Thời Pháp Thuộc - Page 2

Chuyện về những chai bia của hãng BGI ở Sài Gòn trước 1975

5002 views

Đã từ lâu rồi anh chị em bạn bè khi gặp tôi, sau khi biết tôi đã từng làm việc tại hãng BGI, Sàigòn, tức là hãng Brasseries, Glacières d’Indochine, công ty chủ nhà máy nấu La De ở Chợ Lớn, cạnh sân vận động Cộng Hòa (sân vận động Thống Nhất ngày nay – HNVĐ), đều yêu cầu tôi phải viết về La De, kể những giai thoại về La De.
Câu chuyện thường được mọi người nhớ về La De, thường hỏi tôi, là chuyện chai La De lớn đặc biệt gọi là La De Trái Thơm. Theo lời đồn, trong mỗi thùng 6 chai chỉ có một chai Trái Thơm, giá đặc biệt và cũng là quà tặng đặc biệt mỗi khi có khách quý. Ai đã được uống La De Trái Thơm đều khen là ngon đặc biệt, và khen ngon hơn chai La De thường. Thiệt tình mà nói là La De Trái Thơm, La De thường, La De Quân tiếp Vụ cũng là một thứ, vô chai có hình trái thơm thì nó Trái Thơm, vô chai thường thì nó là La De thường, gặp chai Quân tiếp Vụ thì nó biến thành La De Quân tiếp Vụ. Hãng BGI lúc ấy chỉ có nấu hai loại La De thôi :

1) La De thường: vào chai lớn (dung tích 66) thường gọi La De Con Cọp vì chai có cái đầu con cọp màu vàng và để nhãn hiệu Bière Larue.
2) La De 33: nấu thơm hơn, độ rượu nhiều hơn, vị uống đậm đà hơn, vô chai nhỏ (dung tích 33), tên thường gọi là Bia Băm Ba, nhãn hiệu là Bière 33 Export.

Vậy mà có người khen chê cho La De Trái thơm là ngon nhứt, xong đến La De Con Cọp và hạng chót là La De Quân tiếp Vụ. QTV dỡ nhứt vì là cho Quân đội uống. Chẳng qua là cái mã ở ngoài cả. Thế mới biết ở đời chỉ trọng cái bề ngoài. Quý vị nghĩ coi nấu 2 loại Bia đã tóe phở, học xì dầu hơi đâu, BGI đâu có quởn nấu ba bốn loại còn vô chai vô cộ, đổi kíp đổi người. Phức tạp lắm. Nội cách đổi vỏ chai cho hạp với rượu cũng đủ hao tiền. Nhưng cắt nghĩa hổng ai tin. Ông Cụ Bà Cụ tui, hễ khi tui đến nhà chơi, chẳng may lấy La De Quân Tiếp Vụ uống, vì ổng có hàng QTV do mấy chú em tui đem về, thì bà bảo : “Nhà hết La De để mẹ đưa tiền chú Thanh, chú Thanh là anh tài xế phục vụ ông cụ đi mua La De về cho con uống chứ uống chi đồ QTV dở lắm, để các em của con lính tráng nó uống, nó quen rồi”. Tôi có trả lời cắt nghĩa cho bà hiểu là chỉ có một thứ bả không tin. Thiệt “Bụt nhà hổng thiên” !

CÂU CHUYỆN LADE TRÁI THƠM

Lúc ấy là năm 1973, tôi làm chánh sở Tiếp thị (Chef du Service Marketing), coi luôn phần quảng cáo. Để hà tiện tiền làm nhãn ở Pháp, tôi sử dụng văn phòng quảng cáo của hãng, tôi nghĩ anh họa sĩ văn phòng quảng cáo (chuyên vẽ những fond cho các xe của hãng rồi các anh thợ sơn đồ chép lại) đủ tài nghệ chép lại cái nhãn đặt ở Pháp. Và tôi nhờ anh họa sĩ vẽ lại cái nhãn. Trên nhãn cái đầu con cọp vàng ở giữa hai bên có hai tràng hoa houblons, là loại hoa dùng để thêm cái vị nhẫn đắng vào bia. Nấu bia ngon dỡ là do cái tài thêm ít hoa houblon, cũng như gia vị ngũ vị hương trong nghề bếp núc Việt Nam ta vậy.
Nhãn vẽ xong đại khái cũng tạm ổn, vì anh họa sĩ nhà chưa bao giờ nhìn thấy hoa houblon, nên đinh ninh thấy hoa houblon giống trái thơm, cho là Trái thơm, và vẽ giống trái thơm. Các ông giám đốc Tây cũng ba chớp ba nháng, kể cả anh chánh sở trách nhiệm là tui, cũng thế.
Vì thiệt tình mà nói thì có ông nội nào thấy hoa houblon tươi đâu? Biết là houblon nhưng chỉ nhìn thấy hoa dưới dạng khô. Còn các anh kỹ sư nhà máy, các anh nấu rượu (brasseurs – đây là một cái nghề riêng) dân La De thiệt, thì ở nhà máy. Bọn quyết định là dân Văn phòng, dân làm Marketing quyết định mọi việc, bổn phận các anh kỹ sư là sản xuất, chỉ sao làm đúng vậy thôi. Quý vị thấy không, không phải chỉ có trong quân đội mới có cảnh lính văn phòng và lính chiến trường. Nhãn ô kê, gởi đi làm décalques đưa qua Công ty Thủy tinh Việt Nam (Khánh Hội) dán vào chai : 100 ngàn chai mới.
Khi đưa vào nhà máy Chợ Lớn, các lão kỹ sư cười vỡ bụng, “hoa houblon sao giống trái thơm thế nầy”. Nhưng đã nói các quan văn phóng là chánh mà, nên quyết định, cứ trộn chai mới vào với đám chai cũ, lẫn lộn chả ai biết gì đâu, người ta uống La De có ai thèm nhìn nhãn đâu. Chẳng lẽ vất bỏ 100 ngàn chai hay sao ? Vài ông giám đốc còn thày lay dạy đời “Dân Việt Nam không biết uống bia, uống quá lạnh, nhiều khi còn để đông đặc lại (bia đặc), còn thêm nước đá, ngon lành gì, vì vậy trái thơm hay hoa houblon có ai biết chi mô mà ngại ngùng, a – lê ta cứ thế mà làm”. Chàng chánh sở biết thân, im miệng thinh thích, ngậm miệng ăn tiền, phải bảo vệ danh dự anh họa sĩ nhà và danh phong Marketing, dù sao cũng… quê rồi.
Nhưng không ai lường được cái tài doanh nhơn của người Hoa, của con buôn. Các chú Chệt nhà mình ở hãng (rất nhiều nhơn viên người Việt gốc Hoa, buôn bán ở Sàigòn phải biết “cỏn Tung Hỏa”, chẳng những biết nói “Quảng Đông Ngữ” mà cũng phải vài tiếng “Tiều châu ngữ” nữa cũng phải “Kít tèo” hay “Mai xín xắn bù chằn ếch” cho giống người ta, nói tóm lại con buôn giới thương mại phần đông là người gốc Hoa nếu không nói là một số rất đông. Thế là tiếng lành đồn xa tiếng dữ đồn gần, hãng La De vừa sản xuất được một thứ La De hảo hạng, La De trái thơm, một thùng chỉ một chai, để tặng các bạn hàng thứ thiệt, thứ ngon lành, thứ chịu chơi.
Cái luật may rủi, tình cờ, thì khi ra chai và vào thùng thì bao giờ Trái thơm cũng có mặt ở mỗi ngày sản xuất, mấy tay cao thủ bán hàng của hãng cứ thế mà sắp cho mỗi thùng một chai, rất là điệu nghệ, và tuyên truyền nguyên tắc của hãng mỗi thùng một chai. Nhưng khi đi giao hàng (bán sỉ) quý vị ấy tự nhiên đề nghị với các bạn hàng biết điệu nghệ thì có thể thêm 2 hoặc 3, thậm chí cả thùng toàn La De trái thơm tùy theo nét điệu nghệ và chịu chơi của thân chủ, “phép vua thua lệ làng” mà lỵ, phép hãng đấy, nhưng thua nghề của chàng. Và cứ thế giòng sông thương mại trôi theo giòng điệu nghệ, ăn nhậu.
Các bars, các quán nhậu cũng tùy điệu nghệ với các ông Thầy, ông Xếp, đàn anh… mà điệu nghệ giành chai La De Trái thơm cho người mình muốn nâng bi, ca tụng hay ca bài con cá. Cá nhơn tui đây, dân La De thứ thiệt, thế mà khi đi nhậu vẫn được bạn hàng và nhiều khi cả nhơn viên (cho biết khi cái dỏm trở thành huyền thoại thì cái dỏm trở thành cái thiệt) thương tình tặng một chai Trái Thơm. Nhưng mình cũng phải ngậm miệng khen ngon và cám ơn các cảm tình giành riêng ấy, và vì huyền thoại đã đến hồi quyết liệt, làm vỡ “mộng ban đầu”, e có thể “lãnh thẹo”.
Huyền thoại vẫn dai dẳng đến sau 30 tháng Tư, dân bộ đội, hay người “Hà Lội” cũng bị huyền thoại Trái Thơm. Nhiều tay nón cối dép râu, cũng chạy vào văn phòng ông giám Đốc, (sau Tết 1975, tôi được bổ nhiệm làm Giám Đốc Thương mại) làm quen, và xin ông GĐ đặc biệt “tặng không” vài chai Trái Thơm, hoặc thưởng thức Bia Trái thơm “cho biết”. Tội nghiệp, rất nhiều tay vượt Trường Sơn chỉ muốn uống Coca Cola “cho biết” (Tiếng Tây có thành ngữ “pour ne pas mourir idiot” – để khỏi chết ngu đần). Vì ta là quân chiến thắng nên chỉ xin thôi, và chỉ nhận quà cáp, của tặng, chứ không có mua bán gì cả.

XUẤT XỨ CỦA HÃNG BGI

BGI viết tắt của Brasseries (hãng nấu bia) Glacières (hãng nước đá) d’Indochine (Đông Dương) tức là Hãng bia và nước đá Đông Dương. Khởi đầu, BGI thâm nhập miền Nam chỉ với mục đích sản xuất nước đá để tiêu thụ tại một xứ nhiệt đới, do một anh kỹ sư Công Nghiệp (Arts et Métiers – Paris) sĩ quan hàng hải, Victor Larue, giải ngũ tại Sài Gòn thành lập năm 1875. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, BGI bắt đầu chuyển sản xuất bia và nước giải khát. Nhà máy BGI nổi tiếng nhất và lâu đời nhất là Nhà máy bia Chợ Lớn và Usine Belgique được xây dựng từ năm 1952.
Văn phòng BGI nằm trên đường Hai Bà Trưng cạnh hãng Nước Đá. Đấy là tên cúng cơm. Sau năm 1954, sau khi hết Indochine (Đông Dương), BGI bèn biến chữ I thành Internationales (Quốc tế). Mà Công ty Brasseries Glacières Internationales thiệt sự internationales thứ thiệt. Một ông cựu Tổng Giám đốc, ông Grandjean, con một cựu quan chức thuộc địa ở Hà Nội, còn cá nhơn ông lại là một cựu luật sư thuộc Luật sư đoàn Hà Nội, đã tả BGI bằng một câu xanh dờn, ví BGI như đế quốc của Đại đế Charle Quint thời Phục Hưng ở Âu Châu “Mặt Trời không bao giờ lặn trên đất của hãng BGI”. Mà thiệt vậy, BGI có nhà máy nấu La De từ Tân Đảo (Nouvelle Calédonie) đến Guayane nằm cạnh Brazil, thì không đi vòng thế giới sao ? Chưa kể ở Phi Châu, Đông Dương và thậm chí có mặt ở một nước Hồi giáo, Indonésia, nhà máy do tôi thương thuyết thành lập ở thành phố Médan trên đảo Sumatra (đây là một tự hào của cá nhơn tôi, thành tích bán rượu cho dân Hồi giáo).
Ngoài Bia 33, BGI còn sản xuất các loại bia mang nhãn hiệu Bière Royale, Bière Hommel (bia nhẹ) và Tiger Beer (người ta thường gọi là “bia con cọp” vì có nhãn hiệu hình con cọp).
Năm 1975, BGI cũng vừa đủ 100 tuổi. Sau khi Sài Gòn đổi tên, chính quyền tịch thu tài sản của chủ Pháp và Nhà máy bia Chợ Lớn trở thành Bia Sài Gòn và Usine Belgique cũng đổi thành Chương Dương, nhưng vẫn là các nhà máy sản xuất nuớc giải khát.

