trị (năm 1846), Tự Đức (năm 1868), và ân cần “lưu ý” nhà vua rằng ông đang ở tuổi 39, chỉ còn một năm nữa để tổ chức lễ mừng 40 tuổi.

Tất nhiên là tờ tấu này được nhà vua hoan hỉ chấp nhận. Ông ban hành một chỉ dụ nêu lên sự cần thiết phải thực hiện việc này vì từ 50 năm qua, chưa từng có một lễ tứ tuần đại khánh nào được tổ chức (vì lẽ dễ hiểu là các vua sau vua Tự Đức, không có ai ở ngôi đến 40 tuổi cả). Tuy nhiên nhà vua cũng lưu ý là ngân quỹ năm 1924 không dồi dào như trước (do Pháp khống chế mọi khoản chi của triều đình), mặt khác nhiều lăng miếu đang xuống cấp, đang cần tiền tu sửa, nên phải tiết kiệm kinh phí trong buổi lễ.

Ngày 1/6/1923, Cơ mật viện chuyển qua tòa Khâm sứ Huế một bản sao tờ sớ tấu về lễ tứ tuần đại khánh của vua Khải Định để xin ý kiến. Trong thư phúc đáp, Khâm sứ Pasquier tỏ ý tán thành việc tổ chức lễ, nhưng cũng nhắc khéo với Cơ mật viện những lời lẽ của vua Khải Định muốn cho buổi lễ diễn ra trong sự giản dị và trang trọng, phù hợp với nghi thức của tổ tiên xưa. Mặc dầu lễ tứ tuần đại khánh sẽ diễn ra vào năm 1924, nhưng chương trình chi tiết buổi lễ đã được triều thần soạn thảo từ tháng 10/1923, căn cứ vào những gì đã diễn ra trong lễ tứ tuần của vua Tự Đức tổ chức vào năm 1868.

Xin xem phần 2 tiếp theo

Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Trên sân điện Thái hòa
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Điện Thái hòa
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Sân điện Cần Chánh trang hoàng trong dịp lễ mừng
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Gian nhà trưng bày các lễ vật của các quan tỉnh dâng tặng vua Khải Định vào dịp lễ mừng thọ vua 40 tuổi (Tứ Tuần Đại Khánh)
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924

Tác giã bài viết : Lê Nguyễn

Nhà dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

232 views

Với kiến trúc nhà dòng Saint Paul, chúng ta tự hào rằng tại Sài Gòn năm 1864 đã có một công trình kiến trúc kiên cố đầu tiên lại do chính kiến trúc sư người Việt thiết kế và xây dựng.

Khi đi ngang ngôi nhà trắng tại số 4 Tôn Đức Thắng, quận 1 (trước là Cường Để) mọi người chỉ biết đây là một nữ tu viện. Tòa nhà này trước kia còn được gọi là “Nhà Trắng”, không phải vì sơn toàn màu trắng như tòa Bạch Ốc (White House) mà vì ngôi nhà này được xây dựng và làm chủ bởi những nữ tu dòng Saint Paul de Chartres (Thánh Phaolô thành Chartres) “trinh bạch từ linh hồn đến những chiếc áo dòng trắng toát”. Trước năm 1975, trong nhà dòng này có một trường tư thục với các lớp từ mẫu giáo tới tú tài với số lượng 1.600 học sinh (có ký túc xá cho học sinh nội trú).

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Kiến trúc ban đầu của Dòng Thánh Phao Lô Sài Gòn (1866)

Sau năm 1975, có một thời gian là trường sư phạm mầm non. Nếu ai có dịp vào đây sẽ choáng ngợp với không gian rộng rãi, khoáng đãng với kiến trúc ba khối nhà: cô nhi viện, nhà nữ tu ở và khu nhà nguyện. Khu nhà nguyện có thiết kế đặc biệt, nhìn từ trên cao xuống rất giống cây thánh giá, bên trong có thêm nhiều cột đỡ vững chãi, phía trước là một sân cỏ rộng với tượng thánh bổn mạng của dòng Phaolô.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Một thiết kế theo nhận định của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ: “Một giáo đường huy hoàng với đường nét thẩm mỹ lối Gothique. Các khu vòm hình liềm cung, đua nhau vượt lên tới 20 thước, không một chút chạm trổ hoa hòe… Làm cho khách tưởng nhớ đến giáo đường “Sainte Chapelle”… Cảm tưởng nhẹ nhàng vì sự thành công của vị kiến trúc sư làm cho ai vào đó cũng cảm thấy thoát tục”.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Kiến trúc sư “thầy Học”

Theo các tài liệu lịch sử truyền giáo, vào ngày 20-5-1860, các nữ tu dòng Thánh Phaolô gốc ở thành Chartres (Soeurs de Saint Paul de Chartres) từ Hong Kong đặt chân đến Sài Gòn. Họ cùng tạm định cư tại một căn nhà nhỏ vùng chợ cũ cùng các nữ tu dòng kín (đến Sài gòn năm 1861). Vào tháng 9-1862, mẹ bề trên dòng thánh Phaolô Benjamin khởi công xây cất nhà giám tỉnh tại khu đất Đường Thành (Rue de la Citadelle). Toàn bộ công trình này hoàn thành vào ngày 10-8-1864. Và trong bản thảo viết tay của mẹ Benjamin chỉ ghi lại tên kiến trúc sư là Thầy Học.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Không ảnh Dòng Thánh Phaolô năm 1929

Lúc ấy các bà phước chẳng biết kiến trúc sư “Thầy Học” là ai. Không biết trước đây đã có tài liệu nào xác minh Thầy Học là ai chưa. Riêng cụ Vương Hồng Sển trong quyển Sài Gòn năm xưa in năm 1958 cho biết: “Tương truyền nhà lầu cao lớn nơi đây là do ông Nguyễn Trường Tộ năm xưa đứng coi xây cất”. Vậy Thầy Học hay ông Nguyễn Trường Tộ là người thiết kế, xây cất tòa nhà này? Trong tạp chí Văn Đàn (số 4-1961, Sài Gòn) ông Phạm Đình Khiêm đã công bố nhiều tài liệu trong thư khố tu viện đã chứng minh Thầy Học chính là ông Nguyễn Trường Tộ.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Không ảnh Dòng Thánh Phaolô năm 1929

Trước hết, các soeur gọi ông Nguyễn Trường Tộ là Thầy Học vì ông đã từng làm thầy dạy học cho nhà chung. Cách gọi này đã được ghi một cách chính thức trong một tập tài liệu viết tay tên là La Création des Établisements des Soeurs de Saint Paul de Chartres en Extrême-Orient (Ký sự về việc thành lập các cơ sở dòng Nữ tu thánh Phaolô thành Chartres tại Viễn Đông) do mẹ Benjamin, người sáng lập “Nhà Trắng” soạn thảo.

“… Được khu đất tốt đẹp như vậy lại chán cảnh tạm bợ nhiều khi còn tốn kém hơn, bà bề trên bèn quyết định xây nhà vững chắc. Bà bàn tính công việc xây cất ấy với Đức cha Gauthier và cha Croc, các vị ấy đồng ý rằng khi trở về đàng ngoài, sẽ để Thầy Học ở lại điều khiển các công tác”.

Trong ký sự còn xác định: “Ông là một giáo hữu Đàng-Ngoài”. Điều này đã xác nhận thời gian sau khi thôi học, ông Nguyễn Trường Tộ mở trường dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ Hán trong nhà chung Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Tại đây, năm 1846 ông được giám mục người Pháp tên là Gauthier dạy học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu biết về các môn khoa học thường thức của phương Tây. Cuối năm 1858, ông đi cùng Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn “phân sáp” (sáp nhập hai, ba gia đình Công giáo vào trong một làng không Công giáo, chứ không cho ở tập trung như trước). Đầu năm 1859, Giám mục Gauthier đưa ông sang Hương Cảng (Hong Kong) và Pháp. Trong tập Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ do con ông là Nguyễn Trường Cửu ghi chép giai đoạn ông Nguyễn Trường Tộ đi Pháp như sau: “Rồi sang nước đại Pháp, ở kinh thành Ba Lê, là kinh đô, đi du lịch xem chính trị, học hành, kỹ nghệ, phong tục nước đại Pháp. Khi nghe “lặng sáp” rồi (ý nói chấm dứt tình trạng phân sáp như nói ở trên – LVN) thì Đức cha Hậu lại đem ông Tộ và các cụ về nhà chung”.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Vẫn theo ông Cửu thì chính mẹ bề trên phải thỏa thuận với Đức cha Hậu để xây cất Nhà Trắng. Câu hỏi đặt ra là tại sao mẹ Bejamin lại chọn Nguyễn Trường Tộ mà không chọn những kiến trúc sư Pháp vì chính Nguyễn Trường Tộ đã chứng minh được với mẹ bề trên và Đức cha là một người có khả năng về kiến trúc khi về nhà chung (Xã Đoài) đã “làm lại nhà hai tầng cho Cố giữ việc ở và nhà Tràng Latin ba tầng hình chữ thập gọi là “nhà tây” cho học trò Latin ở và học cùng làm nhà thờ Đức Bà riêng cho học trò, theo mẫu nhà thờ Đức Bà hiện ra thành Lộ Đức (Lourdes) đẹp lắm và ở ngoài xây tường cải hoa lộng, giống các sắc hoa tây nam rực rỡ xanh tươi vui mắt, rầy (bây giờ) hư rồi. Đoạn tậu vườn làm nhà ở phía bắc nhà chung, rồi vào Gia Định làm sở nhà bà phước cho các người nhà mụ Tây ở…”.

Theo tác giả Trương Bá Cần, trong các công trình do Nguyễn Trường Tộ xây cất ở Xã Đoài, nay chỉ còn lại nhà tràng Latin (tức tiểu chủng viện) ba tầng, hình chữ thập gọi là “nhà Tây”, chứ tòa giám mục và các nhà phụ thuộc đều đã bị bom Mỹ đánh sập.