VỀ BIA 33

Bia 33

Về sau BGI cũng từ từ rút các cơ sở nhà máy, bán dần dần và nay không còn gì cả. Chỉ còn có mỗi Bia 33, chai nhỏ 33 phân khối. Tên bia 33 khai sanh tại Hà Nội năm 1949.
Ngày hôm nay Bia 33 cũng tỵ nạn tại Đan Mạch (do Hãng Carlsberg – Đan Mạch sản xuất). Bia 33 vì sanh ở Hà Nội nên dân Sài Gòn vẫn gọi “Bia 33” (gọi theo dung tích), hay vắn tắt “Băm Ba”. Còn chai bia lớn gọi La De Con Cọp, hay La De lớn (vì dung tích 66 phân khối).
Còn bia 333 bây giờ, nếu nhìn kỹ cái nhãn của 333 và 33 hồi xưa thì chỉ thêm số 3 thôi, cái người tác giả của 333 đó là anh Chương lúc bấy giờ ảnh làm trong hãng Marketing với tui (cũng là người vẽ nhãn cho bia LADE trái thơm), ảnh vẽ quẹt thêm số 3 nữa.
BGI đã tự hào là “Một loại bia 5 châu lục” thông qua việc xuất cảng Bia 33 ra khắp thế giới. Trong mẫu quảng cáo dưới đây ta thấy chữ “Bia” được hiển thị qua nhiều ngôn ngữ: Bière (tiếng Pháp), Beer (tiếng Anh), Bier (tiếng Đức), Bir (tiếng Indonesia), Birra (tiếng Ý)…
Nói thì La De, nhưng viết LA VE, cũng vì một anh Tây ở hãng đã viết và cho in trên cuốn lịch phát hằng năm, màu vàng với con cọp nằm ngang màu đen và viết LA VE LARUE. Dân Tây hồi đó khi mới đến Sài Gòn khi vào những quán ăn gặp cái lịch ấy thường đặt câu hỏi cái hãng nào mà “Rửa Đường, rửa Phố” như vậy, vì học đọc Lave (động từ Laver, rửa, to clean, to wash) la rue (rue là đường phố – street). Để tránh cái ngộ nhận ấy, cá nhơn tôi trưởng Marketing bèn đề nghị thay đổi cách gọi trên tấm lịch ấy. Cũng vì trong cùng thời gian ấy, đang có một chương trình sản xuất một loại Bia Màu, Bia màu Nâu (Bière Brune), nên tôi thưòng dùng chữ Bia hơn chữ La De, gọi Bia Đen, Bia Nâu, Bia Màu nó dễ nghe hơn, cho nên Tết năm 1975, cái lịch cố hữu màu vàng, con cọp đen được in lại với chữ BIA LARUE. Năm ấy, mất luôn chữ La De hay LA VE, ôi thôi đó cũng là cái điềm. Có một cái an ủi, là có những bạn hàng không bằng lòng chữ Bia nói là ở dưới quê (guê) người hổng biết bia là gì nên phải giữ chữ La De. Tôi có cho in thêm 5000 tấm La Ve Larue. Ôi thương làm sao cái tình “miệt Dườn” của “quê hương mình”.
Năm 1976, tôi không ra lịch ra liết gì cả. Chế độ phân phối mà làm gì có marketing.
Tên Anh Victor Larue cha đẻ hãng BGI chỉ có ở Chai La De lớn thôi, phần còn lại không ai nói tới. Mà cũng nực cười. Ổng đẻ ra hãng Nước đá, nhưng tên ổng lại đặt cho La De.
Ngày nay với kỹ thuật mới, bia hơi bán trong thùng sắt có thể giữ được 6 tháng. Còn bia chai giữ được một năm. Chả bù vào những năm 1970 ở Sàigòn chúng tôi chỉ bán Bia Hơi cho những quán nào bảo đảm bán hết thùng bia trong 24 giờ. Sau đó đổi thùng mới, súc hệ thống hơi và vòi, mà phải để nhơn viên BGI làm, mới bảo đảm, vì chúng tôi, hãng BGI bảo đảm an toàn, vệ sanh, và dĩ nhiên hương vị của bia. Vì thế ở Sài Gòn lúc bấy giờ rất ít quán có Bia hơi.
Quý bạn chắc còn nhớ quán bán Bia Bock ở Chợ cũ đường Hàm Nghi cạnh Ty Ngân Khố không ? Chiều chiều ra đấy làm vài ly Bock, ăn một hai hột vịt lộn, hay Bò Bía hết xẩy.
Đó là vài mẫu chuyện của Hãng La De, Nuớc Ngọt, Nước Đá thời của mình. Nay tình cờ có một bài báo viết về La De hay Bia tôi xin phỏng dịch và viết lại hầu quý độc giả, gọi là quà tặng khi vào Mùa Hè.

Theo Phạm Văn Song & blogger Nguyễn Ngọc Chính

Những hình ảnh đẹp về Sài Gòn năm 1955 của nhiếp ảnh gia Raymond Cauchetier

1140 views

Raymond Cauchetier là một nhà nhiếp ảnh nổi tiếng người Pháp sinh vào ngày 10 tháng giêng 1920 tại thủ đô Paris. Khi ông 31 tuổi (1951), ông cùng quân đội Pháp đến dán đảo Đông Dương và trong thời gian ông ở Việt Nam, ông đã thực hiện rất nhiều bộ ảnh về đời sống hàng ngày của lực lượng không quân Pháp cũng như những bộ ảnh về danh lam thắng cảnh và con người Việt Nam sau khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt.
Năm 1955, ông đã cho xuất bản cuốn sách ảnh thứ hai có tên “Saigon” và những hình ảnh sau được trích từ quyển sách này của ông.

Người đẹp Sài Gòn
Người đẹp Sài Gòn
Một điểm chiếu phim thoát y ở Chợ Lớn (1955)
Một điểm chiếu phim thoát y ở Chợ Lớn (1955)
Đằng trước nhà hát lớn Sài Gòn
Đằng trước nhà hát lớn Sài Gòn (1955)
Lăng Ông (Bà Chiểu) 1955
Làm phước ở đền và mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt hay còn được gọi là Lăng Ông (Bà Chiểu) vì nằm ở khu vực chợ Bà Chiểu (1955)
Lăng Ông (Bà Chiểu) 1955
Đền và mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt hay còn được gọi là Lăng Ông (Bà Chiểu) vì nằm ở khu vực chợ Bà Chiểu (1955)
Quán hàng trà ở Chợ Lớn
Quán hàng trà ở Chợ Lớn (1955)
Đi dạo ở Vườn Bách Thảo
Đi dạo ở vườn Bách Thảo Sài Gòn (1955) – Năm 1956 vườn Bách Thảo được tu sửa, tái thiết và đổi tên là Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Người đàn bà bán thuốt lá trên vĩa hè
Người đàn bà bán thuốt lá trên vĩa hè (1955)
Người hút gió ở Sài Gòn (1955)
Cảnh người hút gió ở Sài Gòn (1955)

Bộ Ảnh Hiếm Về Nhà Máy Sản Xuất Thuốc Phiện Đầu Tiên Tại Sài Gòn

709 views

Năm 1881, một nhà máy sản xuất thuốc phiện lớn đã được người Pháp cho xây dựng ở trung tâm Sài Gòn, vị trí nhà máy ngày nay thuộc khu phố 4 phường Bến Nghé, Q1, TP HCM.

Ít ai biết rằng thời Đông Dương toàn quyền thuộc pháp, mảnh đất Sài Gòn chúng ta từng có một nhà máy chế biến thuốc phiện rất lớn mà sau này thuốc phiện còn được biết tới với cái tên “nàng tiên nâu”, là nhựa được trích ra và chế biến từ quả của cây thuốc phiện (hay cây anh túc).

Nhà Máy Sản Xuất Thuốc Phiện Đầu Tiên Tại Sài Gòn
Vị trí của nhà máy chế biến thuốc phiện trên bản đồ Sài Gòn cách đây hơn 100 năm do người Pháp vẽ, theo đó quý vị nhìn trong hình sẽ thấy xí nghiệp sản xuất “Thuốc Phiện” này nằm ở số 74 Rue Paul Blanchy, nay là nhà hàng The Refinery số 74 đường Hai Bà Trưng, gần phía sau Nhà hát Thành phố.

Vào thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hầu hết các quốc gia Châu Á và Châu Âu chìm ngập trong làn khói thuốc phiện. Mặc dù biết tác hại của thứ chất gây nghiện này là rất khủng khiếp, song vì lợi nhuận mà chính quyền Pháp vẫn cho phép buôn bán và chế biến thuốc phiện ngay tại mảnh đất Sài Gòn.

Nhà Máy Sản Xuất Thuốc Phiện Đầu Tiên Tại Sài Gòn
Công xưởng chính, nơi diễn ra các công đoạn quan trọng nhất của việc chế biến thuốc phiện.

Vào những năm 1880, khi lần đầu tiên người Pháp xuất hiện tại Sài Gòn cho tới năm 1861, khi miền Nam nước ta còn nằm dưới quyền bảo hộ của Pháp. Thuốc phiện được sử dụng rất ít ở Sài Gòn, tuy nhiên theo làn sóng Hoa Kiều nhập cư, thuốc phiện dần lan rộng, được sử dụng nhiều hơn, lúc này, những nhà máy chế biến cũng dần xuất hiện ngay giữa trung tâm Sài Gòn.

Nhà Máy Sản Xuất Thuốc Phiện Đầu Tiên Tại Sài Gòn
Ở thời kì này, thuốc phiện được đóng vào từng hộp nhỏ bằng đồng với 5 loại trọng lượng khác nhau: 5g, 10g, 20g, 40g hay 100g tùy theo nhu cầu của người mua.

Trong tình cảnh đó, chính quyền thuộc địa Pháp đã quyết định cho phép buôn bán ma túy công khai nhằm thu một khoản thuế khổng lồ, lên tới hàng triệu đồng piastres (đơn vị tiền tệ khi đó ở Đông Dương).

Nhà Máy Sản Xuất Thuốc Phiện Đầu Tiên Tại Sài Gòn
Ngoài ra, các công trình trong khuôn viên nhà máy gồm có công xưởng, văn phòng quản lý, nhà kho, bốt bảo vệ, phòng đóng gói, phòng động cơ hơi nước, phòng thí nghiệm hóa học…,những tòa nhà chính vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay!

Nguyên liệu đầu vào của nhà máy này là thuốc phiện thô nhập từ Vân Nam (Trung Quốc) hoặc thuốc phiện Benares (từ Ấn Độ). Phương pháp sản xuất tại đây giống cách chế biến thuốc phiện của người Quảng Đông nhưng có thêm sự trợ giúp của dây chuyền Tây Âu nhằm tăng năng suất, theo đó, một mẻ thuốc phiện sẽ ra lò sau 3 ngày chế biến trong xưởng. Ở thời kì này, thuốc phiện được đóng vào từng hộp nhỏ bằng đồng với 5 loại trọng lượng khác nhau: 5g, 10g, 20g, 40g hay 100g tùy theo nhu cầu của người mua. Trên nắp các hộp thuốc đều có ghi chữ B (Benares) hoặc chữ Y (Vân Nam) tượng trưng cho nguồn gốc xuất xứ của thuốc.

Nhà Máy Sản Xuất Thuốc Phiện Đầu Tiên Tại Sài Gòn
Thời Pháp thuộc, việc sử dụng thuốc phiện rất phố biến trong dân cư người Hoa. Một bộ phận có điều kiện thường hút thuốc phiện ở nhà, trong khi giới bình dân hút tại các “động” nha phiến, có rất nhiều ở Sài Gòn và Chợ Lớn.

© Fb/ Sài Gòn xưa

200 năm xe đạp: những ký ức không bao giờ lãng quên

669 views

Đó là vật dụng một thời theo mẹ ra chợ, đưa cha đi làm, cùng con đến trường và cũng gắn với tình yêu qua “những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng”…
Nhưng có lẽ không mấy ai để ý một điều: chiếc xe đạp “chào đời” ngày nào? Cách đây 200 năm, nam tước người Đức Baron Karl von Drais ra mắt công chúng chiếc xe có biệt danh “ngựa gỗ” vào năm 1817 và đó cũng được xem là ngày xe đạp ra đời.
Chiếc xe đạp theo chân người Pháp vào Việt Nam từ thế kỷ 19, nhưng sức phổ biến của nó trong đời sống người dân Việt chỉ thật sự thể hiện sau đó vài thập niên. Có lúc nó đã có thời hoàng kim khi là phương tiện chính để đi lại của người dân đô thị.

Xe đạp ở Sài Gòn ngày xưa

Chú Nguyễn Cương Phú – năm nay 80 tuổi, từng là cư dân ở ngã ba Cây Thị, Xóm Gà, Gia Định – kể: Cuối thập niên 1940, xe đạp, lúc đó gọi là xe máy, tuy đã bán ra khá nhiều nhưng không phải ai cũng có thể có nó dễ dàng.
Nhiều nhà phải dành dụm thời gian dài mới sắm được và phải đi từng bước, mua xe cũ rồi tiến lên mua xe mới. Thời đó trừ một số ít người có xe hơi, ai nấy đi đâu thì cuốc bộ, đi xa thì dùng xe ngựa. Ai sắm được xe đạp thì rất sướng, chủ động đến nơi mình muốn, thênh thang trên đường lộ là cảm thấy vui và có chút hãnh diện.
Lúc đó còn là chú bé mới hơn mười tuổi, chú Phú mừng rơn khi bố dắt về chiếc xe đạp kiểu nam mua ở cửa hàng với giá gần 300 đồng bạc Đông Dương. Ngày nào bố không đi đâu, chú mượn chiếc xe ra tự tập.
Chân chưa đủ dài để ngồi trên yên hoặc trên khung đạp được một vòng bàn đạp, chú luồn chân phải qua dưới ống sườn ngang để chạm bàn đạp phải. Bọn trẻ cùng xóm đứng xem trầm trồ ngó chiếc xe mơ ước đó.

Xe đạp Sài Gòn xưa

Từ hàng ngoại nhập đến xe sườn ống nước

Xe đạp ở Sài Gòn kể từ thập niên 1940 trở đi không cần phải đăng ký, mang biển số, không phải kê khai lý lịch và cũng không phải mua bảo hiểm. Người ta chỉ cần một tờ giấy mua bán hoặc giấy mua bán viết tay, có chính quyền địa phương thị thực là đủ.
Giá cả thì rất phù hợp với túi tiền người dân. Có xe rồi, chỉ cần mua một ổ khóa nho nhỏ kèm sợi dây xích (gọi là khóa “ăn-ti-vôn” – đọc trại từ tiếng Pháp antivol – khóa chống trộm) khóa lại là xong. Thời đó hầu như không có trường hợp bẻ khóa ăn cắp xe, tất nhiên vẫn có người mất xe do lơ đễnh, quên khóa.
Đến thập niên 1950 là thời hoàng kim của xe đạp ở Sài Gòn. Số xe đạp được dùng ở thành phố này tăng lên ngày càng nhiều, thầy thợ đều có xe để đi làm các công tư sở.
Các trường trung học, trường nữ như Marie Curie, trường nam như Taberd, Chasseloup Laubat hầu như học sinh đều dùng xe đạp làm phương tiện di chuyển đến trường và về nhà.
Mức độ thông dụng của xe đạp gần như nó là đôi chân của con người. Một người từ tỉnh lên Sài Gòn chỉ cần đạp xe từ nhà ra bến xe đò, mua vé. Lơ xe đứng trên mui xe đón chiếc xe do khách tự đưa lên hoặc do người phụ lơ đưa lên mui.
Họ ràng buộc rất chắc chắn, khách vô ghế ngồi. Xe đến Sài Gòn, lơ xe cởi dây thả xe xuống, khách nhận xe đạp đến địa chỉ cần tìm. Chẳng phải đi bộ bước nào. Ai nấy đều thấy quá tiện lợi, thậm chí có xe gắn máy cũng không làm được như vậy vì nặng nề.
Người dân Sài Gòn từ thầy, thợ, học sinh, đàn ông, đàn bà… hầu như ai cũng biết “cỡi” xe đạp. Tùy hoàn cảnh và địa vị trong xã hội mà người ta sắm những chiếc xe đạp phù hợp. Việc di chuyển bằng xe thổ mộ (xe ngựa) giảm dần, để rồi sau đó hầu như chỉ dành cho tiểu thương vận chuyển hàng từ nhà quê, ngoại thành ra các chợ và trở về khi chợ tan.
Cùng với sự phát triển xe đạp, sau này xe xích lô trở thành phổ biến. Nhà nào dù giàu hay nghèo cũng phải có ít nhất một chiếc xe đạp, đặc biệt ở các nữ sinh trung học, hầu như cô nào cũng có một chiếc xe đạp nữ với kiểu dáng thanh thoát.
Để tà áo dài của các cô nữ sinh khi di chuyển không bị dính vô các cây căm (nan hoa) của xe, bánh sau xe đạp nữ có thêm hai mảnh lưới đan nhiều màu sắc rực rỡ, che phủ gần phân nửa bánh sau, khiến chiếc xe nhìn càng duyên dáng.
Các loại xe đạp thời bấy giờ: kiểu xe chắc chắn, loại phổ thông là xe nam với ghiđông (tay cầm) hình chữ U, hai tay nắm vểnh cao để người điều khiển không phải cong người khi đạp cho xe di chuyển.
Loại này yên to, có lò xo dưới yên, còn poọc-ba-ga (porte bagage) được làm bằng thanh sắt đặc rất cứng. Hai tay thắng cũng bằng thanh sắt đặc uốn lượn theo ghiđông, song song với cổ xe, xuống đến đầu thắng.
Xe tuy cổ kính, nặng nề nhưng rất chắc chắn, người Hoa thường dùng loại xe này chở hàng. Có người đồn rằng ống tuýp để hàn sườn xe được hàn bằng ống tuýp nước, vừa rẻ vừa cứng chắc.
Xe kiểu cách, thời trang thường được nhập từ Pháp như các hiệu Reynold, Royal Stella, Peugeot. Các loại xe mang thương hiệu này là cao cấp nhất.
Giới thượng lưu chơi xe, thích nhất là sườn xe được làm bằng chất liệu nhẹ, chuộng nhất ở hiệu Reynold, với giá cao. Trong giới đua xe đạp, sườn xe đạp đua được ưa chuộng chỉ có hai loại, nhất là tuýp Reynold, nhì là tuýp hiệu Tube.
Xe nữ thì thanh tuýp ngang của xe nam được hạ xuống, chéo từ cổ xe xuống gần bàn đạp của trục yên xe. Riêng xe Royal Stella và Peugeot thì thanh chéo này được làm bằng hai thanh tuýp song song, uốn lượn xuống gần trục bánh xe sau.
Các cửa hàng buôn bán xe và phụ tùng ở Sài Gòn nhái theo các kiểu cách xe nhập cảng, hàn khung xe… nhưng do kỹ thuật hàn chưa tốt và chất liệu ống tuýp thường dày hơn xe Pháp, nên trọng lượng xe thường nặng hơn xe nhập cảng cùng kiểu cách, có khi nặng hơn gấp rưỡi, lại dễ bị đứt mối hàn ở cổ xe, khiến người điều khiển bể mặt, gãy răng là chuyện thường, nhất là trong giới xe đua.
Nhưng sau một thời gian xe nội địa biết rút kinh nghiệm, sản xuất sườn xe có chất lượng tốt hơn, kịp thời theo được mẫu mã của xe nhập cảng, đẹp hơn lên dù giá cả chỉ bằng 50-70% giá xe nhập.
Nói chung, hồi đó tuy không có quy chuẩn cho một chiếc xe đạp hoàn chỉnh nhưng người ta cũng dựa vào thị hiếu và lượng nhu cầu tiêu thụ mà hình thành các quy chuẩn như: đường kính bánh xe nữ là 650, xe nam là 680 và xe đua là 700mm.

Xe đạp Sài Gòn xưa

Cơn sốt xe mini từ ca sĩ Thái Hiền

Có người kể rằng thời gian trước thập niên 1940, từ đường Nancy (nay là Nguyễn Văn Cừ) trở ra, hai bên đường Galliéni (Trần Hưng Đạo) có hai con đường nhỏ chạy song song, người ta cắm bảng hướng dẫn ghi bằng tiếng Tây “Piste réservée pour cyclistes” (đường dành riêng cho xe đạp).
Đi xe đạp khi ấy cũng phải đóng thuế, kể cả học sinh dù không có tiền. Mỗi xe nộp thuế ba đồng, cò Tây mới phát cho tấm plaque bằng nhôm chừng hai ngón tay để gắn vào xe. Buổi tối, xe đạp ra đường mà không có đèn hoặc không có plaque thuế thì xe bị chở về phú-de. Nhiều học sinh muốn trả đũa bèn gắn tấm plaque dưới đít yên xe.
Mỗi lần, mấy thầy phú-lít hỏi thẻ thuế, họ lấy tay chỉ xuống dưới đít, bắt buộc thầy chú, kể cả cò Tây, phải cúi xuống dưới đít họ nhìn mới thấy. Về sau Tây biết sự tình bèn ra lệnh gắn plaque thuế “ở chỗ dễ thấy nhất”, nếu không thì phạt.
Số lượng xe đạp bán ra thị trường lên đến đỉnh điểm có lẽ khoảng từ năm 1954 – 1960. Sau đó giảm dần vì đã có nhiều loại xe máy nhập về từ Vélo SoleX đến Mobilette, CNC, rồi motobécane và xe bốn bánh. Thời hoàng kim của xe đạp kết thúc, trở thành một phương tiện di chuyển phổ thông của giới bình dân và học sinh.
Đến cuối thập niên 1960 và những năm sau đó, ở Sài Gòn có lúc quay lại đi xe đạp nhiều hơn. Lúc đó xe buýt xanh, xe buýt vàng lỗ lã nên đã tạm ngưng, nhường chỗ cho xe lam một thời gian rồi xe buýt quay lại. Phải công nhận vai trò của xe buýt lợi hại.
Em gái của người viết lên 10 tuổi, học sớm một năm, đậu vào đệ thất (lớp 6) Trường Gia Long, từ Phú Nhuận đến trường ở đường Phan Thanh Giản chỉ đi xe buýt là tiện vì nhỏ quá, chưa dám đi xe đạp. Nhưng những người trưởng thành, nhất là giới sinh viên học sinh, trở lại với chiếc xe đạp khi giá xăng dầu giai đoạn sau năm 1972 bắt đầu lên cao.
Lần trở lại này xuất hiện loại xe đạp mini dành cho nữ giới hình dáng tương tự xe Cady (motobecane). Loại xe này sau đó trở nên rất phổ biến sau đoạn phim Tuổi thần tiên với giọng ca Thái Hiền, các diễn viên vừa đạp xe mini vừa hát.
Xe có kiểu dáng khác xe đạp thông thường với sườn xe cong cong, tay lái hình chữ U vút lên, bánh xe nhỏ. Xe đạp mini cùng người cưỡi là cô gái mặc quần ống loe, tóc dài là hình ảnh rất quen thuộc thời đó. Có xe nhập và xe Ý sản xuất sườn, vè trong… Chợ Lớn.
Báo chí lúc đó thấy xe đạp rộ lên quá, than là “xe đạp vẫn hoàn xe đạp” (Thời Nay ra ngày 14-9-1974). Ai nói mặc kệ, ở nhà người viết, hai bà chị còn tuổi đi học mê xe đạp mini quá, còng lưng sau giờ học ngồi đan mành cửa bằng ống hút xanh đỏ để có tiền mua xe đạp. Vậy mà cuối cùng cũng thửa được một chiếc xe màu xanh.
Xe đạp mini là cơn sốt của giới trẻ lúc đó, còn những người khác vẫn thích đi xe máy, đi đâu cũng nhanh, không phải mướt mồ hôi dưới trời nắng. Vả lại lúc đó cây xanh nhiều, đường phố vắng, chuyện hít khói xăng, hít không khí ô nhiễm vào phổi không thành vấn đề.
Nhưng đó vẫn không phải là thời hoàng kim tái lập của xe đạp, mà là sau năm 1975 giai đoạn kinh tế bao cấp và xăng dầu trở nên khan hiếm.
Lúc đó xe đạp lên ngôi vì không uống xăng, xe mới chủ yếu là sản xuất trong nước từ các cơ sở sản xuất tư nhân, nguyên liệu thì thượng vàng hạ cám, xe đang chạy bị gãy sườn là bình thường vì có khi lấy sắt thùng phuy ra chế sườn xe.
Chợ Tân Thành ở Q.5 trở thành nơi chuyên doanh phụ tùng sản xuất từ Chợ Lớn xài đỡ vì có còn hơn không. Dây sên được lộn tới lộn lui, vỏ xe đắp, ruột vá chằng chịt. Giai đoạn này kéo dài đến hết thập niên 1980, kéo qua đầu thập niên 1990 mới chấm dứt.
Với xu thế ngày càng xem trọng môi trường sống, giảm ô nhiễm khí thải, chú trọng vận động cơ thể, biết đâu sẽ có lúc thời hoàng kim của xe đạp ở Sài Gòn và các đô thị ở Việt Nam quay lại như đang diễn ra ở Amsterdam (Hà Lan), Washington, Seattle và New York bên Mỹ.

© bài viết của tác giả Đăng Thuyên đăng trên Tuổi Trẻ Xuân Đinh Dậu 2017

Lý giải tên gọi “Hòn ngọc Viễn Đông” của Sài Gòn xưa

919 views

Trước tiên thử xét đến cụm từ “Hòn ngọc Viễn Đông”. Trong quyển sách France in Indochina: Colonial Encounters (Nước Pháp ở Đông Dương: các cuộc đụng đầu thuộc địa), xuất bản năm 2001, tiến sĩ Nikki Cooper, Đại học Bristol, giải thích quá trình Pháp chiếm Đông Dương làm thuộc địa như sau:
Quá trình thực dân hóa nhiều vùng lãnh thổ khác nhau mà sau này tạo nên xứ Đông Dương thuộc Pháp diễn ra trong nhiều năm. Người Pháp trước tiên chinh phục ở phần đất phía nam tại Nam kỳ trong thập niên 1860. Suốt 30 năm tiếp theo, nước Pháp đã vững vàng tiến lên phía bắc, chiếm thêm Trung kỳ, Bắc kỳ và cả Campuchia lẫn Lào. Các vùng đất này đã được chính thức gộp chung lại dưới tên gọi “Đông Dương thuộc Pháp” vào năm 1885.
Mong muốn tạo lập một đế chế thuộc Pháp tại Đông Nam châu Á ấy, đã phần nào tạo động lực ganh đua với đế quốc Anh. Đông Dương thuộc Pháp được dự kiến sẽ cạnh tranh với Ấn Độ thuộc Anh. Pháp tạo ra “Hòn ngọc Viễn Đông” để đối ứng với Ấn Độ mà Anh “tấn phong” là “viên châu báu trên vương miện”.
Như vậy cụm từ “Hòn ngọc Viễn Đông” đầu tiên sử dụng cho toàn cõi vùng đất Đông Dương, sau này không ít người ghép nó với danh xưng Sài Gòn là vùng đất đầu tiên người Pháp chiếm được ở Đông Dương giữa thế kỷ 19.
Danh xưng có lẽ muốn vừa nói đến thực chất tươi đẹp và thịnh vượng của Sài Gòn, cũng vừa mang tính chất tượng trưng lẫn định hướng phát triển.
Ý đồ ban đầu của thực dân Pháp là đầu tư mạnh mẽ vào Sài Gòn, có quy hoạch xây dựng phù hợp để thành phố này trở thành thủ phủ của Đông Dương; nhưng thật sự là không có căn cứ nào để nói Sài Gòn từng là thành phố được đánh giá số 1 của cả khu vực Đông Nam Á vào thời điểm đó.