Dấu ấn kiến trúc tại Sài Gòn

Riêng Giám mục Gauthier thường gọi Nguyễn Trường Tộ bằng danh hiệu “kiến trúc sư”, mặc dù ông Tộ chưa một ngày học qua ngành kiến trúc như trong thư gửi Hội Truyền giáo nước ngoài ở Paris (đề ngày 1-1-1870), Giám mục Gauthier viết: “… Người ta quen gọi là kiến trúc sư vì ông ta (chỉ ông Tộ) đã xây ngôi nhà ba tầng của các nữ tu Sài Gòn, một nhà nguyện và một ngọn tháp cao nổi bật…” (dẫn lại theo Nguyễn Bá Cần). Có lẽ do thiên bẩm, óc quan sát, thực nghiệm khi được ra nước ngoài trước kia, ông có ở Hong Kong ít lâu và trong thời gian ngắn ngủi tại thuộc địa này của người Anh, ông đã thấy được cách thức và thể loại kiến trúc của châu Âu. Trước đó, ông đã được ngợi ca là một kiến trúc sư tài năng trong quyển II, trang 731 của tạp chí La Semaine religieuse (Paris, năm 1867):

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Người Đông phương ở trong phái ủy thì có hai ông quan và một người kiến trúc sư Công giáo, có trí nhớ lạ lùng, tài năng lỗi lạc và chính là người đã xây giáo đường của ta ở Sài Gòn”. Hai ông quan là Nguyễn Tăng Doãn và Trần Văn Đạo, còn người kiến trúc sư tài năng lỗi lạc ấy chính là ông Nguyễn Trường Tộ. Linh mục Le Mée (thừa sai Paris) trong một bức thư đăng trên tập san Missions Catholiques năm 1876 có nói về công việc ấy như sau: “Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc đã đem theo một nho sĩ Bắc Kỳ, tên là Lân (tức Nguyễn Trường Tộ). Với trí thông minh hiếm có, lại được gợi ý và được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và tận tụy của Giám mục Gauthier, nho sĩ Bắc Kỳ này, vì tình yêu Thiên Chúa, đã nhận đứng ra đốc suất công việc. Thời đó ở Sài Gòn chưa có một công trình nào làm kiểu mẫu. Với đề án của tu viện và nhà nguyện do nữ tu Benjamin cung cấp, ông ta đã phác họa được một họa đồ phối cảnh chung và thực hiện công trình nhờ sự cộng tác của các công nhân người Việt. Chính ông đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom công việc một cách rất cẩn thận và chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ cũng như chưa có nhà thầu…”.

Tác Giã : Lê Văn Nghĩa

Những bức ảnh quý hiếm về nền giáo dục ở Tonkin (Bắc Kỳ)

579 views

Hãy cùng chúng tôi khám phá vài bức hình rất hiếm của nền giáo dục ở Tonkin (Bắc Kỳ) trong thời kỳ Pháp thôn tính Việt Nam.
Những bức ảnh quý giá này (không tác giả) được giới thiệu với công chúng lần đầu tiên tại triển lãm thuộc địa Đông Dương ở Paris vào năm 1931.

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Tiểu học Nữ sinh Hà Nội - Bệnh Viện
Trường Tiểu học Nữ sinh Hà Nội – Bệnh Viện

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Sư phạm Nữ sinh người Việt tại Hà Nội 0
Trường Sư phạm Nữ sinh người Việt tại Hà Nội 0

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Pugnier Hà Nội
Trường Pugnier Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường dậy tiếng Trung Hoa
Trường dậy tiếng Trung Hoa

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội
Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Cao đẳng Tiểu học Nữ sinh Hà Nội
Trường Cao đẳng Tiểu học Nữ sinh Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Cao đẳng Tiểu học Hà Nội
Trường Cao đẳng Tiểu học Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường cao đẳng công nghệ ở Hải Phòng
Trường cao đẳng công nghệ ở Hải Phòng

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Amiral Courbet ở Hà Nội
Trường Amiral Courbet ở Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Lớp thủ công mỹ nghệ 1
Lớp thủ công mỹ nghệ

Nền giáo dục ở Tonkin - Lớp thủ công mỹ nghệ 0
Lớp thủ công mỹ nghệ

Nền giáo dục ở Tonkin - Lớp học chữ Nôm
Lớp học chữ Nôm

Nền giáo dục ở Tonkin - Chơi đánh đáo
Chơi đánh đáo

Nhớ lại Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi giờ đã thành dĩ vãng

2438 views

Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi xưa còn có tên là nghĩa trang của người Châu Âu (Cimetière Européen) hay nghĩa trang Massiges hoặc Đất thánh Tây theo cách gọi của người Sài Gòn. Nghĩa trang này được xây dựng vào năm 1859 ở bên mặt đông đường National nay là Hai Bà Trưng với tổng diện tích là 7,5 ha. Lúc đầu là nơi chôn cất các binh lình bộ binh, thủy thủ và sĩ quan Pháp trong cuộc chiếm đóng Sài Gòn. Ngay từ đầu lúc thành lập nó được hải quân Pháp quản lý.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Những người chiếm đóng đầu tiên được chôn ở đây gồm có đại úy thủy quân lục chiến Nicolas Barbe (chém đầu tại chùa Khải Tường vào 07 tháng 12 năm 1860), Trung tá Jean-Ernest Marchaisse (bị giết tại Tây-Ninh vào ngày 14 Tháng Sáu năm 1866) và đại úy Savin de Larclauze (cũng thiệt mạng tại Tây Ninh trên 07 tháng 6 năm 1868); nhà thám hiểm sông Cửu Long Captain L Doudart de Lagrée (qua đời ngày 12 tháng ba năm 1868 trong khi dẫn đầu một cuộc khảo sát địa lý và thăm dò của sông Mekong sang Lào và Trung Quốc) và Trung úy Francis Garnier (chết ngày 21 Tháng 12 năm 1873 tại Hà Nội). Lúc đó (năm 1895) nghĩa trang chứa 239 ngôi mộ quân sự.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Năm 1870 nghĩa trang được đổi tên là vườn của cha Ormoy tức là bác sĩ trưởng Lachuzeaux d’Ormoy (1863-1874) dùng ý tưởng đưa các bệnh nhân khó bảo nhất đến đây để chăm sóc các luông cỏ và vườn hoa, cuối thập niên 1860, dân thường bắt đầu được chân cất ở đây vì trong những năm đầu của thuộc địa bởi tỷ lệ tử vong cao do các bệnh nghiêm trọng đặc hữu như dịch tả, sốt rét, ký sinh trùng đường ruột và kiết lỵ. Một báo cáo năm 1889 ghi nhận rằng “Sự tồn tại trong thuộc địa của chúng ta về dịch bệnh khủng khiếp mà tất cả đã gây tổn thất cho sinh mạng chúng tôi hơn trên các chuyến đi biển”, điều thú vị, nghĩa trang của người Châu Âu có chứa một số lượng tương đối lớn các ngôi mộ với các tên người Đức, phản ánh ưu thế kinh doanh của thương gia Đức ở Sài Gòn, đặc biệt là trước năm 1870. Trong một góc của nghĩa trang này cũng có một nhóm các ngôi mộ thuộc về một nhóm thủy thủ người Nga bị thương, đã chạy trốn đến vịnh Cam Ranh vào năm 1894 sau thất trận trong trận Tsushima và sau đó đã chết trong bệnh viện quân sự ở Sài Gòn.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Vào khoảng năm 1870, một Nghĩa trang Việt Nam nhỏ (Cimetière Anamite hay Cimetière Indigène) được mở ngay tại phía bắc của nghĩa trang của người Châu Âu . Đường phân chia hai nghĩa trang này – là đường Hiền Vương sau này – được đặt tên ngắn gọn rue des Deux cimetières (đường hai nghĩa trang) trước khi nó trở thành rue Mayer vào cuối năm 1880, từ cuối thế kỷ 19, các tiêu chuẩn về vệ sinh được cải thiện và thuộc địa phát triển thịnh vượng, nghĩa trang của người Châu Âu đã trở thành nơi an nghỉ cuối cùng của sự lựa chọn cho các chính trị gia thuộc địa của Sài Gòn và các quản trị viên, trong số có kiến trúc sư Marie-Alfred Foulhoux (1840-1892) và thị trưởng thành phố Sài Gòn Paul Blanchy (1837-1901).
Ngày 14 Tháng 12 năm 1912, sự thay đổi quy định này của nghĩa trang của người Châu Âu thành một nơi chôn cất cho tầng lớp thượng lưu thuộc địa được nhắc trong một báo cáo quan trọng của tờ Courrier Saigonnais.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Số lượng ngày càng tăng của những ngôi mộ hoành tráng thuộc các chức sắc cao trong khi các ngôi mộ của nhiều người lính và thủy thủ bị bỏ phế cỏ mọc um tùm. Đã có những lời chỉ trích việc “không cữ kiêng” khai quật các ngôi mộ của người nghèo trong thời hạn bảy hay tám năm và di dời ở một nơi khác, có lẽ là để nhường chỗ cho những người giàu có và nổi tiếng.
Đầu thế kỷ 20, nghĩa trang được chia cắt thành những con đường nhỏ có trồng cây và kiểng do các nhân viên của thào cầm viên Sài Gòn. Nghĩa trang lúc này được bao bọc bởi bốn bức tường vôi cao 2m5 với cổng chính ở phía nam đường Legrand de la Liraye. Cổng chính này nằm đối diện trực tiếp cuối phía bắc của đường Bangkok, và sau năm 1920, khi đường Bangkok được đổi tên thành đường Massiges, nghĩa trang được biết đến với cái tên mới là nghĩa trang đường Massiges.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Năm 1880 nghĩa trang được chuyển cho văn phòng bảo tồn nghĩa trang thuộc một phần của văn phòng sở vệ sinh Sài Gòn có trụ sở số 67 đường Massiges (hiện nay là đường Mạc Đĩnh Chi)
Nhiều nhân vật nổi tiếng của thời kỳ thuộc địa sau đó đã được chôn cất ở đây, bao gồm cả sĩ quan hải quân Pháp Alain Penfentenyo de Kervéréguin (mất 12 tháng 2 năm 1946), nhà truyền giáo Grace Cadman (qua đời ngày 24 tháng 4 năm 1946) và nhà báo và chính trị gia Henri Chavigny de Lachevrotière (qua đời ngày 12 tháng 1 1951). Tuy nhiên, bởi tất cả các tài khoản, ngôi mộ ấn tượng nhất của thời gian này là lăng mộ lớn của Nguyễn Văn Thinh (qua đời ngày 10 tháng 11 năm 1946), Chủ tịch đầu tiên của thời tự trị Cộng hòa Nam Kỳ (République de Cochinchine Autonome, 01 tháng 6 1946- 8 Tháng 10 năm 1947).