Logo Huy Hiệu Saigon
Huy hiệu của Sài Gòn từ năm 1870, thời Pháp thuộc

Bừng sáng giữa vùng rừng ngập nhiệt đới

Xưng tụng Sài Gòn là “Hòn ngọc Viễn Đông” còn mang nhiều yếu tố tâm lý của khách lữ hành phương Tây.
Anh bạn kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn có lối lý giải khá độc đáo: “Sau chuyến hải hành kéo dài cả tháng trời, từ hải cảng Marseille miền nam nước Pháp qua Địa Trung Hải, xuyên kênh đào Suez vượt Ấn Độ Dương sóng to gió lớn, lách qua eo biển Malacca vào vịnh Ghềnh Rái, không khó để suy ra tâm trạng mệt nhọc, buồn chán của khách lữ hành, cả tháng ròng chỉ thấy trời và nước.
Cung cuối chặng đường khi trạng thái rã rời đã lên đến đỉnh điểm, chuyến hải trình theo sông Lòng Tàu xuyên qua rừng đước Cần Giờ, một thứ rừng ngập mặn nhiệt đới mà nhiều người châu Âu chưa gặp bao giờ, cảm giác xa lạ tưởng như càng đi càng xa thế giới văn minh phương Tây quen thuộc.
Trong tâm trạng cùng cực của cô đơn ấy, bỗng một chiều bừng sáng một thành phố mang nét phương Tây ngay khi tàu cập cảng Sài Gòn.
Ngủ khách sạn Continental, khách sạn Majestic, ăn thịt bò beefsteak, uống rượu chát vùng Bordeaux, thưởng thức xì gà La Habana, săn bò rừng, lấy da cọp, hút thuốc phiện và chơi gái xuân thì, với thủy thủ tàu viễn dương và đám thực dân đến từ Viễn Tây, Sài Gòn được ngợi ca là “Hòn ngọc Viễn Đông” đâu có gì lạ…

Như vùng đất hứa

Huy hiệu Sài Gòn đã nói lên ý hướng phát triển của thành phố thời thuộc địa Pháp. Huy hiệu (logo) đó khắc hình con cọp và cây cảnh Sài Gòn, dưới ghi câu tiếng Latin “Paulatim Crescam” (“Từ từ tôi sẽ phát triển lên”) do Hội đồng thành phố Sài Gòn duyệt năm 1870, làm phù điêu treo ở phòng khánh tiết Dinh xã Tây (Tòa thị chính Sài Gòn) vào năm sau đó. Từ ấy, Sài Gòn không chỉ phát triển từ từ, mà còn phát triển vượt bậc vào hàng nhất nhì trong số các thương cảng thuộc địa Pháp.
Thời gian này nước Pháp đang kinh qua đế chế Napoleon III với nhiều tham vọng thi đua cùng các cường quốc châu Âu khác như Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan, Bỉ… chiếm lĩnh thuộc địa.
Ý đồ này càng mạnh mẽ hơn với sự trỗi dậy của tầng lớp tư sản công nghiệp thời cộng hòa khát khao các nguồn nguyên liệu, thị trường các năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
Một khi đã chiếm lĩnh toàn bộ Đông Dương, người Pháp xây dựng Sài Gòn thành thủ phủ phía Nam, chủ yếu nhằm khai thác nguồn tài nguyên, nhân lực và thị trường rộng lớn một vùng đất gồm Đông Dương, Đông Nam Á và cả miền Hoa Nam của Trung Quốc. Sài Gòn đón nhận những con người năng động nhất đến từ khắp nơi, tìm cách làm giàu ở thương cảng lớn này.
Vết tích kiến trúc nhà cửa của họ hiển hiện khắp nơi: từ mạng lưới ngõ xóm của người Việt, nhà dãy dạng “shophouse” (nửa ở nửa buôn bán) của Hoa kiều Hong Kong, Singapore, Hoa Nam, phố “bazaar” (cửa hàng buôn và ở) của người Chà Chetty (Nam Ấn Độ), rồi người Java, Mã Lai, người Tagal (Philippines), phố Tây, đặc biệt là dạng villa vườn của người Pháp, người Bỉ, người Đức…
Sài Gòn từ thuở ban đầu đã được thể hiện như một khát vọng, một ý chí vươn lên của đế quốc Pháp.

Thế còn… vị thế của “Hòn Ngọc Viễn Đông” trong khu vực ?

Theo các hồ sơ lưu trữ cũng như các nghiên cứu kinh tế Châu Á suốt thế kỷ 20, GDP Việt Nam đều có vị trí rất thấp. Ví dụ, theo thống kê của hai giáo sư kinh tế học Jean-Pascal Bassino và Pierre van der Eng, từ 1913 đến 1970 kinh tế Việt Nam (cả miền bắc và miền nam) hầu như luôn thấp hơn Malaya (tiền thân của Malaysia với Singapore là thủ đô kinh tế), Philippines, Thái Lan (không có số liệu trước 1950).
Tùy thời điểm, GDP Malaya thường gấp đôi đến gấp 3 lần Việt Nam, thì lẽ nào thủ phủ kinh tế của nó chỉ là một làng chài nhỏ và mơ được như Sài Gòn!
Không phải cách đây 50 năm, mà là gần 90 năm (1922), một học giả Việt Nam nổi tiếng là ngài Phạm Quỳnh đã viết trong quyển “Pháp du hành nhật ký” về Singapore thế này:
Mặt trời mới mọc, trông vào bến Singapore, không cảnh gì đẹp bằng, như một bức tranh sơn thủy vậy. Lần này mới được trông thấy một nơi hải cảng là lần thứ nhất, thật là một cái cảnh tượng to tát. Cửa Hải Phòng, cửa Sài Gòn của ta kể cũng khá to, nhưng sánh với cửa Singapore này còn kém xa nhiều. Bến liền nhau với bể, chạy dài đến mấy nghìn thước, tàu đỗ không biết cơ man nào mà kể, tàu của khắp các nước đi tự Á Đông sang Ấn Độ và Âu Tây đều phải qua đấy…
Vào đến trong phố thời nghiễm nhiên là một nơi đô hội của người Tàu, chẳng kém gì thành phố Chợ Lớn. Phố xá đông đúc, san sát những hiệu Khách cả, có mấy dãy phố toàn những nhà tửu lâu khách sạn, ngày đêm tấp nập những khách ăn chơi, người đi lại…
Singapore có thể chia ra hai phần: một phần là phố Khách, một phần là phố Tây; phố Tây cũng sầm uất bằng phố Khách mà lại có cái vẻ nguy nga hơn. Phố Tây ở Singapore này có khác phố Tây ở các nơi khác, nhất là khác các phố Tây của người Pháp ở, như trong các thành phố ta; người Pháp ở đâu thì những nhà lầu to lớn phần nhiều là các dinh thự công sở của Nhà nước; người Anh ở đâu thì những nhà lầu to lớn là các cửa hàng, các hội buôn, các công ty, các ngân hàng. Những hàng buôn của người Anh ở Singapore thật là những lâu đài vĩ đại, có khi chiếm từng dãy phố dài. Ngoài các phố phường buôn bán, đến những nơi nhà ở riêng, làm theo lối “biệt thự” (villas) của người Anh, nhà xây ở chỗ đất cao, chung quanh vườn rộng, xe hơi chạy lùng khắp được. Những nhà ấy phần nhiều của người Anh, nhưng cũng có nhà của các chủ hiệu Khách lớn; ban ngày xuống phố làm việc, chiều tối về nhà riêng nghỉ. Xe hơi ở Singapore, thật không biết cơ man nào mà kể, nào xe riêng, nào xe thuê, cả ngày chạy như mắc cửi. Vào đến Sài Gòn, thấy xe hơi chạy đường Catinat đã lấy làm nhiều, nhưng xe hơi ở Singapore lại còn nhiều hơn nữa, và ở Singapore đường phố nào cũng như đường Catinat hết thảy.
Và rất may, chúng ta vẫn còn lời văn của một học giả khác, nổi tiếng hơn cả Phạm Quỳnh, đã mô tả Bangkok vào giữa thế chiến thứ 2. Ngài Trần Trọng Kim viết trong hồi ký “Một cơn gió bụi” của mình như sau:
Thành Băng Cốc, xưa kia thường gọi là thành Vọng-Các là kinh đô của nước Xiêm, một thành thị rất lớn, có thể lớn gấp năm gấp bảy lần Hà Nội, dân cư rất trù mật có đủ các thứ người, nhưng phần nhiều là người Tàu ở lâu đã nhập tịch nước Xiêm. Hạng người ấy rất hoạt động về đường kinh tế và chính trị. Trừ khu nhà vua, các cung điện làm theo lối cổ, nhà một tầng, mái dốc, nóc nhọn, có các kiểu trang sức đặc biệt của Xiêm. Còn phố xá ở ngoài thành nhà vua trông giống như thành Quảng Châu hay thành Thượng Hải bên Tàu.”
Những số liệu cũng như trích dẫn ở trên chứng tỏ rằng Sài Gòn chưa bao giờ là số một ở Đông Nam Á và danh xưng “hòn ngọc Viễn Đông” vô thực chất của nó hiện nay chủ yếu chỉ để quảng cáo du lịch.

@ Tổng hợp

Vài hình ảnh hiếm của đường Catinat thời Pháp thuộc

648 views

Bức ảnh được chụp cuối thế kỷ 19 này ghi lại đoạn đầu đường Catinat. Vị trí ngôi nhà bên trái có người đàn ông đứng tựa cửa, cũng là số 1 đường Catinat, sau này sẽ là khách sạn Majestic.

Để cảm nhận lại hơi thở Sài Gòn xưa trên Rue Catinat, ta có thể đi từ đầu đường, phía bờ sông Sài Gòn, đến phía cuối đường có dốc lên thoai thoải đến Nhà thờ Đức Bà (xưa kia vị trí này là trung tâm của thành Phiên An, tức thành Quy, thời vua Gia Long).

Đường Catinat

Trong một bức ảnh của nhiếp ảnh gia Ludovic Crespin (có cửa tiệm “Photo Studio” ở số 136 đường Catinat) được cho là chụp vào khoảng cuối thập niên 1910 và đầu 1920, phía trái hình là hai tiệm đổi tiền của ba người Ấn (mà người Pháp gọi là “malabar”), số 1 đường Catinat của ông Mougamadou Abdoullah (1909), ông Mougamadou Oussaine (1910) và số 1bis của ông Mougamade Abdoullah (3) (theo niên giám Đông Dương 1909, 1910)

Majestic Hotel

Trong một bức ảnh được chụp sau đó, vị trí bên trái đầu đường Catinat là khách sạn “Hôtel d’Annam” (Nam Việt khách lầu) của ông Huỳnh Huệ Ký

Đường Catinat - Café de la Rotonde

Ở phía đối diện là quán Cafe de la Rotonde nằm ở địa chỉ số 2 Catinat. Bên phải bức ảnh là đường Quai de Belgique (đường Tôn Đức Thắng ngày nay) với hai hàng cây ở một bên hè. Bức ảnh được chụp vào năm 1901, lúc này Sài Gòn vẫn dùng loại đèn thắp dầu để chiếu sáng.

Đường Catinat

Ngôi nhà số 1 Catinat sau đó bị phá bỏ để xây dựng khách sạn Majestic

Majestic Hotel

Khách sạn Majestic được xây dựng bởi công ty thuộc quyền sở hữu của thương gia người Việt gốc Hoa giàu có bậc nhất miền Nam Việt Nam thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (hay còn gọi là Chú Hỏa). Khách sạn Majestic thuở ban đầu có 3 tầng lầu, 44 phòng ngủ do một kiến trúc sư người Pháp thiết kế.

Đường Catinat

Một chiếc xe kéo đoạn đầu đường Catinat. Theo nhiều tài liệu thì xe kéo xuất hiện đầu tiên tại Hà Nội vào năm 1883 do Toàn quyền Bonnal cho đem từ Nhật qua. Gần 15 năm sau Sài Gòn mới biết tới loại xe kéo này (trước đó đây phương tiện di chuyển duy nhất ở đây là xe ngựa)

Đường Catinat

Tòa nhà ngay góc ngã tư Catinat – Vannier (Ngô Đức Kế ngày nay). Đây cũng là ngã tư đầu tiên của đường Catinat

Đường Catinat - Le Grand Hotel

Ngày 24.10.1930, ông Henry Edouard Charigny de Lachevrotière – Tổng biên tập của một tờ báo Pháp có được giấy phép chính thức mở Grand Hotel Saigon. Khi đó nó chỉ là một cửa hàng nước giải khát nhỏ nằm ở góc đường Catinat và Vannier (Ngô Đức Kế)

Đường Catinat - Saigon Palace

Năm 1937 Grand Hotel đổi tên thành Saigon Palace

Đường Catinat - Café de la Terrasse

Nằm ở số 130 Catinat là quán cà phê kiêm khách sạn Café de la Terrasse, bên cạnh quảng trường Francis Garnier (quảng trường Nhà hát Lớn, tức Nhà hát Thành phố ngày nay). Cạnh khách sạn và quán Café de la Terrace nổi tiếng, ở số 128 Catinat là tiệm tạp hóa của bà Wirth. Ngoài bán hàng, bà Wirth còn sản xuất và thương mại hóa các ảnh “cartes postales” từ cuối thế kỷ 19 với các ảnh xưa ở Sài Gòn, quý hiếm trong giai đoạn đó cho đến đầu thế kỷ 20.

Đường Catinat - Patisserie

Cạnh ngôi nhà đầu đường, ở số 157bis Catinat là một tiệm bánh ngọt (patisserie) của ông Marius Rousseng

Đường Catinat - Tramway

Năm 1923 Sài Gòn khai thác tuyến xe điện đầu tiên (trước đó, từ năm 1881, người Sài Gòn đã gọi các tramways là tàu điện dù thực chất đó là tàu hỏa chạy bằng dầu và than). Café de la Terrase trong bức ảnh này đã đổi thành L’information d’Extreme-Orient

Đường Catinat - Aspirine Usines du Rhone

Sài Gòn những năm 1950s. Lúc này, L’information d’Extreme-Orient (vị trí cũ của Café de la Terrase) đã đổi thành tên thương hiệu thuốc Aspirine – Usines du Rhône

Nhịp sống trên đường Catinat thời Pháp thuộc

709 views

Sinh hoạt của đường Catinat vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX được tác giả Nguyễn Liên Phong miêu tả sinh động trong Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca xuất bản tại Sài Gòn năm 1906:

Nhứt là đường Ca-ti-na,
Hai bên lầu các, phố nhà phân minh
Bực thềm lót đá sạch tinh
Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều
Máy may mấy chỗ quá nhiều,
Các tiệm tủ ghế dập dều (sic) phô trương
Đồ sành, đồ cẩn, đồ đương
Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi
… Nhà in, nhà thuộc, nhà chà,
Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son (xoong) ~
… Phong lưu cách điệu ai bằng
Đường đi trơn láng, đền giăng sáng lòa
Thứ năm, thứ bảy, thứ ba
Với đêm chúa nhựt hát nhà hát Tây…

Vào thời kỳ này, đường Catinat là bộ mặt sinh hoạt của cả Sài Gòn, thành phố thuộc địa đầu tiên ở vùng Viễn Đông với sự hiện diện của khoảng 3.000 người Pháp, hơn 3/4 trong số này là sĩ quan và viên chức. Lính Pháp ở trong các bungalow (loại nhà gỗ có hiên rộng) nằm khuất trong những vườn cây xanh. Để tiết kiệm chi phí và tìm sự đông vui hai, ba anh chung nhau tiền mướn một chỗ ở, có sự giúp việc của một anh bồi (boy) bản xứ, đi chợ, giặt giũ, nấu ăn… Sinh hoạt dân sự trên đường Catinat cũng được những người Pháp đương thời miêu tả đúng như Nguyễn Liên Phong. Hai bên đường, các thợ may, thợ đóng giầy người Hoa hoạt động khá đông, sau đó đến các cửa hiệu tạp hóa, nơi du khách có thể tìm thấy thức ăn khô, mũ nón hay yên cương… Từ ngày 24-2-1897, đoạn đường Catinat từ phía sau nhà thờ Đức Bà đến tháp nước (nay là Hồ Con Rùa) mang một tên mới là đường Blancsubé. Về sau nữa, khi thành phố được mở rộng hơn, con đường được tiếp tục nối dài đến đường Mayer (sau là Hiền Vương, nay là Võ Thị Sáu) và khúc cuối này có tên là đường Garcerie.

Đường Catinat

Tiêu biểu cho sinh hoạt trên đường Catinat vào thời kỳ đầu Pháp thuộc là nhiều cơ sở dịch vụ thương mại được thành lập từ rất sớm. Sớm nhất có thể không đâu hơn Hãng Denis Frère mọc lên ở đầu đường, phía bờ sông, nay là khu vực của Grand Hotel, đối diện với Nhà hàng Majestic phía bên kia đường. Sau Denis Frère là hiệu thuốc Tây đầu tiên của cả Sài Gòn nằm ở góc Catinat và Bonard (Lê Lợi), khai trương năm 1865, chủ nhân là Lourdeau, sau làm Xã trưởng Sài Gòn (1870). Ít lâu sau, hiệu thuốc được giao lại cho Holbé, tiến sĩ dược khoa, một nhân vật khá nổi tiếng của đất Sài Gòn xưa, từng làm Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Sài Gòn, Phó Chủ tịch Hội đồng quản hạt Nam kỳ (Conseil colonial de la Cochinchine). Holbé từng điều chế ra một loai biệt dược có tên “Gouttes Holbé” dành cho những tay nghiện á phiện cai nghiện. Về sau, nhà thuốc Tây về tay Renoux, rồi Solirène và mang tên vị chủ nhân này trong một thời gian dài, trước khi bị thay thế bởi nhà hàng Givral còn hoạt động đến ngày nay.

Đường Catinat, con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn thời Pháp thuộc

1030 views

Trong số hàng trăm con đường của Sài Gòn, đường Catinat (xưa là đường Đồng Khởi) là một trong số rất ít những con đường kỳ cựu nhất. Nó hiện diện từ trước khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn và tầm quan trọng của nó trải dài từ thời Pháp thuộc cho đến bây giờ.

Trong quyển “Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca” (NXB. Đinh Thái Sơn, Sài Gòn, 1909), nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam thời Pháp thuộc Nguyễn Liên Phong đã mô tả đoạn đầu đường Catinat vào đầu thế kỷ 20 như sau:

Nhứt là đường Ca-ti-na,
Hai bên lầu các, phố nhà phân minh
..Máy may mấy chỗ quá nhiều,
Các tiệm tủ ghế dập dều phô trương
Đồ sành, đồ cẩn, đồ đương [đan]
Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi
..Nhà in, nhà thuộc, nhà chà,
Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son

Theo nhiều tư liệu thì “Rue Catinat” được xem là con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn. Đây cũng là con đường đầu tiên được thiết lập khi Pháp quy hoạch lại thành phố sau khi chiếm được và phá thành Sài Gòn. Còn được gọi là “Rue no. 16” lúc ban đầu cho đến khi là con đường được tráng nhựa đầu tiên, “Rue Catinat” nhanh chóng trở thành trung tâm sinh hoạt thương mại của thành phố.

Đường Catinat

Năm 1861, khi Sài Gòn lọt vào tay quân Pháp thì con đường này đã có một quá trình dài góp mặt vào sinh hoạt của cư dân địa phương. Nó được biết đến nhiều vì ở đầu con đường, nơi giáp với bờ sông (sông Sài Gòn), từng là nơi vua nhà Nguyễn đến nghỉ ngơi và … tắm (Bến Ngự). Tuy nhiên, từ trước năm 1865, nó cùng 25 con đường khác chỉ mang số thứ tự kế tiếp nhau, từ 1 đến 26. Phải chờ đến ngày 1.2.1865, Đề đốc De La Grandière mới đặt tên cho từng con đường một và con đường số 16 lần đầu tiên mang tên Catinat. Nhiều người không rõ xuất xứ của tên này. Theo một số sử liệu, Catinat là tên một thống chế Pháp sinh năm 1637 và mất năm 1712, phục vụ dưới thời vua Louis XIV. Giữa thế kỷ XIX, Pháp lấy tên Catinat đặt cho một chiếc tàu chiến từng tham gia trận đánh Sài Gòn năm 1859 và dựa vào chi tiết này, De La Grandière đặt cho con đường số 16 tên Catinat (trường hợp tương tự cũng xảy ra với rạch Thị Nghè, được Pháp gọi là Arroyo d’Avalanche).
Một trong những tác giả Pháp đầu tiên là Pallu de la Barrière đã miêu tả con đường số 16 này vào năm 1861 như sau: “Du khách đến Sài Gòn nhìn thấy bên hữu ngạn con sông một loại đường phố mà hai bên bị đứt quãng bởi những khoảng trống lớn. Phần lớn nhà cửa làm bằng cây lợp lá cọ ngắn; số khác ít hơn, làm bằng đá. Mái nhà lợp bằng ngói đỏ làm vui mắt và tạo được cảm giác yên bình…”. Tính cách quan trọng của con đường Catinat thể hiện ở chỗ nó được thực dân Pháp sử dụng làm trung tâm của bộ máy thuộc địa. Đầu tiên, vào năm 1863, ở vạt đất nằm giữa hai con đường Mossard (nay là Nguyễn Du) và Gouverneur (sau là De La Grandlière, Gia Long, nay là Lý Tự Trọng), họ dựng lên dinh Thủy sư Đề đốc, cơ quan đầu não của thực dân Pháp tại Viễn Đông, gần chiếc đồng hồ lên cái tháp trước dinh, từ đó, quảng đất trống phía trước (nay là khu đất trước mặt tiền Nhà thờ Đức Bà) được gọi là “Quảng trường Đồng hồ” (Place de l’Horloge). Ngày 15-8-1865, tại quảng trường này đã diễn ra một buổi lễ trong thể có duyệt binh do chính De La Grandière chủ trì nhằm tôn vinh Hoàng đế Pháp Napoléon III và Hoàng hậu.
Năm 1864, Nha Giám đốc Nội vụ (Direction de I’ Intérieur), người dân đương thời gọi là “Dinh Thượng thơ”, được xây dựng, nhìn ra đường Catinat, ở phía đối diện dinh Thủy sư Đề đốc. Viên chức lãnh đạo cơ quan này, xét về mặt cai trị, chỉ xếp sau Thống đốc Nam Kỳ, trực tiếp chỉ huy các tham biện Pháp và quan lại Việt Nam hàng Huyện, Phủ, Đốc phủ sứ. Đầu thập niên 1880, ngay trên lộ trình con đường chạy qua, mọc lên ngôi nhà thờ Notre Dame, về sau được cư dân Sài Gòn gọi là Nhà thờ Đức Bà hay Vương cung Thánh đường. Sau lưng nhà thờ là đường Norodom (nay là Lê Duẩn), lấy tên ông hoàng xứ Cambodge (Campuchia) đến thăm Sài Gòn vào đầu năm 1867, nhân cuộc đấu xảo canh nông đầu tiên tổ chức tại đây.
Năm 1886, Pháp khởi công xây trụ sở chính Sở Bưu chính và Viễn thông (nay là Bưu điện ) trên khu đất đối diện với mặt tiền nhà thờ, nằm giữa con đường Catinat và đường Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng). Cuối đường Catinat, người ta nhìn thấy một tháp nước cao được xây dựng năm 1878 nhằm cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng. Tuy nhiên, đến năm 1921, với sự phát triển của dân cư, tháp nước này không còn đáp ứng được yêu cầu nên bị đập bỏ. Ngày 1.1.1900, nhà hát Tây (nay là Nhà hát thành phố) được khánh thành trên giao lộ đường Bonard (nay là Lê Lợi) và Catinat, trở thành nơi biểu diễn thường xuyên của những đoàn hát từ phương Tây đến.
Sau khi các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, xe lửa), công sở, cơ quan hành chánh và thương mại được thống đốc dân sự Le Myre de Vilers (1879 – 1883) năng động khởi công và thúc đẩy hoàn thành, Sài Gòn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sau hơn 35 năm bị Pháp chiếm đóng, đã trở thành một thành phố có cảnh quan được quy hoạch hài hòa, kiến trúc khu trung tâm có nhiều nét tương đồng các thành phố ở châu Âu. Thậm chí, các du khách đến từ Âu châu và Viễn Đông (chỉ các nước Đông Á) đã có cảm nhận chung Sài Gòn là “Perle de l’Orient” đối với người Pháp, hay “Paris of the East” đối với các du khách từ các quốc gia hay thuộc địa nói tiếng Anh trong vùng Viễn Đông.

@ Tập hợp

Những bức ảnh đen trắng quý giá về Đà Lạt thời Pháp thuộc (Phần 1)

637 views

Đà Lạt nổi tiếng với vẻ đẹp thơ mộng và quyến rũ e ấp giữa bạt ngàn rừng thông xanh mướt.
Hãy cùng chúng tôi khám phá những bức ảnh đen trắng quý giá do những nhiếp ảnh gia Pháp và một số nhiếp ảnh khác ghi nhận lại và lưu giữ đến ngày hôm nay.

Đà Lạt - Villa 1925-1930
Đà Lạt – Villa 1925-1930

Đà Lạt - Thác Pongour
Đà Lạt – Thác Pongour (1925-1930)

Đà Lạt - Thác Liên Khương
Đà Lạt – Thác Liên Khương (1930)

Đà Lạt - Thác Gougah
Đà Lạt – Thác Gougah (1925-1930)

Đà Lạt - Thác Cam Ly
Đà Lạt – Thác Cam Ly (1925-1930)

Đà Lạt - Phụ nữ bản địa 1925
Đà Lạt – Phụ nữ bản địa 1925

Đà Lạt - Lang Bian Plateau 1925
Đà Lạt – Người bản xứ và xe hơi chụp ở Lang Bian năm 1925

Đà Lạt - Hotel Palace 1930
Đà Lạt – Hotel Palace 1930

Đà Lạt - Hồ Xuân Hương
Đà Lạt – Hồ Xuân Hương (1925-1930)

Đà Lạt - Environ 1925-1930
Đà Lạt (1925-1930)

Đà Lạt - 1925-1930
Đà Lạt – 1925-1930

Thương xá TAX – nạn nhân của hành xử “giới hạn tầm nhìn”

422 views

Thương xá Tax, suy cho cùng cũng chỉ là nạn nhân của một tầm nhìn hạn hẹp về các giá trị văn hóa – lịch sử. Không ai biết nó hữu dụng như thế nào về giá trị giáo dục, kinh tế cho đến khi mất đi.

Phá bỏ hay giữ lại?
Sài Gòn – một trong những địa chính của Pháp thời kỳ chiếm đóng và đô hộ Việt Nam. Ngày nay được biết đến như một trung tâm chính của nền kinh tế Việt Nam.
Lượng khách du lịch đến với Sài Gòn ngày một tăng, không chỉ bởi Sài Gòn mang trong mình nét văn hóa tứ xứ vùng miền, mà cả những giá trị hiện vật về mặt lịch sử còn tồn tại đến ngày nay, nhất là các kiến trúc Pháp.