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Vào tháng Ba năm 1955, đường Massiges được đổi tên thành đường Mạc Đĩnh Chi từ đó nghĩa trang này được mang tên nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, trong hai thập kỷ tiếp theo, thế hệ của các chính trị gia cao cấp, các nhà lãnh đạo quân sự và các thành viên nổi bật khác của xã hội miền Nam Việt Nam đã chôn tại đây cùng với một số lượng nhỏ của người nước ngoài nhưlàm việc cho bài Time và Newsweek như phóng viên François Sully (qua đời vào tháng Hai 1971).
Tuy nhiên, có lẽ người nổi tiếng nhất của thời kỳ này là Tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm và em trai của ông là giám đốc cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, người đã bị ám sát vào ngày 02 tháng mười một năm 1963, ngoài ra nơi đây còn có mộ của thống tướng Việt Nam Cộng Hòa Lê Văn Tỵ, mộ của chuẩn tướng Lưu Kim Cương chết trong trận Mậu Thân, mộ của hai học sinh một theo đạo Phật, một theo đạo Thiên chúa chết trong vụ xung đột giáo phái năm 1964.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Năm 1971, theo Arthur J Dommen (Tác giả cuốn Kinh nghiệm Đông Dương của Pháp và Mỹ: Chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản tại Campuchia, Lào và Việt Nam, 2001) vào thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu một phần bức tường phía tây bị sụp mà theo lời của một nhà tiên tri Cao Đài nói là ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về cái chết của ông Diệm và phải làm gì đó để giải thoát cho linh hồn ông Diệm, tuy nhiên, câu chuyện ma về nghĩa trang chỉ thực sự bắt đầu lan truyền rộng rãi sau năm 1983, khi chính quyền thành phố quyết định ngừng hoạt động nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi và chuyển đổi nó thành công viên Lê Văn Tám.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Sự giải tỏa nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi nằm trong một dự án lớn bao gồm việc giải tỏa nghĩa trang quân đội Pháp tại ngã tư Bảy Hiền và Lăng Pigneau de Béhaine gần sân bay Tân Sơn Nhất, cũng như các nghĩa trang cũ của Pháp ở Vũng Tàu. Những người có thân nhân chôn trong các nghĩa trang được hướng dẫn để sắp xếp cho việc cải táng trong vòng hai tháng. Còn lại nếu không có người nhận thì được hỏa táng và di dời nơi khác. Còn lại hài cốt của những người lính Pháp được đưa về Pháp chôn cất ở Fréjus, nơi một đài tưởng niệm được dựng nêu ra tôn vinh họ. Trong thời gian khai quật để di dời các ngôi mộ tại đây người ta đã phát hiện tấm bia mộ của tướng Barbe là tấm bia mộ của Phạm Đăng Hưng được khắc phía sau.
Công viên Lê Văn Tám thay thế cho Nghĩa trang Mạc Đình đã trở thành một nơi phổ biến cho hoạt động giải trí, vẫn còn nhiều người dân địa phương mê tín dị đoan người không muốn đến đó vì lịch sử trước đó.

@ Photos : Frederick P Fellers (Indianapolis, USA)

Nơi bán sách và nghề in sách mọc bản ở Hà Nội đầu thế kỷ XX

720 views

Hà Nội xưa nay luôn tự hào là trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước, nổi tiếng với 36 phố phường. Quả đúng như Lý Thái Tổ đã từng nhận xét khi dời đô về Hà Nội: “… Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi Kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời…” để rồi đặt cho kinh thành cái tên thật ý nghĩa – Thăng Long. Sự hội tụ tinh hoa ấy không chỉ biểu hiện ở địa linh nhân kiệt, mà còn có thể thấy ngay từ tên gọi phố phường Hà Nội. Thật hiếm có đất nước nào trên thế giới lại có Thủ đô độc đáo như Hà Nội: mỗi phố phường đều gắn liền và là kết tinh của một nghề truyền thống: Hàng Lược, Hàng Hài, Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Giấy, Hàng Gai, Hàng Bè, Hàng Bột, Hàng Thiếc, Hàng Khay, Hàng Thùng, Hàng Quạt, Hàng Bạc, Hàng Than, Hàng Da, Hàng Mành, Hàng Nón, Hàng The, Hàng Nhiễu, Hàng Giày, Hàng Thuốc Bắc, Hàng Vải, Hàng Chỉ, Hàng Mã, Hàng Mụn, Hàng Mã Vĩ, Hàng Bún, Hàng Trống, Hàng Đậu, Hàng Mắm, Hàng Muối, Hàng Chĩnh, Hàng Vải Thâm… Kinh đô Thăng Long đồng thời cũng là nơi tiêu biểu cho truyền thống văn hiến của dân tộc. ấy vậy mà lần tìm trong số mấy chục “hàng” của Hà Nội, không thấy có “hàng” nào có tên hay mang bóng dáng của việc in sách và bán sách.

Giờ đây, chúng ta đang cận kề với thế kỷ XXI. Người ta có thể mua sách ở bất kỳ một hiệu sách lớn, nhỏ nào trên các đường phố Hà Nội bởi vì giờ đây các ấn phẩm ngút ngàn “trên trời, dưới sách”. Thế ở đầu thế kỷ XX, người ta mua sách ở đâu ? Hà Nội bấy giờ có những nơi nào bán và in sách ?
Trong những trang sách viết về Hà Nội xưa, cụ Hoàng Đạo Thúy – một người rất am hiểu về Hà Nội cũng đã từng băn khoăn một điều là “đất văn vật mà lại không có lấy một nơi gọi là phố Hàng Sách”. Đối với một đất nước” vốn xưng nền văn hiến đã lâu” như nước ta, điều này kể ra cũng thật đáng tiếc. Song như thế không có nghĩa là Hà Nội hồi đầu thế kỷ XX không có những điểm bán sách. Điều này ít nhiều liên quan tới nghề in sách mộc bản của ta.
Trong lịch sử xưa nay, nghề in với văn hóa của một đất nước bao giờ cũng có mối quan hệ mật thiết. Trước khi văn minh phương Tây cùng kỹ thuật in lối mới (hoạt tự) xâm nhập vào Việt Nam thì nền văn hóa xã hội Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng từ nghề in mộc bản. Với đặc điểm của nền văn hóa Nho giáo, lấy chữ Hán làm văn tự chính thống cùng chế độ giáo dục khoa cử, nghề in mộc bản thực sự trở thành một phương tiện đắc lực phục vụ đời sống chính trị, xã hội của dân tộc. Thực ra, nghề in mộc bản xuất hiện ở Việt Nam từ khá sớm. Nó gắn liền với việc khắc in những bộ kinh sách để truyền bá đạo Phật khi Phật giáo thịnh hành ở Việt Nam thời Lý- Trần. Song phải đợi đến khi Thám hoa Lương Như Hộc triều Lê, sau hai lần đi sứ (Thái Hòa1-1443 và Thiên Hưng 1-1459) đã đem nghề in mộc bản của Trung Quốc truyền cho dân làng mình thì bấy giờ nghề in sách của ta mới có bước phát triển rõ rệt và dần được truyền đi rộng khắp. Ban đầu phạm vi in ấn hết sức hạn hẹp (chỉ trong khu vực triều đình và nhà chùa. Hơn nữa, kinh phí cũng hết sức tốn kém). Có những khi triều đình phong kiến quản lý việc in ấn khá nghiêm ngặt. Thời Lê, ngay cả những kinh sách đạo Phật, đạo Lão cũng như thơ văn mà triều đình không cho phép thì người dân không được khắc in. Hay như dưới thời Minh Mệnh, người nào muốn in ấn phải có đơn gửi lên cấp quản lý chuyên trách. Tuy vậy, nghề in sách vẫn không vì thế mà không có bước phát triển. Đặc biệt vào cuối thế kỷ XIX, khi nền kinh tế hàng hóa nảy nở, mạng lưới giao thông phát triển, các đô thị lớn nhỏ xuất hiện thì đời sống xã hội Việt Nam có những biến chuyển nhanh chóng, cùng với nhu cầu về đời sống tinh thần của người dân đã khiến cho nghề in nở rộ và trở thành một nghề kinh doanh trong xã hội. Các cơ sở tư nhân mọc lên khắp nơi. Chính vì thế, số thư tịch của ta hiện còn, phần lớn được làm ở giai đoạn này.
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam lại có những chuyển biến quan trọng. Văn minh phương Tây xâm nhập, đã làm đảo lộn những khuôn phép mà triều đình phong kiến Việt Nam cố công duy trì bấy lâu nay. Các giá trị văn hóa Nho giáo không còn được tôn sùng như trước nữa. Nó đã bị lung lay, khô cứng và trở nên méo mó đến thảm hại:

Nào có ra gì cái chữ Nho
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co….

Lúc này cùng với bước chân xâm lược của thực dân Pháp, một số sản phẩm của nền văn minh hiện đại bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam. Trong đó phương thức in bằng con chữ rời đã có những ảnh hưởng lớn tới việc in ấn xuất bản của Việt Nam. Như trên đã nói, nghề in mộc bản gắn liền với văn hóa chữ Hán và giáo dục khoa cử. Thế nhưng ở vào thời điểm nền Nho học nước nhà bắt đầu suy thoái, thêm nữa lối in chữ rời hết sức tiện lợi đã xuất hiện song nghề in mộc bản không phải đã mất đi vai trò của mình. Không những thế lại còn xuất hiện thêm nhiều cơ sở in ấn mới. Tại sao lại như vậy ? Điều này hoàn toàn được quyết định bởi những nguyên nhân lịch sử xã hội:
Sự lỏng lẻo về vương quyền bên cạnh sự biến chuyển dữ dội của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khiến nhu cầu về sách vở, và các tri thức khoa học trở nên thiết yếu, khiến cho hàng loạt những hiệu, đàn, trai, lâu…. ra đời, báo hiệu một thời kỳ nở rộ của nghề in, kéo theo sự lụi tàn dối già của nền Nho học nước nhà”.
Với tư cách là kinh đô của đất nước, đương nhiên việc in ấn sách ở Hà Nội giữ một vị trí quan trọng. Ngoài hai khu vực đền chùa (chủ yếu in kinh sách ấn tống phục vụ nhu cầu tôn giáo) và triều đình (chủ yếu là các bộ sử) thì ở Hà Nội đầu thế kỷ XX, các nhà in tư nhân hết sức phát triển. Nổi tiếng nhất là phố Hàng Gai với những tên: Liễu Văn đường, Tụ Văn đường, Phúc Văn đường, Đồng Văn đường, Quảng Thịnh đường, Cẩm Văn đường, Quan Văn đường, rồi tới phố Hàng Đào với áng Hiên hiệu… Phố Hàng Ngang, Hàng Đào có bán cả sách Trung Quốc. Nơi bán sách cũ thì nằm trên phố Hàng Quạt…

Mảng sách phục vụ khoa cử:
Mặc dù chế độ khoa cử Việt Nam đầu thế kỷ XX có nhiều xáo trộn, song tới tận năm 1919 mới kết thúc bằng khoa thi Hương cuối cùng. Nhu cầu về sách vở phục vụ thi cử là không thể thiếu. Có điều, do nội dung thi cử có phần thay đổi, từ kinh nghĩa, thơ phú chuyển sang văn sách, luận và thêm cả một phần quốc ngữ (dùng chữ cái La-tinh) nên các tập luận và văn sách được chọn lọc và bán khá nhiều như như Luận thể tân thức do hiệu Cát Thành số 3 Hàng Gai in năm 1911, Hội đình văn tuyển (từng được cơ sở Liễu Chàng in năm 1838, sau được Liễu Văn đường, Đồng Văn đường, úc Văn đường nhiều lần tái bản), Hương thí văn tuyển (Liễu Văn đường, úc Văn đường, Trường Văn đường xuất bản), rồi Hà Nam hương thí văn tuyển (Gia Liễu đường, Liễu Văn đường), Luận ngữ tinh hoa ấu học (Lạc Tĩnh viên). Bên cạnh đó là các bộ sử như Trung học Việt sử toát yếu (ván in để tại số 22 Hàng Bè), Nam quốc địa giáo khoa thư, Văn minh tân học sách… của nhóm Đông Kinh nghĩa thục. Bộ Danh gia quốc âm, được hiệu Long Đức ở Hàng Thiếc in hai lần vào hai năm gần nhau 1902,1904……
Bên cạnh mảng sách khoa cử phục vụ tầng lớp Nho sinh, mảng truyện Nôm vốn ra đời ở thế kỷ XVII, phát triển mạnh ở thế kỷ XVIII, XIX đến đầu thế kỷ XX lại tiếp tục phát triển. Ngoài việc tái bản những cuốn cũ còn có thêm nhiều đầu sách mới nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của người dân. Riêng cuốn Phạm Công – Cúc Hoa, từ năm 1907 đến năm 1936, được in cả thảy 15 lần (trong phạm vi cả nước). Đặc biệt là Truyện Kiều được in cả thảy 32 lần. Trong số 25 lần in có ghi rõ thời gian và nhà tàng bản thì có tới 16 lần được in tại Hà Nội. Các truyện Nôm khác, với những đề tài cũ, mới không ngừng ra đời như Lưu Bình Dương Lễ tân truyện, Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai tân truyện, Quan m chính văn tân truỵện, Mỹ nữ cống Hồ, Bạch Viên tân truyện, Nam nữ đối ca, Đồng tiền truyện… rồi những bản diễn trò như trò Hà Ô Lôi, trò Nghiêu Thuấn… cũng rất phổ biến.
Ngoài ra, còn có những loại sách thuộc lĩnh vực khác như luật, toán, và một số cuốn kinh Phật do cá nhân tự bỏ tiền ra in như bà Trần Thị Trường ở Hàng Gai… Đặc biệt đã xuất hiện những sách cổ động duy tân của nhóm Đông Kinh nghĩa thục. Những sách này, theo Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập I, được tạo nên ngoài phương thức in mộc bản truyền thống, còn có cả lối in hoạt tự (xem mục Văn minh tân học sách). Một điều không thể không nhắc đến là một số cơ sở in ấn ở Hà Nội đầu thế kỷ XX, cùng với các thiện đàn” khác trong cả nước, tiếp tục in ấn nhiều thơ văn giáng bút. Nếu như trước đó văn giáng bút chỉ đơn thuần là lời của Phật, Tiên, Thánh khuyên răn con người ăn ở thiện tâm thì sang đầu thể kỷ XX nó đã mang thêm nội dung mới. Ta đã biết, giữa thế kỷ XIX, phong trào Cần vương diễn ra khá sôi nổi. Bằng những vần thi ca đầy nhiệt huyết, các nhà Nho tích cực kêu gọi nhân dân chống Pháp. Sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp ra sức khủng bố phong trào, cấm lưu hành thơ văn “chống đối”. Để hợp pháp hóa việc tuyên truyền, nhiều nhà Nho của ta liền mượn ngày lời của Phật Tiên Thánh khuyên răn con người ăn ở thiện tâm thì sang đầu thế kỷ XX nó đã mang thêm những nội dung mới. Ta đã biết, giữa thế kỷ XIX, phong trào Cần Vương diễn ra khá sôi nổi. Bằng những vần thơ ca, các nhà Nho tích cực kêu gọi nhân dân chống Pháp. Sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp ra sức khủng bố, cấm lưu hành thơ văn “chống đối”. Để hợp pháp hóa việc tuyên truyền các nhà Nho liền dùng lời của Phật, Tiên, Thánh kêu gọi nhân dân đoàn kết, chống thói hư tật xấu, chống cường quyền áp bức, nhằm chấn hưng văn hóa dân tộc, văn hóa Thăng Long. Lời của Phật, Tiên, Thánh ở đây không chỉ lấy lời của những nhân vật bên Trung Quốc nữa mà chính là lời của những vị anh hùng dân tộc, những vị” thánh” của dân tộc Việt. Hình thức thể hiện cũng trở nên gần gũi qua những vần thơ Nôm dễ thuộc, dễ nhớ. Chính vì thế nó đã khơi gợi được tinh thần dân tộc, kêu gọi nhân dân đứng lên cứu nước cứu nòi.

Sau năm 1919 chế độ khoa cử chấm dứt song nghề in sách mộc bản ở Việt Nam vẫn tồn tại lác đác đến tận kháng chiến chống thực dân Pháp, và dần thu hẹp phạm vi trong các đền chùa chỉ để in kinh, in thẻ…
Các cơ sở in sách mộc bản trên phố phường Hà Nội đầu thế kỷ XX:
– Áng Hiên hiệu (Hàng Đào)
– Cát Thành hiệu (Hàng Gai)
– Cẩm Văn đường (Hàng Gai)
– Công Thiện đường (?)
– Đông Kinh ấn quán (?)
– Đồng Văn đường (Hàng Gai)
– Lạc Tĩn Viên (?)
– Lạc Khuyến đường (?)
– Liễu Văn đường (Hàng Gai)
– Long Đức hiệu (Hàng Thiếc)
– Mạc Đình Tư hiệu (Hàng Bông)
– Mỹ Văn Đường (?)
– Nghĩa Lợi hiệu (?)
– Nhà in Lê Văn Tân (?)
– Nhà in Viễn Đông (?)
– Phúc An hiệu (?)
– Phúc Văn đường (Hàng Gai)
– Quan Văn đường (Hàng Gai)
– Quảng Thịnh đường (Hàng Gai)
– Thịnh Mỹ đường (Hàng Gai)
– Tụ Văn đường (Hàng Gai)

Đặc biệt có một số cơ sở in còn ghi cả địa chỉ cụ thể như:
Hiệu áng Hiên số 24 Hàng Đào.
Hiệu Cát Thành số 3 Hàng Gai.
Hiệu Mạc Đình Tư 136 Hàng Bông.
Số nhà 22 Hàng Bè.

Hà Nội không chỉ là nơi địa linh nhân kiệt mà còn là nơi nổi tiếng Thi Thư. Chính những cơ sở in này đã góp phần làm nên diện mạo văn hiến một thời của dân tộc ta nói chung cũng như diện mạo văn hiến Thăng Long nói riêng. Nó đã ghi lại đời sống văn hóa của dân tộc trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Nghề in và các cơ sở in ấn ở Hà Nội đầu thế kỷ XX đã có một vai trò tích cực trong việc chấn hưng văn hóa dân tộc, văn hóa Thăng Long.

@Nguyễn Thi Dương

Câu truyện về bùng binh Hồ Con Rùa ở Sài Gòn

1425 views

VỊ TRÍ
Nguyên thủy ban đầu, tại vị trí Hồ Con Rùa hiện nay, vào năm 1790 là vị trí cổng thành Khảm Khuyết của thành Bát Quái (còn gọi là thành Quy). Về sau vua Minh Mạng đổi tên thành cửa Vọng Khuyết. Tuy nhiên sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835) thì vào năm 1837, nhà vua đã cho phá thành Bát Quái và xây dựng một ngôi thành nhỏ hơn mang tên là thành Phụng. Vị trị cửa Khảm Khuyết trở thành một điểm ở ngoài thành và nối thẳng con đường ngoài mặt tây thành xuống bến sông.
Vào năm 1878, tháp nước được xây tại vị trí Hồ Con Rùa ngày nay để cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng gọi là Công trường Tháp Nước (Place de Château d’eau). Tháp xây kiên cố, khá cao, có thang hình xoắn ốc dẫn lên tới đỉnh.
Đến năm 1921 thì tháp nước bị phá bỏ do không còn đủ sức đáp ứng nhu cầu cung cấp nước nữa. Vị trí này trở thành giao lộ như ngày nay, với tên gọi là Công trường Maréchal Joffre (cắt giao lộ là đường Testard – nay là đường Võ Văn Tần – và đường Larclauze – nay là đường Trần Cao Vân).
Ngày 11/11/1927, người Pháp đã cho xây dựng tại vị trí này một tượng đài ba binh sĩ Pháp bằng đồng với hồ nước nhỏ để tưởng niệm lính Pháp và lính Đông Dương chết trong thế chiến thứ nhất. Trong cuộc chiến tranh này, khoảng 9 vạn người Đông Dương – mà phần đông là người Việt Nam – bị Pháp bắt đưa sang châu Âu để đánh nhau với Đức hoặc làm việc trong các cơ xưởng quân sự. Công trình này được gọi là công trường Chiến sĩ trận vong hay công trường Ba Hình.

Bùng binh Hồ Con Rùa
Công trường Tháp Nước (Place de Château d’eau) thời Pháp thuộc.

Sau đó, công trường này mang tên Thống chế Joffre (1852-1931), người từng cầm quân xâm lược nước ta ở Bắc Kỳ. Các tượng đài này tồn tại đến năm 1956, sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, thì tượng này cũng bị Chính phủ Việt Nam Cộng hòa phá bỏ, chỉ còn lại hồ nước nhỏ. Giao lộ cũng được đổi tên thành Công trường Chiến sĩ.
Thời điểm xây dựng Hồ Con Rùa chưa được xác định chính xác. Một số tài liệu cho là nó được xây dựng vào năm 1965, vài tài liệu khác thì cho là 1967. Người thiết kế Hồ con Rùa là kiến trúc sư Nguyễn Kỳ. Mẫu thiết kế của ông được chọn trong cuộc thi tìm quy hoạch mới cho địa danh này (Nguyễn Kỳ nay sống tại Sydney, Australia).

VỀ CÔNG TRÌNH VÒNG XOAY HỒ CON RÙA
Từ 1970 đến 1974, Hồ Con Rùa thực sự được trùng tu và chỉnh trang trong đó gồm việc dựng thêm và điều chỉnh 5 cột bê tông cao có dạng như một bông hoa nhiều cánh, trên đỉnh là 1 hình tròn to tượng trưng cho đồng xu được hứng bởi những cánh hoa đó, hình ảnh này biểu tượng cho bàn tay xoè ra đón nhận viện trợ. Con rùa được làm bằng lá đồng mỏng, ốp trên khung sườn bằng thép góc và thép lá. Vì vậy không tốn kém mấy về vật liệu và dễ thực hiện. Bia trên lưng rùa một mặt thì khắc câu tri ân các quốc gia đã viện trợ, một mặt khắc tên tất cả các quốc gia này.
Công trình mới này còn bao gồm một vòng xoay giao thông với đường kính khoảng gần 100 mét, được trang trí bởi cây xanh và hồ phun nước hình bát giác lớn với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm. Vì vậy công trình xây dựng tại vòng xoay hồ con rùa chính là Đài kỷ niệm Viện trợ Quốc tế cho Việt Nam Cộng Hòa tức miền Nam VN trước năm 1975, khi VN còn chia cắt làm 2 phần nam bắc VN.
Sau khi xây dựng xong thì ban đầu khu giao lộ này được đặt tên là Công trường Chiến sĩ Tự do, đến năm 1972 thì đổi tên thành Công trường Quốc tế hay bùng binh Hồ Con Rùa vì dứơi chân có một con rùa đội bia.
Sau năm 1975, các dòng chữ trên tấm bia bị chính quyền mới sơn phủ lên che đi. Đường Duy Tân bị thay tên thành đường Phạm Ngọc Thạch còn đường Trần Quý Cáp đổi thành đường Võ Văn Tần. Vào đầu năm 1976 (hay 1978), tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ, tuy con rùa không còn nhưng người dân vẫn quen gọi là Hồ Con Rùa, thay cho tên gọi chính thức.
Khu vực vòng xoay hồ con rùa bao quanh bởi các quán cà phê, là nơi tấp nập về đêm và là một trong những vòng xoay có nhiều cây xanh nhất thành phố Hồ Chí Minh.