Thương xá TAX

Nhắc đến vùng đất này, người ta nghĩ ngay đến nhà thờ Đức Bà, bưu điện trung tâm hay thương xá Tax… Tất cả trở thành dấu ấn, linh hồn, giá trị thời gian biểu trưng từ tranh ảnh, đến tâm khảm người dân. Đùng một cái, tuyến Metro phục vụ cho nền kinh tế sôi động này xuất hiện. Và thương xá Tax, một biểu tượng của thời gian sẽ bị phá bỏ. Vì lý do kinh tế, vì sự phát triển của thành phố 10 triệu dân và là đầu tàu của cả nước.
Khi ông Lê Khắc Huỳnh, Phó trưởng Ban quản lý Đường sắt đô thị thành phố, tỏ ra tiếc nuối, xót xa, hẳn đó là cảm xúc thực của ông, nhưng nó sẽ không bồi đắp được sự mất mát trước về một biểu tượng về lịch sử. Nhất là khi thành phố ngày càng một vắng bóng các giá trị cổ xưa.
Dù vì lý do chính trị hay kinh tế, thì suy cho cùng, thương xá Tax hay hàng trăm ngàn hiện vật văn hóa – lịch sử còn sót lại trên mảnh đất hình chữ S cũng chỉ là nạn nhân của cách hành xử và ít nhiều biểu hiện của tầm nhìn.
Cách hành xử lẫn tầm nhìn đó đã khiến không ít di tích, hiện vật lịch sử – văn hóa cấp tỉnh đến quốc gia bị xâm hại nghiêm trọng đến xóa bỏ bằng cách đập nát, trùng tu bằng tư duy hiện đại với xi măng, cốt thép và độ lớn hoành tráng với các dị vật lân kì, rồng phượng như đã từng xảy ra với đình cổ Quang Húc, chùa Sổ, chùa Một Cột, chùa Dơi, làng cổ Đường lâm, di tích Lam Kinh, đền Đô, thành nhà Mạc, Đàn Nam Giao, thành nhà Hồ, chùa Phật Tích, chùa Trăm Gian, đình Ngu Nhuế, hệ thống biệt thự Pháp ở Đà Lạt, Hà Nội, di tích thánh địa Mỹ Sơn…
Hoặc rơi vào tình trạng đào lên – vứt đó một cách thê thảm như hoàng thành Thăng Long, một di tích đặc biệt quan trọng, và là di sản văn hóa thế giới (năm 2010). Nhưng từ khi phát tích cho đến nay (2014) lại được ưu ái ngâm mưa, ngâm nắng, đến nỗi nhiều người phải xót xa mà thốt lên: Nếu không làm được thì đừng đào lên, hãy lấp cát và giữ lại cho thế hệ sau.

Thương xá TAX

Học tầm nhìn và cách ứng xử
Các giá trị hiện vật lịch sử – văn hóa được xem như một thông điệp của quá khứ (Imbued with a message from the past, the historic monuments of generations of people remain to the present day as living witnesses of their age-old traditions, Hiến chương Venice 1964). Nhưng tại Việt Nam, chúng dần bị biến mất dưới nhiều hình thức, tỉ lệ nghịch với thái độ xông xáo khi xin cấp chứng nhận di tích/ di sản.
Biến mất không phải vì độ bào mòn về mặt thời gian, mà vì ý thức của những người làm trong công tác tìm kiếm, bảo tồn, quản lý văn hóa, lịch sử.
Ý thức đó khiến không biết bao nhiêu hiện vật bị đưa bán ra nước ngoài, bị phá bỏ cho mục đích kinh tế hay thậm chí bị xóa sổ từ cung cách đào lên – để đó – lấp lại.
Cách ứng xử đó không khác lắm về mặt bản chất như việc tượng Phật ở Afghanistan khi bị quân Taliban đánh sập (2001), hay các đình chùa, miếu mạo bị phá bỏ không thương tiếc trong thời kỳ đả thực bài phong ở Việt Nam.

Thương xá TAX

Rồi đây, kinh tế có “lên” hay không thì chưa biết. Nhưng các giá trị văn hóa – lịch sử dần dần mất đi, các biểu tượng sẽ xếp hàng chờ ngày “hành quyết”. Hiếm có ai nghĩ đến các giá trị mà nó mang lại trong hiện tại lẫn tương lai.
Bởi ít có nhà quản lý nào ở nước ta có được cái tầm nhìn sâu rộng để đưa đến cách ứng xử trân trọng với các giá trị đó nhằm tìm thấy sự hữu dụng trong giáo dục và kinh tế.
Hội An có lẽ may mắn hơn so với thương xá Tax và nhiều những hiện vật, di tích lịch sử – văn hóa khác ở Việt Nam. Vì nó được một người ra sức bảo vệ, bảo tồn. Người đó là ông Nguyễn Sự – Bí thư thành ủy Hội An. Ông là người vượt lên trên cái nhìn hạn hẹp trong bối cảnh lịch sử lúc đó, để giữ được một đô thị cổ Hội An và là di sản thế giới như ngày hôm nay.
Hành trình để cứu lấy các di sản văn hóa đó là cuộc hành trình đơn độc nhưng đầy quyết tâm giữ gìn cho bằng được của ông Nguyễn Sự thời kỳ đầu. Vượt ra khỏi cái quy luật “vì lý do kinh tế”.
Để rồi, Hội An giờ đây trở thành nơi hút khách du lịch, cũng bởi cái chất cổ xưa của nó, bởi giá trị văn hóa – lịch sử còn được bảo tồn và chính cái phố cổ ấy đã đóng góp không nhỏ cho ngân sách thành phố.

Thương xá TAX

Rõ ràng, cái cách hành xử với các giá trị văn hóa – lịch sử của ngày hôm nay thể hiện cái tầm nhìn xa về giá trị trong tương lai.
Vì thế, nếu vì cái lợi trước mắt mà các nhà quản lý đối xử rẻ rúng với các hiện vật lịch sử như đã từng đối xử với đoàn tàu leo núi ở Đà Lạt. Để rồi, phải ôm hận vì cách hành xử đó.
Thương xá Tax hay Hội An, cũng chỉ là cách biểu hiện ngắn hay dài, thiển cận hay xa về tầm nhìn mà thôi.

Theo Lê Tuấn

Nhớ về Thương xá TAX !

662 views

Thương xá Tax có một lịch sử lâu đời và được bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ 19, là một phần của Sài Gòn xưa hoa lệ. Tòa nhà cùng với những công trình kiến trúc thời Pháp thuộc khác như Chợ Bến Thành, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố, Nhà hát lớn thành phố, Dinh toàn quyền (nay là Hội trường Thống Nhất), Dinh Xã Tây (này là Ủy ban nhân dân thành phố) góp phần tạo nên một “Hòn ngọc Viễn Đông”, một “Ville de Sai Gon” tao nhã và sôi động bậc nhất Châu Á thời bấy giờ.
Thương xá Tax ngày ấy được mang tên Les Grands Magazins Charner (GMC) được xây dựng theo phong cách kiến trúc Pháp với những nét chấm phá mang đậm đường nét văn hóa Á Đông. Les Grands Magazins Charner tọa lạc tại vị trí đẹp nhất của trung tâm Sài Gòn, kinh doanh các mặt hàng bazar sang trọng được nhập khẩu chủ yếu từ Anh, Pháp và các nước phương tây nhằm phục vụ cho giới thượng lưu Sài thành và các đại điền chủ Lục tỉnh Nam kỳ vào thời kỳ đó.
Cùng với việc kinh doanh tại GMC rất hưng thịnh, để tận dụng tối đa công năng và hiệu quả sử dụng tòa nhà, người chủ GMC đã quyết định đập bỏ tháp đồng hồ và xây thêm một tầng nữa, đồng thời chữ GMC được đặt trên nóc tòa nhà, quan khách có thể nhìn thấy từ rất xa.

Thương xá TAX

Đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, tòa nhà GMC được Hội Mậu Dịch đổi tên thành Thương xá Tax, mặt bằng được chia nhỏ và cho các tiểu thương thuê vị trí để buôn bán. Vào thời kỳ này, việc mua bán vẫn rất nhộn nhịp, hàng hóa không khác mấy so với trước, đồng thời các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới bắt đầu được du nhập nhiều hơn vào Việt Nam.
Sau ngày 30/4/1975 tòa nhà Thương xá Tax được giao lại cho UBNDTP, Tòa nhà không còn là địa điểm kinh doanh sầm uất; mặt bằng thỉnh thoảng được tận dụng làm không gian trưng bày các mặt hàng, máy móc công nghiệp do các đơn vị quốc doanh của thành phố sản xuất.
Đúng ngày Quốc tế Thiếu nhi 01/6/1978, một lần nữa Thương xá Tax được đổi tên thành Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi Thành phố, với đội ngũ mậu dịch viên khăn quàng đỏ, đánh dấu sự náo nhiệt trở lại của tòa nhà tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh sau một thời gian trầm lắng.
Đến năm 1981, trên cơ sở sáp nhập Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi và các quầy hàng chuyên doanh trong tòa nhà trước đó, UBNDTP quyết định thành lập Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Thành phố trực thuộc Sở Thương Nghiệp để nâng tầm hoạt động, đáp ứng việc phục vụ rộng rãi nhu cầu người tiêu dùng và tòa nhà là một trong những cửa hàng lớn nhất Việt Nam thời bấy giờ.
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử cùng biến động của thành phố, tòa nhà vẫn tiếp tục tồn tại một cách bền vững và lặng lẽ. Tuy nhiên, dấu ấn thời gian ngày một in hằn trên từng cây cột và từng mảng tường… bản thân tòa nhà cần được đầu tư sửa chữa một cách tổng thể.
Những năm cuối thập niên 90 của Thế kỷ 20, tòa nhà một lần nữa được cải tạo và chuẩn bị cho giai đoạn buôn bán tấp nập, thịnh vượng mới. Thời điểm này, tòa nhà trở thành một trung tâm giao dịch thực sự, hàng hóa tại đây vô cùng phong phú, từ hàng may mặc, mỹ nghệ đến những mặt hàng xa xỉ đều xuất hiện. Việc giao thương với người Nga rất được chú trọng nên thời kỳ này tòa nhà còn có một tên gọi khác là “chợ Nga”.

Thương xá TAX

Ngày 18/10/1997, Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Thành phố được đổi tên thành Công ty Bán lẻ Tổng hợp Sài Gòn, trực thuộc Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA).
Ngày 19/01/1998, dòng chữ THƯƠNG XÁ TAX chính thức được đặt trên nóc tòa nhà thay thế dòng chữ Cửa Hàng Bách Hóa Tổng Hợp Thành Phố, đánh đấu sự trở lại của một thương hiệu đã tồn tại và ăn sâu vào nếp nghĩ của người Saigon xưa.
Bước vào thời kỳ đổi mới, trước sự cạnh tranh từ các trung tâm thương mại do người nước ngoài đầu tư và quản lý, một lần nữa áp lực cạnh tranh đã buộc Thương xá Tax phải tự làm mới mình.
Ngày 26/4/2003, một Trung tâm Thương mại hiện đại mang tên THƯƠNG XÁ TAX được khánh thành.
Tòa nhà với câu chuyện hơn “100 năm lịch sử” đã và đang là một trung tâm thương mại sầm uất, lâu đời nhất tại Việt Nam; một địa điểm tham quan du lịch nổi tiếng của Thành Phố Hồ Chí Minh, kết nối với những di tích vang bóng một thời như: Bưu điện Trung tâm Thành phố, Nhà thờ Đức Bà, Nhà hát lớn Thành phố, Chợ Bến Thành, Dinh Độc lập và các Bảo tàng đã và đang cùng nhau góp phần quảng bá hình ảnh và con người Việt Nam nói chung và Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng đến với bạn bè thế giới.

Theo Thương Xá Tax website

Vườn Bách Thảo Sài Gòn vào giữa thế kỷ XIX

818 views

Thảo Cầm Viên Sài Gòn (tên gọi tắt: Thảo Cầm Viên) – tên ban đầu: Vườn Bách Thảo, dân Sài Gòn quen gọi Sở thú – là nơi bảo tồn động thực vật có tuổi thọ đứng hàng thứ 8 trên thế giới.
Ngày 23 tháng 3 năm 1864, Đề đốc De La Grandière ký nghị định cho phép xây dựng Vườn Bách Thảo tại Sài Gòn. Thời gian sau, vườn được nới rộng trên 12 ha vùng đất hoang ở phía đông bắc rạch Thị Nghè, Pháp gọi là Arroyo d’Avalanche.
Sau nhiều năm chấn chỉnh tổ chức và mở mang, Thảo Cầm Viên lại được tu sửa, tái thiết và đổi tên, vào năm 1956, là Thảo Cầm Viên Sài Gòn.


C’est l’une des premières mesures de la puissance coloniale: en 1863, l’amiral de La Grandière signa, le 23 mars 1864, le décret autorisant la création d’un jardin botanique au cœur de Saigon. Appelé affectueusement par les saigonnaïs “Sở thú” (zoo), Vườn Bách Thảo (jardin botanique) est classé 8ème des zoos les plus anciens du monde.
Après quelques années d’existence, sa superficie fut étendue et les 12 ha de terres inexploitées et inhabitées de l’arroyo d’Avalanche voisin ont été intégrées dans le jardin. En 1956, il fut de nouveau rénové et prît finalement le nom que l’on connaît actuellement: Thảo Cầm Viên Sài Gòn.

Nhà Đấu Xảo Hà Nội vào thế kỷ XIX

1128 views

Nhà Đấu Xảo Hà Nội, Hà Nội năm 1902.
Đấu Xảo là khu triển lãm – hội chợ cũ của Hà Nội, do kiến trúc sư Adolphe Bussy thiết kế. Hình được chụp vào một ngày lễ đánh dấu khai mạc hội chợ. Hội chợ được khánh thành ngày 16 tháng 11 năm 1902 và kéo dài đến ngày 15 hay 16 tháng 2 năm 1903, do Toàn quyền Paul Bert chủ trì. Sau hội chợ, tòa nhà chính trở thành Bảo tàng Maurice Long – Viện bảo tàng kinh tế đầu tiên và lớn nhất của Đông Dương.
Trong Thế chiến lần thứ 2, tòa nhà bị bom Mỹ phá hủy. Di tích còn lại là hai bức tượng sư tử bằng đồng nay đặt tại rạp xiếc Hà Nội trong khu vực công viên Thống Nhất.