VỀ GIAI THỌAI HỒ CON RÙA
Theo lời thuật lại của nhà báo ngành Công an Huỳnh Bá Thành (Ba Trung) trong cuốn sách “Vụ án Hồ Con Rùa” (NXB Tuổi Trẻ 1982) thì có các giai thoại truyền miệng kể là vào năm 1967, khi tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, đã mời một thầy phong thủy người Hoa nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập. Người thầy phong thủy này khen vị trí của dinh là vị trí của long mạch, trấn yểm vị trí của đầu rồng[3]. Cũng theo lời thuật trên thì con rồng này đầu tại dinh Độc Lập và đuôi nằm tại vị trí Công trường Chiến sĩ, tuy phát hưng vượng, nhưng do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp không bền, vì vậy cần phải cúng yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng không vùng vẫy nữa thì mới giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài. Cũng vì thế, mà theo một số người thì kiến trúc tháp cao giống như hình một thanh gươm (hoặc cây đinh/kim), đóng xuống hồ nước để giữ chặt đuôi rồng, và khuôn viên hồ nước có hình bát quái, bên giữa có hình âm dương.
Một số người khác thì lại cho rằng kiến trúc tháp lại giống hình đuôi rồng vươn cao, nhưng có con rùa đè chặt ở phần đầu ngọn. Số khác thì lại cho là nhìn từ trên cao xuống thì toàn thể kiến trúc trông giống như một con rùa. Một số người lại đưa giải thích là sở dĩ làm hình con rùa, vì trong dân gian, con rùa mới đội bia (trên lưng rùa lúc đó -xây dựng khoảng năm 1972- có một bia đá ghi công (Xem hình: 1 và2), và nơi đây được thiết kế như một đài tưởng niệm) và ngụ ý “mang ơn”. Nhưng tất cả cũng chỉ là giả thuyết hay là giai thoại thêu dệt thêm.

Những điều bạn cần biết về Nhà hát Lớn Hà Nội

868 views

Nhà hát Lớn Hà Nội là công trình có kiến trúc hoàn hảo, quy mô bậc nhất, góp phần định hình kiến trúc, diện mạo của Thủ đô Hà Nội ở nửa đầu thế kỷ XX. Nơi đây vẫn lưu giữ những câu chuyện bí ẩn như: Tác giả thực sự của công trình này, nhà hát không hề có tiếng khi thử âm lần đầu tiên… Cuối tháng 6, Nhà hát Lớn Hà Nội chính thức mở cửa phục vụ du khách trong và ngoài nước tham quan, khám phá…

Tại sao công trình lại quá đồ sộ ?

Theo tư liệu chính thức từ website của Nhà hát Lớn Hà Nội, nhà hát vốn nằm trên một vùng đầm lầy thuộc đất của hai làng Thạch Tần và Tây Luông thuộc Tổng Phúc Lân, huyện Thọ Xương. Vào năm 1899, Hội đồng thành phố nhóm họp dưới quyền chủ tọa của Richard, Công sứ Pháp tại Hà Nội đề nghị lên Toàn quyền Fourer cho xây nhà hát. Tác giả đồ án thiết kế là hai kiến trúc sư Harlay và Broyer. Bản thiết kế này phải sửa đổi nhiều lần do nhận được sự góp ý của nhiều kiến trúc sư. Công trình được khởi công vào ngày 7-6-1901, dưới sự giám sát kỹ thuật của thanh tra đô thị, kiến trúc sư Harlay, một trong hai tác giả thiết kế. Người phụ trách thi công là hai ông: Travary và Savelon.
Việc san lấp mặt bằng diễn ra rất vất vả. Hằng ngày có 300 công nhân làm việc, 35.000 cọc tre được đóng với khối bê tông làm nền dày 90cm. Công trình đã sử dụng hơn 12.000m3 vật liệu, gần 600 tấn gang thép; chiếm diện tích 2.600m2, chiều dài là 87m, chiều rộng là 30m, điểm cao nhất so với mặt đường là 34m. Mặt trước của công trình rất bề thế, những bậc thềm chạy dài trước nhà hát để đón thẳng xe của các quan chức thuộc địa đến xem.
Những người thiết kế công trình đã tìm tòi, tham khảo kiểu kiến trúc cổ Hy Lạp Coranhtơ kết hợp với kiểu lâu đài Tuylơry và Nhà hát Opéra Paris để tạo nên một khối kiến trúc riêng biệt.
Bên trong nhà hát trước đây có sân khấu rộng và một phòng khán giả chính diện tích 24x24m, chứa 870 chỗ ngồi, ghế bọc da, một số chỗ bọc nhung. Tầng giữa có nhiều phòng nhỏ dành cho khán giả có vé riêng. Cầu thang giữa lên tầng hai là một sảnh chính rộng. Cầu thang phụ và hành lang ở hai bên. Phía sau nhà hát là một phòng quản trị, có 18 buồng cho diễn viên hóa trang, 2 phòng tập hát, 1 thư viện và phòng họp. Nhà hát là nơi biểu diễn các loại hình nghệ thuật cổ điển như Opéra, nhạc thính phòng, kịch nói… phục vụ cho tầng lớp quan lại thượng lưu người Pháp và một số ít người Việt giàu có.
Lịch biểu diễn một tuần 4 lần vào thứ ba, thứ năm, thứ bảy và chủ nhật. Kinh phí xây dựng nhà hát được duyệt là 2.000.000 franc Pháp – một khoản tiền rất lớn vào thời đó. Không chỉ báo chí, nhiều quan chức trong Chính phủ Pháp đã đặt câu hỏi: Tại sao lại bỏ khoản tiền lớn như vậy để xây một nhà hát bề thế trong khi dân số ở thành phố thuộc địa này ít hơn rất nhiều so với Paris; phải chăng có sự cấu kết ngầm giữa quan chức có quyền duyệt chi với các công ty thầu? Hay cho tương lai của Hà Nội? Đó vẫn là những câu hỏi còn tồn tại cho đến hôm nay.

Nhà hát Lớn Hà Nội

Ai là “cha đẻ” của Nhà hát Lớn ?

Có nhiều người cho rằng, Nhà hát Lớn Hà Nội giống Nhà hát Opéra Garnier của Pháp xây dựng vào nửa cuối thế kỷ XVIII. Tuy nhiên KTS Hoàng Đạo Kính lại không đồng tình quan điểm này, ông chia sẻ: “Tôi đã từng nhiều lần đến thăm Nhà hát đó ở Paris và thấy rằng Nhà hát Lớn Hà Nội không phải là phiên bản của Nhà hát Garnier. Bởi vì Nhà hát Opéra Garnier rất đồ sộ, nguy nga và rất cầu kỳ với 2.600 chỗ, trong khi Nhà hát Lớn Hà Nội chưa đầy 1.000 chỗ. Nếu có giống nhau thì có chăng là về chức năng, cấu trúc, không gian mặt bằng mà thôi.
Còn về mặt kiến trúc, Nhà hát Lớn Hà Nội là một sự phát triển đặc trưng của lối kiến trúc Pháp ở một nước thuộc địa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong đó có sự biểu hiện, tiếp nối của kiến trúc tân cổ điển và kiến trúc tân Ba rốc. Thậm chí có những nhân tố bản địa hóa rất đặc biệt, độc đáo và có giá trị thẩm mỹ tự thân chứ không bắt chước một cái nào của Opéra Garnier cả. Nếu đặt Nhà hát Lớn Hà Nội bên cạnh các nhà hát tiêu biểu trên thế giới thì nó rất độc lập, không giống nhà hát nào về mặt kiến trúc”.
Cũng theo một tài liệu mà người viết có được thì GS.KTS Hoàng Đạo Kính, người chủ trì công cuộc trùng tu Nhà hát Lớn vào những năm 90 của thế kỷ trước cũng từng băn khoăn rằng tác giả của công trình này cho đến nay vẫn là một ẩn số. Nhiều kiến trúc sư đã tìm trong không ít hồ sơ cả ở Việt Nam và ở Pháp nhưng cho đến nay vẫn chưa biết được ai là tác giả của công trình này. Vì vậy, cũng dễ hiểu khi không chỉ các kiến trúc sư mà ngay cả chúng ta đều có mong muốn được tìm hiểu, làm rõ ai là tác giả thực sự của một công trình độc đáo ở xứ Đông Dương thuộc địa xa vời với nước Pháp mà lại chín muồi đến thế…(còn nữa)
KTS Hồ Thiệu Trị, người sáng lập kiêm Tổng Giám đốc HTT Group, đồng thời cũng là người tham gia vào việc trùng tu Nhà hát Lớn Hà Nội trong giai đoạn 1995-1997 cho biết: “Năm 1994, lần đầu tiên từ Pháp về Việt Nam, tôi đến thăm nhà hát. Nhìn thoáng qua, tôi thấy công trình giống như những nhà hát ở Pháp và Châu Âu, nhưng khi quan sát kỹ, lại thấy phảng phất đường nét, chi tiết rất Việt Nam.
Nhà hát Lớn được thiết kế rất đúng với tinh thần của kiến trúc thuộc địa, ở thời điểm đó, tại Việt Nam chưa có mô hình nhà hát lớn nào làm hình mẫu. Sự tồn tại của Nhà hát Lớn Hà Nội đến giờ được coi là duy nhất ở Đông Nam Á”.

© Lâm Vũ

Lịch sữ hình thành của Nhà Thờ Đức Bà

755 views

Vị trí

Ban đầu, địa điểm xây cất được đề nghị ở 3 nơi:
– Trên nền Trường Thi cũ (nay là góc đường Lê Duẩn và Hai Bà Trưng, tức vị trí tòa Lãnh sự Pháp).
– Ở khu Kinh Lớn (tại vị trí nhà thờ cũ, nay thuộc đường Nguyễn Huệ).
– Vị trí hiện nay: số 1, Công Xã Paris, P. Bến Nghé, Q1

Nhà thờ Đức Bà

Lịch sử hình thành

Tháng 8 năm 1876, Thống đốc Nam kỳ Duperré đã tổ chức một kỳ thi vẽ đồ án thiết kế nhà thờ mới. Ngoài mục tiêu có chỗ thờ phụng, hành lễ cho tín đồ, việc xây dựng nhà thờ lớn cũng nằm trong mục đích phô trương đạo Công giáo và sự vĩ đại của nền văn minh nước Pháp trước người dân thuộc địa. Vượt qua 17 đồ án thiết kế khác, đồ án của kiến trúc sư J. Bourad với phong cách kiến trúc Roman cải biên pha trộn nét phong cách kiến trúc Gotich đã được chọn.
Thống đốc Nam kỳ Duperré cho đấu thầu việc xây dựng nhà thờ và cũng chính kiến trúc sư này là người trúng thầu và trực tiếp giám sát công trình.
Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên trước mặt Phó soái Nam Kỳ và đông đủ nhân vật cấp cao thời ấy. Nhà thờ được xây dựng trong 3 năm. Lễ Phục sinh, ngày 11 tháng 4 năm 1880, nghi thức cung hiến và khánh thành do cố đạo Colombert tổ chức trọng thể với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers. Hiện nay, trên bệ phía trên, bên trong cửa ra vào nhà thờ, có chiếc bảng cẩm thạch gắn trong hành lang (transept) ghi ngày khởi công, ngày khánh thành và tên vị công trình sư. Tất cả mọi chi phí xây dựng, trang trí nội thất đều do Soái phủ Nam Kỳ đài thọ, với số tiền 2.500.000 franc Pháp theo tỷ giá thời bấy giờ. Ban đầu, nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Nhà Nước vì nó do nhà nước Pháp bỏ tiền xây dựng và quản lý.
Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6 m và có 6 chuông đồng lớn nặng 28,85 tấn. Trên đỉnh tháp có đính một cây thánh giá cao 3,50 m, ngang 2 m, nặng 600 kg. Tổng thể chiều cao từ mặt đất lên đỉnh thánh giá là 60,50 m.

Nhà thờ Đức Bà

Trên vườn hoa trước nhà thờ, năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Bá Đa Lộc hoặc Giám mục Adran vì vị này làm Giám mục hiệu tòa Adran) dẫn hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long) để ca ngợi công lao của nước Pháp “bảo hộ”, “khai hóa” cho Việt Nam. Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc hình Giám mục Adran với phẩm phục giám mục, tay trái dẫn hoàng tử Cảnh. Tượng làm bằng đồng, được đúc tại Pháp, giới bình dân thời đó thường gọi là tượng “hai hình” để phân biệt với tượng “một hình”, là bức tượng của Đô đốc Hải quân Pháp Genouilly ở phía công trường Mê Linh (nay là cuối đường Hai Bà Trưng, gần bờ sông Sài Gòn). Năm 1945, tượng này bị phá bỏ, nhưng cái bệ đài bằng đá hoa cương đỏ thì vẫn còn tồn tại ở đó mà không có bất cứ một bức tượng nào đặt lên trên.

Nhà thờ Đức Bà Saigon

Năm 1958, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên (sau làm Giám mục giáo phận Phú Cường, giờ đã qua đời), cai quản Giáo xứ Sài Gòn thời ấy, đã đặt tạc một tượng Đức Mẹ Hòa Bình bằng loại đá cẩm thạch trắng Carrara của Ý. Tượng được tạc tại Pietrasanta cách Roma khoảng 500 km. Khi tượng hoàn tất thì được đưa xuống tàu Oyanox vào ngày 8 tháng 1 năm 1959 từ hải cảng Gênes chở tượng qua Việt Nam và tới Sài Gòn ngày 15 tháng 2 năm 1959. Sau đó, công ty Société d’Entreprises đã dựng tượng Đức Mẹ lên bệ đá vốn còn để trống kể từ năm 1945 trước nhà thờ. Tự tay linh mục viết câu kinh cầu nguyện “Xin Đức Mẹ cho Việt Nam được hòa bình” rồi đọc trước đông đảo quan khách có mặt hôm ấy. Ngày hôm sau, Hồng y Aganianian từ Roma qua Sài Gòn để chủ toạ lễ bế mạc Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc, đã làm phép bức tượng này vào buổi chiều ngày 17 tháng 2 năm 1959. Từ sự kiện này mà từ đó nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Đức Bà.
Ngày 5 tháng 12 năm 1959, Tòa Thánh đã cho phép làm lễ “xức dầu”, tôn phong Nhà thờ Chính tòa Sài Gòn lên hàng tiểu Vương cung thánh đường (basilique). Từ đó, tên gọi chính thức của thánh đường là Vương cung thánh đường Đức Bà Sài Gòn.
Năm 1960, Tòa Thánh thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam với ba tòa Tổng Giám mục tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Nhà thờ trở thành nhà thờ chinh tòa của vị Tổng giám mục Sài Gòn cho đến ngày nay.

Nhà thờ Đức Bà

Đặc điểm

– Tên chính: Vương cung thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội.
– Tôn giáo: Công giáo Rôma
– Chức năng : thuôc Giáo xứ chính tòa
– Kiến trúc Thiết kế: J. Bourad
– Khánh thành: 11 tháng 4, 1880
– Phong cách: Kiến trúc Roman và Gôtich

Trong quá trình xây dựng, toàn bộ vật liệu xây dựng từ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang. Mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Marseille để trần, không tô trát, (đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi), không bám bụi rêu. Một số ngói vỡ trong nhà thờ có in hàng chữ Guichard Carvin, Marseille St André France (có lẽ là nơi sản xuất loại ngói này), mảnh ngói khác lại có hàng chữ Wang-Tai Saigon. Có thể đây là mảnh ngói được sản xuất sau tại Sài Gòn dùng để thay thế những mảnh ngói vỡ trong thời gian Thế chiến thứ hai do những cuộc không kích của quân Đồng Minh. Toàn bộ thánh đường có 56 ô cửa kính màu do hãng Lorin của tỉnh Chartres (Pháp) sản xuất.
Móng của thánh đường được thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Và một điều rất đặc biệt là nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Sài Gòn – Gia Định lúc ấy và bây giờ.
Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người.
Nội thất thánh đường có hai hàng cột chính hình chữ nhật, mỗi bên sáu chiếc tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Ngay sau hàng cột chính là một hành lang và kế đó là nhiều nhà nguyện nhỏ với những bàn thờ nhỏ (hơn 20 bàn thờ) cùng các bệ thờ và tượng thánh nhỏ làm bằng đá trắng khá tinh xảo. Bàn thờ nơi Cung Thánh làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối có hình sáu vị thiên thần khắc thẳng vào khối đá đỡ lấy mặt bàn thờ, bệ chia làm ba ô, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc diễn tả thánh tích. Trên tường được trang trí nổi bật 56 cửa kính mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh Kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Tất cả các đường nét, gờ chỉ, hoa văn đều tuân thủ theo thức Roman và Gôtich, tôn nghiêm và trang nhã. Tuy nhiên, trong số 56 cửa kính này hiện chỉ còn bốn cửa là nguyên vẹn như xưa, còn các cửa kính màu khác đều đã được làm lại vào khoảng những năm 1949 để thay thế các cửa kính màu nguyên thủy của nhà thờ đã bị bể gần hết trong thế chiến thứ 2. Trên trán tường của cửa chính nhà thờ có hàng chữ Latinh:
DEO OPTIMO MAXIMO BEATIEQUE MARIA VIRGIN IMMACULATOE
Nghĩa là: Thiên Chúa tối cao đã ban cho Đức Trinh Nữ Maria được ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Nhà thờ Đức Bà

Còn trên trán tường của cửa vào bên phải có những hàng chữ bằng tiếng Hoa, thật ra đó là hai câu đối: “Nhà thờ Thiên Chúa đầy ân đức – Thánh mẫu vô nhiễm nguyên tội“. và hàng chữ nói tới năm khánh thành nhà thờ 1880. Nội thất thánh đường ban đêm được chiếu sáng bằng điện (không dùng đèn cầy) ngay từ khi khánh thành. Vào ban ngày, với thiết kế phối sáng tuyệt hảo, hài hòa với nội thất tạo nên trong nội thất thánh đường một ánh sáng êm dịu, tạo ra một cảm giác an lành và thánh thiện. Ngay phía trên cao phía cửa chính là “gác đàn” với cây đàn organ ống, một trong hai cây đàn cổ nhất Việt Nam hiện nay. Đàn này được các chuyên gia nước ngoài làm bằng tay, thiết kế riêng, để khi đàn âm thanh đủ cho cả nhà thờ nghe, không nhỏ mà cũng không ồn. Hiện nay, cây đàn này đã hoàn toàn hỏng do bị mối ăn phần gỗ bàn phím điều khiển bằng tay.
Lúc đầu nhà thờ không có tháp chuông. Đến năm 1895 thì được xây thêm 2 tháp chuông lớn. Có tất cả 6 chuông lớn (sol, la, si, đô, rê, mi), gồm sáu âm, nặng tổng cộng 28,85 tấn, đặt dưới hai lầu chuông. Bộ chuông này được chế tạo tại Pháp và mang qua Sài Gòn năm 1879. Trên mặt mỗi quả chuông đều có các họa tiết rất tinh xảo.
Ba quả chuông to nhất là chuông si , chuông la và đặc biệt là chuông sol là một trong những quả chuông lớn nhất thế giới. Chuông này chỉ ngân lên mỗi năm một lần vào đêm Giao thừa Âm lịch.
Các chuông đều được điều khiển bằng điện từ bên dưới. Riêng ba chiếc chuông lớn trước khi đánh đều được khởi động bằng cách đạp (vì quá nặng) cho lắc trước khi bật công tắc điện. Vào ngày thường, thánh đường chỉ cho đổ một chuông mi vào lúc 5 giờ sáng và đổ chuông re vào lúc 16g15. Vào ngày lễ và chủ nhật, nhà thờ thường cho đổ ba chuông theo hợp âm Mi, Re và Do ( đúng ra là hợp âm ba chuông Mi, Do và Sol, nhưng vì chuông Sol qua nặng nên thay thế bằng chuông Do). Vào đêm Giao thừa thì mới đổ cả 6 chuông. Tiếng chuông ngân xa tới 10 km theo đường chim bay.
Bộ máy đồng hồ trước vòm mái cách mặt đất chừng 15 m, giữa hai tháp chuông được chế tạo tại Thụy Sĩ năm 1887, hiệu R.A, cao khoảng 2,5 m, dài khoảng 3 m và ngang độ hơn 1 m, nặng hơn 1 tấn, đặt nằm trên bệ gạch. Dù thô sơ, cũ kỹ nhưng hoạt động khá chính xác. Để điều chỉnh đồng hồ, phía sau máy có một chiếc đồng hồ to cỡ đồng hồ reo trong gia đình. Chỉ cần theo dõi chiếc đồng hồ con này, có thể biết đồng hồ lớn chạy chậm, nhanh, đúng hay sai giờ. Mỗi tuần phải lên giây đồng hồ một lần và chiếc cần để lên giây đồng hồ giống như tay quay máy xe. Đồng hồ còn có hệ thống bao giờ bằng búa đánh vô các chuông của nhà thờ, tuy nhiên đã không còn hoạt động do dây cót quá cũ.