Le Palais d’Expositions de Hanoi en 1902. Il fut dessiné par l’architecte Adolphe Bussy. La photo fut d’un jour de festivités marquant l’inauguration de l’Exposition. L’Exposition de Hanoi dura quatre mois, du 16 novembre 1902 au 15 ou 16 février 1903 et voulue par le Gouverneur général Paul Doumer. Après l’Exposition, le Palais Central devînt le Musée Maurice Long – le premier et le plus grand Musée d’Economie de l’Asie du Sud-Est.
Pendant la Seconde Guerre Mondiale, le monument fut détruit par les bombardements américains. Les seuls vestiges qui subsistent jusqu’à nos jours sont deux lions en bronze que l’on peut voir dans l’enceinte du cirque de Hanoi, situé dans le Parc de la Réunification (parc Thống Nhất).


The Hanoi Exhibition Center in 1902. The site of the fair, the Palais d’expositions, was designed by the architect Adolphe Bussy. The picture was taking a day of festivities marking the inauguration of the Exhibition. The Hanoi Exhibition was held between November 16, 1902 and February 15 or 16,1903 and wanted by the Governor General Paul Doumer. After the Exhibition, the site of the fair became the Museum Maurice Long – the first and largest Economy museum in Southeast Asia.
During World War II, the monument was destroyed by American bombing. The only vestiges that remain nowaday are two bronze lions that can be seen inside the circus Hanoi, located in the Park of Reunification (Thống Nhất).

Nhà Đấu Xảo Hà Nội 1902

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn cuối thế kỷ XIX

353 views

Nhà thờ chính tòa Đức Bà Saigon năm 1882, hai năm sau khi được khánh thành (ngày 11 tháng 4 năm 1880 do cố đạo Colombert tổ chức với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers).


Cathédrale Notre-Dame de Saïgon en 1882, deux ans après son inauguration, le 11 avril 1880 par Mgr Isidore Colombert, en présence du gouverneur de Cochinchine de Le Myre de Vilers.


Notre-Dame Cathedral Basilica of Saigon in 1882, two years after its opening on 11 April 1880 by Bishop Isidore Colombert, in presence of the Governor of Cochinchina Charles Le Myre de Vilers.

Vẽ đẹp phương tây của Sài Gòn năm 1950

1041 views

Hình được chụp ở góc đại lộ Charner và Bonnard (Nguyễn Huệ và Lê Lợi ngày nay), làm thoát lên một vẽ đẹp rất phương tây của Sài Gòn thời bấy giờ.
(Saigon, 1950)


Photo prise de haut au carrefour du boulevard Charner et Bonnard (Nguyễn Huệ và Lê Lợi de nos jours), dégageant une beauté presque très française de Saigon de l’époque.
(Saigon, 1950)


Photo taken from above at the crossroads of Boulevard Charner and Boulevard Bonnard (Nguyễn Huệ and Lê Lợi nowaday), bringing an almost very French beauty of Saigon at the time out.
(Saigon, 1950)

Tứ Đại Mỹ Nhân Hà Thành

597 views

“Tứ Đại Mỹ Nhân” Hà Thành: cô Phượng Hàng Ngang, cô Síu Cột Cờ, cô Nga Hàng Gai và cô Bính Hàng Đẫy. Bốn bông hồng của Hà Thành, vào giữa thập niên 30, được xem như đặc trưng của người Tràng An. Vẻ đẹp của bốn nàng thơ Hà Nội làm say đắm biết bao trái tim của nhiều công tử si tình, cũng như khiến bao tay nhiếp ảnh phương Tây mê mẩn và say đắm theo chân.


“Les Quatre Beautés” du Tonkin: Mlle Phượng Hàng Ngang, Mlle Síu Cột Cờ, Mlle Nga Hàng Gai et Mlle Bính Hàng Đẫy.  Considérées comme les quatre plus belles femmes du Tonkin, au milieu des années 30, tant sur la beauté que sur la grâce et les valeurs de la femme vietnamienne de l’époque, elles ont fait vibrer le coeur de tous les jeunes hommes de bonne famille du Tonkin et servirent de modèles à beaucoup de photographes étrangers de passage au Tonkin.


“Four Beauties” of Tonkin: Miss Phượng Hàng Ngang, Miss Síu Cột Cờ, Miss Nga Hàng Gai and Miss Bính Hàng Đẫy. Considered as the four most beautiful women of Tonkin in the mid of the 30s, in beauty and in grace, also in the values of the Vietnamese woman of the time, they have thrilled the hearts of all the young men from the good family in Tonkin and served as models for many foreign photographers While passing through Tonkin.

Những giờ Việt văn – Du Yên

433 views

Lên trung học, năm 1963, tôi được vào Trường Nữ Trung Học Gia Long.

I. Đôi dòng lịch sử:

Trường được khởi công xây cất từ năm 1913 và khánh thành vào năm 1915. Lớp học đầu tiên khai giảng có 42 nữ sinh, phần nhiều cư ngụ ở vùng Sài Gòn. Trường có nhiều cấp lớp, từ lớp mẫu giáo đến những lớp cao hơn. Áo dài màu tím được chọn làm đồng phục cho nữ sinh, cho nên trường được gọi là “Trường Nữ Sinh Áo Tím”.
Năm 1918, một tòa nhà thứ hai được xây song song với tòa nhà thứ nhất. Từng dưới của tòa nhà mới này được dùng làm nơi nội trú cho các nữ sinh ở xa nhà. Phía sau là một ngôi nhà trệt trong đó có bệnh xá, phòng giặt và nhà bếp. Các lớp nữ công gia chánh cũng được giảng dạy ở nơi này.
Tôi nhớ Má tôi thường hay kể chuyện Dì Hai tôi, lúc thiếu thời Dì cũng là học sinh của Trường Nữ Sinh Áo Tím. Dì Hai tôi là chị cả trong các anh chị em của Má tôi. Nhà Ông Bà Ngoại tôi ở làng An Nhơn, quận Gò Vắp, cách Sài Gòn lối 9 cây số. Thời đó đường sá chưa được mở mang, giao thông không dễ dàng nên Dì phải ở nội trú. Các học sinh nội trú phải sắm sửa rất nhiều, các vật dụng cá nhân như áo quần đồng phục mặc lúc ở lớp học, đồng phục mát mặc lúc ở khu cư xá, khăn trải giường, khăn mặt, … mỗi thứ trên mười bộ; ngoài ra học sinh nội trú phải đóng tiền ăn ở rất tốn kém.
Vào tháng 9 năm 1922, lớp đầu tiên của bậc Trung Học Ðệ Nhất Cấp được khai giảng. Học sinh bắt đầu học Pháp văn từ cấp lớp căn bản. Pháp ngữ là ngôn ngữ chính thức được dùng trong việc giảng dạy các lớp bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp. Nữ sinh chỉ được dùng Pháp ngữ để đàm thoại trong trường. Tiếng Việt chỉ được dạy mỗi tuần hai giờ trong giờ Việt văn.
Trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến, trường bị hư hại nhiều nên vị Hiệu Trưởng đương nhiệm phải kêu gọi các vị hảo tâm đóng góp tài chánh để sửa sang trường.
Vào năm 1949, trường lại được nới rộng hơn. Một tòa nhà hai từng được xây trên đường Bà Huyện Thanh Quan, nối liền hai tòa nhà sẵn có để đáp ứng sĩ số nữ sinh theo học ngày một gia tăng.
Kể từ năm 1952, chương trình giảng huấn được thay đổi: chương trình Pháp được đổi dần dần qua chương trình Việt, Pháp và Anh ngữ là những ngoại ngữ được giảng dạy và là môn học bắt buộc cho các nữ sinh.

Trường Nữ Gia Long

Năm 1953, đồng phục áo dài tím được thay thế bằng chiếc áo dài trắng và tiếng Việt được chọn làm ngôn ngữ giảng dạy chính thức. Sau đó trường được đổi tên là Trường Nữ Trung Học Gia Long, lấy niên hiệu của vị vua đầu tiên triều Nguyễn. Có lẽ ở thời điểm này, trường bãi bỏ các cấp lớp thấp và chỉ giảng dạy chương trình trung học.
Ngoài trường Gia Long, đô thành Sài Gòn còn một trường nữ trung học khác là trường Trưng Vương. Không rõ thông lệ bắt đầu từ hồi nào và bãi bỏ vào năm nào, mà khi tôi còn là học sinh bậc tiểu học, mỗi năm vào dịp lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng, đô thành Sài Gòn có tổ chức diễn hành xe hoa của các hội đoàn, các trường học, và các cơ sở thương mại.
Dẫn đầu đoàn xe hoa diễn hành là một đám rước, gồm hai hàng quân lính chỉnh tề, mặc trang phục thời nước Nam lập quốc, cầm cờ nhiều màu tung bay phất phới. Tiếp đến là hai con voi lớn mình phủ khăn màu sặc sỡ, chở trên lưng hai nữ tướng trong trang phục thời cổ: áo dài màu vàng, đầu vấn khăn vành, dáng điệu trông rất oai nghiêm. Đó là hai nữ sinh của trường Gia Long và Trưng Vương đóng vai hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị.
Năm đó Má tôi dẫn mấy chị em tôi đi xem diễn hành. Lúc đó tôi học lớp ba hay lớp nhì chi đó, tôi vẫn còn thấp bé, đứng chưa quá hàng rào cản dọc theo lộ trình diễn hành. Tôi bám lên hàng rào nhón chân nhìn đám rước, chiêm ngưỡng Bà Trưng Trắc ngồi trên lưng voi cao ngất ngưởng mà lòng nao nao kính phục. Trang sử Việt oai hùng học được ở trường đang diễn ra trước mắt tôi, cảm xúc bồi hồi không sao tả được. Yêu mến Bà Trưng Trắc, tôi thương luôn cả trường Gia Long dù chỉ thương qua tên gọi, vì tôi đâu đã thấy trường ra sao. Từ đó, tôi luôn nhủ lòng cố gắng chăm học để được trúng tuyển vào trường Gia Long.

II. Ngôi trường thân yêu:

Năm đầu tiên tôi vào trường thì trường đã được tu bổ khá khang trang. Trường nằm trên một khu vực rất rộng giới hạn bởi bốn con đường lớn thuộc quận Ba đô thành Sài Gòn. Cổng chính trên đường Phan Thanh Giản, cổng sau rất ít khi được mở, vì trổ ra đường Ngô Thời Nhiệm hơi vắng vẻ. Cổng bên trái (nếu nhìn từ đường Phan Thanh Giản vào) trổ ra đường Đoàn Thị Điểm. Tôi không tìm ra tài liệu ghi vào năm nào thì dãy nhà trệt trên đường Đoàn Thị Điểm được xây. Cổng bên phải nằm sát đường Bà Huyện Thanh Quan, bên kia đường là chùa Xá Lợi.
Chỉ có cổng Bà Huyện Thanh Quan là nơi tụ tập nhiều hàng quà vặt. Đây là nơi học trò con gái chúng tôi chiếu cố tận tình nhất. Cổng trường chỉ mở khoảng vài mươi phút trước giờ học, mà thường thì trước đó nhiều giờ, các nữ sinh đồng phục áo trắng đã bu nghẹt các gánh hàng bên đường, lao xao ồn ào như hội chợ, và xả rác ngay trước cổng chùa trang nghiêm thanh tịnh.
Sơ đồ của trường giống như một cổ thành: văn phòng và các lớp học là những dãy nhà chạy dọc theo bốn con đường như đã kể trên, chính giữa là một khuôn viên rất đẹp, thảm cỏ xanh hai bên ngăn chia bởi con đường tráng nhựa đi từ cổng Phan Thanh Giản đến cổng Ngô Thời Nhiệm. Hai bên đường là hai hàng cây có bóng mát, tôi không nhớ là loại cây gì. Giờ ra chơi, chúng tôi đi lên đi xuống dạo trên con đường này mà tưởng tượng như đang dạo chơi trên đường phố Tự Do hay Nguyễn Huệ vậy.
Con đường này cũng chuyên chở một kỷ niệm khó quên trong đời tôi. Mỗi năm khi niên học chấm dứt, vào độ tháng Năm, trường hay tổ chức lễ phát thưởng cho học sinh xuất sắc. Năm nào Má tôi cũng cùng tôi đến trường dự lễ phát thưởng. Hai má con tôi thủng thẳng đi bộ trên con đường nhựa này, nắng nhẹ trời trong rất êm ả. Cuối đường là các hàng ghế xếp sẵn dành cho giáo sư, phụ huynh và học sinh. Tiếp sau dãy ghế là sân khấu ngoài trời, nơi trình diễn phần văn nghệ giúp vui. Phần văn nghệ rất đặc sắc gồm các màn như múa trống cơm, múa quạt, hoạt cảnh Ông Ninh Ông Nang, đơn ca, hợp ca, … do học sinh của trường trình diễn. Tôi thấy Má tôi rất vui và rất thích phần văn nghệ; có lẽ đây là những giây phút giải trí thoải mái hiếm có trong cuộc đời buồn tẻ của Má tôi. Bảy năm trung học, bảy lần tôi đến trường nhận phần thưởng, nhưng đáng quý nhất là bảy dịp tôi được cùng Má tôi đi bộ trên con đường tráng nhựa của trường.
Dãy nhà trên đường Phan Thanh Giản gồm có phòng cô Hiệu Trưởng, phòng họp giáo sư, phòng cô Giám Học, phòng cô Giám Thị và các phòng nhân viên, phòng kế toán. Các lớp học nằm ở từng trệt sát tiếp với các văn phòng, và ở từng hai.
Ba dãy nhà còn lại là lớp học: dãy nhà Đoàn Thị Điểm chỉ là từng trệt, còn dãy nhà Bà Huyện Thanh Quan có hai từng và dãy nhà Ngô Thời Nhiệm có ba từng.
Trường được mở mang thêm, thư viện được xây vào năm 1965 phía sau dãy nhà Ngô Thời Nhiệm, phòng thí nghiệm Vật lý và Hóa học được xây vào năm 1966, và hồ bơi năm 1968.
Cây cảnh ở sân trong thì có cây điệp (bông vàng, cho trái dài màu đen), mấy khóm trắc bá diệp mà học trò chúng tôi gọi là cây “lá thuộc bài”, rất cần thiết cho đời học trò chúng tôi!
Về sau bác làm vườn có trồng thêm một cây phượng vĩ con con, mọc cũng khá nhanh. Khi tôi rời trường thì cây cũng đã có tàn rộng, trổ bông đỏ rực vào mỗi tháng Năm.
Ngoài cây phượng vĩ con con trồng sau này ở sân trong, sân sau cổng Đoàn Thị Điểm có một cây phượng vĩ rất già, không biết được trồng từ bao giờ, mà khi tôi vào trường cây đã cao lắm, tàn rất rộng. Suốt bảy năm trung học, tôi đã chứng kiến bảy mùa hoa nở. Màu hoa đỏ rực đua chen với màu trắng của tà áo nữ sinh, tung bay như trăm ngàn cánh bướm, là một hình ảnh không thể quên được.
Nghe đâu sau khi tôi rời trường lâu lắm, cây phượng này bị sét đánh ngã sau một trận dông bão. May mà bác làm vườn đã trồng cây phượng con ở sân trong trước khi cây già bị ngã. Nếu không, sân trường thiếu cây phượng vĩ thì đời học trò chúng tôi sẽ quạnh hiu biết bao!
Sân sau cổng Đoàn Thị Điểm còn có hàng cây dây giun, leo chằng chịt trên hàng rào cổng, bông sắc đỏ, sắc trắng rất vui mắt. Cổng nhà Ông Nội tôi ở Bến Tre cũng có trồng cây này, cành lá sum sê rất đẹp. Sở dĩ tôi nhớ rất rõ hình dạng và màu sắc cây này là vì cổng trường và cổng nhà Ông Nội tôi là hai nơi tôi yêu mến nhất trong thời hoa niên, và cả hai nơi đều có cây dây giun.
Dãy nhà Bà Huyện Thanh Quan thì không có sân sau, vì nằm sát lề đường. Dãy nhà Ngô Thời Nhiệm thì chỉ có vài cây kiểng quanh bệnh xá và thư viện.