Nhà thờ Đức Bà

Mặt trước thánh đường là một công viên với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá. Trung tâm của công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa bình (hay Nữ vương Hòa bình). Tượng do nhà điêu khắc G. Ciocchetti thực hiện năm 1959. Tên của tác giả được khắc ở trên tà áo dưới chân, phía bên trái của bức tượng. Bức tượng cao 4,6 m, nặng 8 tấn, bằng đá cẩm thạch trắng của Ý, được tạc với chủ đích để nhìn từ xa nên không đánh bóng, vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt vẫn còn những vết điêu khắc thô. Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu, trên trái địa cầu có đính cây thánh giá, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời như đang cầu nguyện cho Việt Nam và cho thế giới được hoà bình. Chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn (mà hiện nay, đầu con rắn đã bị bể mất cái hàm trên). Trên bệ đá, phía trước bức tượng, người ta có gắn một tấm bảng đồng với hàng chữ Latinh:
REGINA PACIS – ORA PRO NOBIS – XVII. II. MCMLIX
Nghĩa là: NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH – CẦU CHO CHÚNG TÔI – 17.02.1959
Phía dưới bệ đá, người ta đã khoét một cái hốc chỗ giáp với chân tượng Đức Mẹ, trong đó có một chiếc hộp bằng bạc, chứa những lời kinh cầu nguyện cho hoà bình của Việt Nam và thế giới. Những lời cầu nguyện đó được viết lên trên những lá mỏng bằng những chất liệu khác nhau như bằng vàng, bạc, thiếc, nhôm, giấy, da và đồng, được gởi tới từ nhiều miền của Việt Nam, kể cả từ một số vùng ngoài miền Bắc.

Chuyện về những chai bia của hãng BGI ở Sài Gòn trước 1975

3167 views

Đã từ lâu rồi anh chị em bạn bè khi gặp tôi, sau khi biết tôi đã từng làm việc tại hãng BGI, Sàigòn, tức là hãng Brasseries, Glacières d’Indochine, công ty chủ nhà máy nấu La De ở Chợ Lớn, cạnh sân vận động Cộng Hòa (sân vận động Thống Nhất ngày nay – HNVĐ), đều yêu cầu tôi phải viết về La De, kể những giai thoại về La De.
Câu chuyện thường được mọi người nhớ về La De, thường hỏi tôi, là chuyện chai La De lớn đặc biệt gọi là La De Trái Thơm. Theo lời đồn, trong mỗi thùng 6 chai chỉ có một chai Trái Thơm, giá đặc biệt và cũng là quà tặng đặc biệt mỗi khi có khách quý. Ai đã được uống La De Trái Thơm đều khen là ngon đặc biệt, và khen ngon hơn chai La De thường. Thiệt tình mà nói là La De Trái Thơm, La De thường, La De Quân tiếp Vụ cũng là một thứ, vô chai có hình trái thơm thì nó Trái Thơm, vô chai thường thì nó là La De thường, gặp chai Quân tiếp Vụ thì nó biến thành La De Quân tiếp Vụ. Hãng BGI lúc ấy chỉ có nấu hai loại La De thôi :

1) La De thường: vào chai lớn (dung tích 66) thường gọi La De Con Cọp vì chai có cái đầu con cọp màu vàng và để nhãn hiệu Bière Larue.
2) La De 33: nấu thơm hơn, độ rượu nhiều hơn, vị uống đậm đà hơn, vô chai nhỏ (dung tích 33), tên thường gọi là Bia Băm Ba, nhãn hiệu là Bière 33 Export.

Vậy mà có người khen chê cho La De Trái thơm là ngon nhứt, xong đến La De Con Cọp và hạng chót là La De Quân tiếp Vụ. QTV dỡ nhứt vì là cho Quân đội uống. Chẳng qua là cái mã ở ngoài cả. Thế mới biết ở đời chỉ trọng cái bề ngoài. Quý vị nghĩ coi nấu 2 loại Bia đã tóe phở, học xì dầu hơi đâu, BGI đâu có quởn nấu ba bốn loại còn vô chai vô cộ, đổi kíp đổi người. Phức tạp lắm. Nội cách đổi vỏ chai cho hạp với rượu cũng đủ hao tiền. Nhưng cắt nghĩa hổng ai tin. Ông Cụ Bà Cụ tui, hễ khi tui đến nhà chơi, chẳng may lấy La De Quân Tiếp Vụ uống, vì ổng có hàng QTV do mấy chú em tui đem về, thì bà bảo : “Nhà hết La De để mẹ đưa tiền chú Thanh, chú Thanh là anh tài xế phục vụ ông cụ đi mua La De về cho con uống chứ uống chi đồ QTV dở lắm, để các em của con lính tráng nó uống, nó quen rồi”. Tôi có trả lời cắt nghĩa cho bà hiểu là chỉ có một thứ bả không tin. Thiệt “Bụt nhà hổng thiên” !

CÂU CHUYỆN LADE TRÁI THƠM

Lúc ấy là năm 1973, tôi làm chánh sở Tiếp thị (Chef du Service Marketing), coi luôn phần quảng cáo. Để hà tiện tiền làm nhãn ở Pháp, tôi sử dụng văn phòng quảng cáo của hãng, tôi nghĩ anh họa sĩ văn phòng quảng cáo (chuyên vẽ những fond cho các xe của hãng rồi các anh thợ sơn đồ chép lại) đủ tài nghệ chép lại cái nhãn đặt ở Pháp. Và tôi nhờ anh họa sĩ vẽ lại cái nhãn. Trên nhãn cái đầu con cọp vàng ở giữa hai bên có hai tràng hoa houblons, là loại hoa dùng để thêm cái vị nhẫn đắng vào bia. Nấu bia ngon dỡ là do cái tài thêm ít hoa houblon, cũng như gia vị ngũ vị hương trong nghề bếp núc Việt Nam ta vậy.
Nhãn vẽ xong đại khái cũng tạm ổn, vì anh họa sĩ nhà chưa bao giờ nhìn thấy hoa houblon, nên đinh ninh thấy hoa houblon giống trái thơm, cho là Trái thơm, và vẽ giống trái thơm. Các ông giám đốc Tây cũng ba chớp ba nháng, kể cả anh chánh sở trách nhiệm là tui, cũng thế.
Vì thiệt tình mà nói thì có ông nội nào thấy hoa houblon tươi đâu? Biết là houblon nhưng chỉ nhìn thấy hoa dưới dạng khô. Còn các anh kỹ sư nhà máy, các anh nấu rượu (brasseurs – đây là một cái nghề riêng) dân La De thiệt, thì ở nhà máy. Bọn quyết định là dân Văn phòng, dân làm Marketing quyết định mọi việc, bổn phận các anh kỹ sư là sản xuất, chỉ sao làm đúng vậy thôi. Quý vị thấy không, không phải chỉ có trong quân đội mới có cảnh lính văn phòng và lính chiến trường. Nhãn ô kê, gởi đi làm décalques đưa qua Công ty Thủy tinh Việt Nam (Khánh Hội) dán vào chai : 100 ngàn chai mới.
Khi đưa vào nhà máy Chợ Lớn, các lão kỹ sư cười vỡ bụng, “hoa houblon sao giống trái thơm thế nầy”. Nhưng đã nói các quan văn phóng là chánh mà, nên quyết định, cứ trộn chai mới vào với đám chai cũ, lẫn lộn chả ai biết gì đâu, người ta uống La De có ai thèm nhìn nhãn đâu. Chẳng lẽ vất bỏ 100 ngàn chai hay sao ? Vài ông giám đốc còn thày lay dạy đời “Dân Việt Nam không biết uống bia, uống quá lạnh, nhiều khi còn để đông đặc lại (bia đặc), còn thêm nước đá, ngon lành gì, vì vậy trái thơm hay hoa houblon có ai biết chi mô mà ngại ngùng, a – lê ta cứ thế mà làm”. Chàng chánh sở biết thân, im miệng thinh thích, ngậm miệng ăn tiền, phải bảo vệ danh dự anh họa sĩ nhà và danh phong Marketing, dù sao cũng… quê rồi.
Nhưng không ai lường được cái tài doanh nhơn của người Hoa, của con buôn. Các chú Chệt nhà mình ở hãng (rất nhiều nhơn viên người Việt gốc Hoa, buôn bán ở Sàigòn phải biết “cỏn Tung Hỏa”, chẳng những biết nói “Quảng Đông Ngữ” mà cũng phải vài tiếng “Tiều châu ngữ” nữa cũng phải “Kít tèo” hay “Mai xín xắn bù chằn ếch” cho giống người ta, nói tóm lại con buôn giới thương mại phần đông là người gốc Hoa nếu không nói là một số rất đông. Thế là tiếng lành đồn xa tiếng dữ đồn gần, hãng La De vừa sản xuất được một thứ La De hảo hạng, La De trái thơm, một thùng chỉ một chai, để tặng các bạn hàng thứ thiệt, thứ ngon lành, thứ chịu chơi.
Cái luật may rủi, tình cờ, thì khi ra chai và vào thùng thì bao giờ Trái thơm cũng có mặt ở mỗi ngày sản xuất, mấy tay cao thủ bán hàng của hãng cứ thế mà sắp cho mỗi thùng một chai, rất là điệu nghệ, và tuyên truyền nguyên tắc của hãng mỗi thùng một chai. Nhưng khi đi giao hàng (bán sỉ) quý vị ấy tự nhiên đề nghị với các bạn hàng biết điệu nghệ thì có thể thêm 2 hoặc 3, thậm chí cả thùng toàn La De trái thơm tùy theo nét điệu nghệ và chịu chơi của thân chủ, “phép vua thua lệ làng” mà lỵ, phép hãng đấy, nhưng thua nghề của chàng. Và cứ thế giòng sông thương mại trôi theo giòng điệu nghệ, ăn nhậu.
Các bars, các quán nhậu cũng tùy điệu nghệ với các ông Thầy, ông Xếp, đàn anh… mà điệu nghệ giành chai La De Trái thơm cho người mình muốn nâng bi, ca tụng hay ca bài con cá. Cá nhơn tui đây, dân La De thứ thiệt, thế mà khi đi nhậu vẫn được bạn hàng và nhiều khi cả nhơn viên (cho biết khi cái dỏm trở thành huyền thoại thì cái dỏm trở thành cái thiệt) thương tình tặng một chai Trái Thơm. Nhưng mình cũng phải ngậm miệng khen ngon và cám ơn các cảm tình giành riêng ấy, và vì huyền thoại đã đến hồi quyết liệt, làm vỡ “mộng ban đầu”, e có thể “lãnh thẹo”.
Huyền thoại vẫn dai dẳng đến sau 30 tháng Tư, dân bộ đội, hay người “Hà Lội” cũng bị huyền thoại Trái Thơm. Nhiều tay nón cối dép râu, cũng chạy vào văn phòng ông giám Đốc, (sau Tết 1975, tôi được bổ nhiệm làm Giám Đốc Thương mại) làm quen, và xin ông GĐ đặc biệt “tặng không” vài chai Trái Thơm, hoặc thưởng thức Bia Trái thơm “cho biết”. Tội nghiệp, rất nhiều tay vượt Trường Sơn chỉ muốn uống Coca Cola “cho biết” (Tiếng Tây có thành ngữ “pour ne pas mourir idiot” – để khỏi chết ngu đần). Vì ta là quân chiến thắng nên chỉ xin thôi, và chỉ nhận quà cáp, của tặng, chứ không có mua bán gì cả.

XUẤT XỨ CỦA HÃNG BGI

BGI viết tắt của Brasseries (hãng nấu bia) Glacières (hãng nước đá) d’Indochine (Đông Dương) tức là Hãng bia và nước đá Đông Dương. Khởi đầu, BGI thâm nhập miền Nam chỉ với mục đích sản xuất nước đá để tiêu thụ tại một xứ nhiệt đới, do một anh kỹ sư Công Nghiệp (Arts et Métiers – Paris) sĩ quan hàng hải, Victor Larue, giải ngũ tại Sài Gòn thành lập năm 1875. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, BGI bắt đầu chuyển sản xuất bia và nước giải khát. Nhà máy BGI nổi tiếng nhất và lâu đời nhất là Nhà máy bia Chợ Lớn và Usine Belgique được xây dựng từ năm 1952.
Văn phòng BGI nằm trên đường Hai Bà Trưng cạnh hãng Nước Đá. Đấy là tên cúng cơm. Sau năm 1954, sau khi hết Indochine (Đông Dương), BGI bèn biến chữ I thành Internationales (Quốc tế). Mà Công ty Brasseries Glacières Internationales thiệt sự internationales thứ thiệt. Một ông cựu Tổng Giám đốc, ông Grandjean, con một cựu quan chức thuộc địa ở Hà Nội, còn cá nhơn ông lại là một cựu luật sư thuộc Luật sư đoàn Hà Nội, đã tả BGI bằng một câu xanh dờn, ví BGI như đế quốc của Đại đế Charle Quint thời Phục Hưng ở Âu Châu “Mặt Trời không bao giờ lặn trên đất của hãng BGI”. Mà thiệt vậy, BGI có nhà máy nấu La De từ Tân Đảo (Nouvelle Calédonie) đến Guayane nằm cạnh Brazil, thì không đi vòng thế giới sao ? Chưa kể ở Phi Châu, Đông Dương và thậm chí có mặt ở một nước Hồi giáo, Indonésia, nhà máy do tôi thương thuyết thành lập ở thành phố Médan trên đảo Sumatra (đây là một tự hào của cá nhơn tôi, thành tích bán rượu cho dân Hồi giáo).
Ngoài Bia 33, BGI còn sản xuất các loại bia mang nhãn hiệu Bière Royale, Bière Hommel (bia nhẹ) và Tiger Beer (người ta thường gọi là “bia con cọp” vì có nhãn hiệu hình con cọp).
Năm 1975, BGI cũng vừa đủ 100 tuổi. Sau khi Sài Gòn đổi tên, chính quyền tịch thu tài sản của chủ Pháp và Nhà máy bia Chợ Lớn trở thành Bia Sài Gòn và Usine Belgique cũng đổi thành Chương Dương, nhưng vẫn là các nhà máy sản xuất nuớc giải khát.

VỀ BIA 33

Bia 33

Về sau BGI cũng từ từ rút các cơ sở nhà máy, bán dần dần và nay không còn gì cả. Chỉ còn có mỗi Bia 33, chai nhỏ 33 phân khối. Tên bia 33 khai sanh tại Hà Nội năm 1949.
Ngày hôm nay Bia 33 cũng tỵ nạn tại Đan Mạch (do Hãng Carlsberg – Đan Mạch sản xuất). Bia 33 vì sanh ở Hà Nội nên dân Sài Gòn vẫn gọi “Bia 33” (gọi theo dung tích), hay vắn tắt “Băm Ba”. Còn chai bia lớn gọi La De Con Cọp, hay La De lớn (vì dung tích 66 phân khối).
Còn bia 333 bây giờ, nếu nhìn kỹ cái nhãn của 333 và 33 hồi xưa thì chỉ thêm số 3 thôi, cái người tác giả của 333 đó là anh Chương lúc bấy giờ ảnh làm trong hãng Marketing với tui (cũng là người vẽ nhãn cho bia LADE trái thơm), ảnh vẽ quẹt thêm số 3 nữa.
BGI đã tự hào là “Một loại bia 5 châu lục” thông qua việc xuất cảng Bia 33 ra khắp thế giới. Trong mẫu quảng cáo dưới đây ta thấy chữ “Bia” được hiển thị qua nhiều ngôn ngữ: Bière (tiếng Pháp), Beer (tiếng Anh), Bier (tiếng Đức), Bir (tiếng Indonesia), Birra (tiếng Ý)…
Nói thì La De, nhưng viết LA VE, cũng vì một anh Tây ở hãng đã viết và cho in trên cuốn lịch phát hằng năm, màu vàng với con cọp nằm ngang màu đen và viết LA VE LARUE. Dân Tây hồi đó khi mới đến Sài Gòn khi vào những quán ăn gặp cái lịch ấy thường đặt câu hỏi cái hãng nào mà “Rửa Đường, rửa Phố” như vậy, vì học đọc Lave (động từ Laver, rửa, to clean, to wash) la rue (rue là đường phố – street). Để tránh cái ngộ nhận ấy, cá nhơn tôi trưởng Marketing bèn đề nghị thay đổi cách gọi trên tấm lịch ấy. Cũng vì trong cùng thời gian ấy, đang có một chương trình sản xuất một loại Bia Màu, Bia màu Nâu (Bière Brune), nên tôi thưòng dùng chữ Bia hơn chữ La De, gọi Bia Đen, Bia Nâu, Bia Màu nó dễ nghe hơn, cho nên Tết năm 1975, cái lịch cố hữu màu vàng, con cọp đen được in lại với chữ BIA LARUE. Năm ấy, mất luôn chữ La De hay LA VE, ôi thôi đó cũng là cái điềm. Có một cái an ủi, là có những bạn hàng không bằng lòng chữ Bia nói là ở dưới quê (guê) người hổng biết bia là gì nên phải giữ chữ La De. Tôi có cho in thêm 5000 tấm La Ve Larue. Ôi thương làm sao cái tình “miệt Dườn” của “quê hương mình”.
Năm 1976, tôi không ra lịch ra liết gì cả. Chế độ phân phối mà làm gì có marketing.
Tên Anh Victor Larue cha đẻ hãng BGI chỉ có ở Chai La De lớn thôi, phần còn lại không ai nói tới. Mà cũng nực cười. Ổng đẻ ra hãng Nước đá, nhưng tên ổng lại đặt cho La De.
Ngày nay với kỹ thuật mới, bia hơi bán trong thùng sắt có thể giữ được 6 tháng. Còn bia chai giữ được một năm. Chả bù vào những năm 1970 ở Sàigòn chúng tôi chỉ bán Bia Hơi cho những quán nào bảo đảm bán hết thùng bia trong 24 giờ. Sau đó đổi thùng mới, súc hệ thống hơi và vòi, mà phải để nhơn viên BGI làm, mới bảo đảm, vì chúng tôi, hãng BGI bảo đảm an toàn, vệ sanh, và dĩ nhiên hương vị của bia. Vì thế ở Sài Gòn lúc bấy giờ rất ít quán có Bia hơi.
Quý bạn chắc còn nhớ quán bán Bia Bock ở Chợ cũ đường Hàm Nghi cạnh Ty Ngân Khố không ? Chiều chiều ra đấy làm vài ly Bock, ăn một hai hột vịt lộn, hay Bò Bía hết xẩy.
Đó là vài mẫu chuyện của Hãng La De, Nuớc Ngọt, Nước Đá thời của mình. Nay tình cờ có một bài báo viết về La De hay Bia tôi xin phỏng dịch và viết lại hầu quý độc giả, gọi là quà tặng khi vào Mùa Hè.

Theo Phạm Văn Song & blogger Nguyễn Ngọc Chính

Những hình ảnh đẹp về Sài Gòn năm 1955 của nhiếp ảnh gia Raymond Cauchetier

709 views

Raymond Cauchetier là một nhà nhiếp ảnh nổi tiếng người Pháp sinh vào ngày 10 tháng giêng 1920 tại thủ đô Paris. Khi ông 31 tuổi (1951), ông cùng quân đội Pháp đến dán đảo Đông Dương và trong thời gian ông ở Việt Nam, ông đã thực hiện rất nhiều bộ ảnh về đời sống hàng ngày của lực lượng không quân Pháp cũng như những bộ ảnh về danh lam thắng cảnh và con người Việt Nam sau khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt.
Năm 1955, ông đã cho xuất bản cuốn sách ảnh thứ hai có tên “Saigon” và những hình ảnh sau được trích từ quyển sách này của ông.

Người đẹp Sài Gòn
Người đẹp Sài Gòn
Một điểm chiếu phim thoát y ở Chợ Lớn (1955)
Một điểm chiếu phim thoát y ở Chợ Lớn (1955)
Đằng trước nhà hát lớn Sài Gòn
Đằng trước nhà hát lớn Sài Gòn (1955)
Lăng Ông (Bà Chiểu) 1955
Làm phước ở đền và mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt hay còn được gọi là Lăng Ông (Bà Chiểu) vì nằm ở khu vực chợ Bà Chiểu (1955)
Lăng Ông (Bà Chiểu) 1955
Đền và mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt hay còn được gọi là Lăng Ông (Bà Chiểu) vì nằm ở khu vực chợ Bà Chiểu (1955)
Quán hàng trà ở Chợ Lớn
Quán hàng trà ở Chợ Lớn (1955)
Đi dạo ở Vườn Bách Thảo
Đi dạo ở vườn Bách Thảo Sài Gòn (1955) – Năm 1956 vườn Bách Thảo được tu sửa, tái thiết và đổi tên là Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Người đàn bà bán thuốt lá trên vĩa hè
Người đàn bà bán thuốt lá trên vĩa hè (1955)
Người hút gió ở Sài Gòn (1955)
Cảnh người hút gió ở Sài Gòn (1955)