III. Chương trình giảng huấn:

Năm đầu trung học lúc đó là lớp đệ Thất, rồi tiếp tục đệ Lục, Ngũ, Tứ là xong Trung Học Đệ Nhất Cấp. Sau đó là Trung Học Đệ Nhị Cấp gồm đệ Tam, Nhị, Nhất. Tóm lại các lớp trung học đếm ngược từ số lớn tới số nhỏ. Về sau, chương trình học đổi cách chia lớp theo phương cách của Âu Mỹ mà đếm tới: lớp 6 (tương đương với đệ Thất), rồi lớp 7, 8, 9, 10, 11, và lớp 12 là tương đương với lớp đệ Nhất khi xưa.
Vì số phòng học giới hạn nên ba cấp lớp đầu học buổi chiều. Các cấp cao hơn học buổi sáng. Tôi còn nhớ lúc tôi vào trường, mỗi cấp lớp có tất cả 14 lớp: đệ Thất 1 cho tới đệ Thất 14, phân nửa số lớp theo sinh ngữ chính Anh văn, phân nửa còn lại theo sinh ngữ chính Pháp văn (tôi chọn sinh ngữ chính Pháp văn, vào học lớp đệ Thất 8). Các cấp đệ Lục và đệ Ngũ cũng được phân chia như trên. Tổng cộng buổi chiều có tất cả 42 lớp. Trung bình sĩ số mỗi lớp là 60 học sinh, như vậy chỉ riêng buổi chiều đã có tất cả khoảng 2,500 học sinh.
Năm đệ Thất, môn Việt văn, chúng tôi học Văn chương bình dân (hay Văn chương truyền khẩu) gồm ca dao và tục ngữ trong phần văn vần. Về văn xuôi, chúng tôi học vài bài của các tác giả trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn.
Năm đệ Lục, chúng tôi học thể thơ Đường luật, thất ngôn hay ngũ ngôn, các bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan, và truyện dài Bích Câu Kỳ Ngộ.
Năm đệ Ngũ, chúng tôi tiếp tục học thơ Đường luật thất ngôn bát cú, các bài thơ viết bằng chữ Nôm của vua Lê Thánh Tông và các vị thi nhân trong hội Tao Đàn do vua lập ra. Về truyện dài, văn vần chúng tôi học tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu; về văn xuôi chúng tôi học các tác phẩm của các văn sĩ trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn như Hồn Bướm Mơ Tiên, Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng, Đoạn Tuyệt và Lạnh Lùng của Nhất Linh.
Lên năm đệ Tứ, chúng tôi được học buổi sáng; điều này đã là một niềm hãnh diện cho chúng tôi rồi (vì được học cùng buổi với các chị lớn, nên tự nhiên cảm thấy mình lớn hơn, chững chạc hơn), lại thêm được học tác phẩm nổi tiếng Đoạn Trường Tân Thanh (gọi tắt là Truyện Kiều) của Nguyễn Du.
Năm đệ Tam chúng tôi chọn ban: ban A chủ về khoa học thực nghiệm, ban B nghiêng về Toán, và ban C chuyên về Việt văn và Triết học.
Sự thay đổi lớn đối với tôi khi lên đệ Tam là tôi không còn chung lớp chung thầy với tất cả các bạn học trong suốt bốn năm đệ Nhất Cấp. Một số bạn vì chọn ban khác với ban tôi chọn nên sang lớp khác học, buồn lắm! Nhưng bù lại, tôi được làm quen với các bạn mới cùng trường và các bạn từ các trường tư thục ở ngoài vào.
Sự thay đổi thứ nhì cũng khá quan trọng đối với tôi là giờ Việt văn giảm đi khá nhiều vì tôi chọn ban Toán. Tôi vốn ưa thích Toán, Vật lý, Hóa học, mà đồng thời cũng thích Việt văn, nên tôi rất bối rối khi phải chọn ban. Sau cùng tôi chọn ban Toán, và đành “hy sinh” một số giờ Việt văn. Cái gì càng hiếm thì càng quý: trong hai năm đệ Tam và đệ Nhị, dù đau ốm cảm cúm mà nhằm ngày có giờ Việt văn, tôi cũng cố lò dò tới trường, không nghĩ tới việc lây bệnh cho các bạn tôi, thiệt là bậy!
Tôi không nhớ hết năm đệ Tam học các thể loại nào, chỉ nhớ rõ về thể song thất lục bát và tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, do nữ sĩ Đoàn Thị Điểm dịch ra chữ Nôm từ nguyên bản Hán văn của tác giả Đặng Trần Côn. Tác phẩm này là một bài ngâm, kể tâm sự một chinh phụ có chồng đi chinh chiến miền xa.
Năm đệ Nhị là năm chuẩn bị thi Tú tài phần I và là năm cuối cùng học Việt văn (lên đệ Nhất không học Việt văn nữa mà học Triết học Tây phương), nên chương trình Việt văn khá nặng. Chúng tôi học thể thơ hát nói, các tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Trần Tế Xương, cùng sơ lược một vài tác phẩm của các thi sĩ thuộc phái thơ mới như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Thế Lữ, Xuân Diệu, v.v…
Ngày tựu học năm đệ Nhất, tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn, vui ít buồn nhiều: vui vì tôi vừa qua xong một kỳ thi và ít nhất có mảnh bằng “Tú đơn”[2] giắt túi; buồn vì xong năm nay tôi phải rời trường, nơi chứa đầy ắp những kỷ niệm êm đềm thời hoa niên với thầy cô bạn bè.
Lớp đệ Nhất ban Toán chúng tôi không học môn Việt văn, mà những giờ Việt văn được thay bằng những giờ Triết học Tây phương. Tôi nghĩ học sinh mười bảy tuổi như chúng tôi mà phải gặm nhấm triết lý của các bậc đại triết gia trong lịch sử nhân loại thì không còn gì đáng thương hơn! Cho đến bây giờ, tôi không còn nhớ một chút gì về mớ triết lý nhức đầu tôi học được trong năm đệ Nhất, trong khi thơ văn Việt đã theo ấp ủ và tưới mát tâm hồn tôi trong suốt thời gian tôi rời trường, trưởng thành và nên người.
Ôi, đời có những giờ Việt văn là một đời hạnh phúc!

(Trích từ Tiếng Nước Tôi của Du Yên, 2009)

Một thoáng nhớ lại Trường Nữ Gia Long Saigon

961 views

Trường nữ Gia Long (trường nữ sinh Áo Tím) là một trường trung học phổ thông công lập ở Saigon. Được thành lập từ năm 1913, cho đến hiện tại, trường lấy tên Nguyễn Thị Minh Khai, sau 1975, là một trong những trường phổ thông lâu đời nhất của nền giáo dục Việt Nam.

Thời Pháp thuộc
Khoảng đầu thế kỷ 20, nền giáo dục còn mang tính chất Nho giáo ở Việt Nam ít chú trọng đến giáo dục nữ giới. Đến năm 1908, Nghị viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ Lê Văn Trung cùng vợ của Tổng Đốc Phương đề nghị chính quyền thực dân Pháp thành lập một ngôi trường đa cấp dành cho nữ. Đề nghị được chấp nhận nhưng mãi đến 1913 ngôi trường mới được khởi công trên một khu đất rộng đường Legrand de la Liraye, Sài Gòn (nay thuộc đường Điện Biên Phủ, Thành phố Hồ Chí Minh), việc khởi công chậm này là vì không có kinh phí.
Năm 1915, trường được xây dựng xong và cũng trong năm ấy trường khai giảng khóa đầu tiên; toàn quyền Đông Dương khi đó là ông Ernest Nestor Roume và Thống đốc Courbeil là người cắt băng khánh thành và tuyên bố khai giảng. Khóa đầu tiên trường tuyển 42 nữ sinh, đồng phục khi này là áo dài tím, tượng trưng cho sự tinh khiết của phụ nữ Việt Nam,[2] nên trường còn có tên là Trường Nữ sinh Áo Tím. Tất cả nữ sinh trường đều cư ngụ ở Sài Gòn và vùng lân cận, mãi về sau mới có cư xá dành cho nữ sinh đến từ các thành phố, vùng khác. Trường đào tạo thành nhiều cấp: Đồng ấu (Enfantin), Cao đẳng (Supérieur). Năm cuối Sơ học (CEP), học sinh phải thi lấy Chứng chỉ Căn bản Giáo dục sau khi tốt nghiệp những lớp cao cấp.
Năm 1918, vì số lượng học sinh gia tăng, trường xây dựng thâm một tòa nhà thứ hai song song với tòa nhà cũ. Tòa nhà mới có nhiều chức năng: tầng dưới dùng làm cư xá cho các học sinh xa nhà, phía sau là bệnh xá, phòng giặt và nhà bếp trong một ngôi nhà trệt. Đây đồng thời cũng là nơi giảng dạy các môn nữ công gia chánh và thêu thùa.
Đến tháng 9 năm 1922, toàn quyền Albert Sarraut khai giảng lớp đầu tiên của bậc Trung học Ðệ nhất Cấp. Một phiến đá bằng cẩm thạch khắc chữ COLLÈGE DES JEUNES FILLES INDIGÈNES (Trường Của Những Thiếu Nữ Bản Xứ) được dựng lên trước cổng trường, tuy nhiên trường vẫn được biết đến nhiều hơn với cái tên Trường Nữ Sinh Áo Tím. Hiệu trưởng đầu tiên là một cô giáo người Pháp tên là Lagrange. Để được vào học, học sinh phải vượt qua khóa thi căn bản giáo dục và kỳ thi tuyển vào trường. Thời gian này tiếng Pháp được dạy từ cấp lớp căn bản, là ngôn ngữ chính thức dùng trong việc giảng dạy các lớp bậc trung học đệ nhất cấp, trong trường nữ sinh chỉ được dùng tiếng Pháp để giao tiếp; còn tiếng Việt chỉ được dạy mỗi tuần 2 tiếng trong giờ Việt Văn.
Tuy trường khi này do người Pháp quản lý nhưng phong trào đấu tranh chống thực dân trong học sinh vẫn âm ỉ; trong thập niên 1920, ít nhất đã hai lần nữ sinh trường xuống đường: một lần vào khoảng đầu năm 1920 nhân khi một giáo viên người Pháp yêu cầu học sinh người Việt phải nhường ghế ở hàng đầu cho học sinh người Pháp ngồi, và vào năm 1926 để tang cho Phan Châu Trinh. Đến hè năm 1940, quân đội Nhật chiếm đóng cơ sở trường rồi sau đó đến quân đội Anh, trường dời về trường tiểu học Ðồ Chiểu tại vùng Tân Ðịnh; cũng trong những năm 1940, trường đổi tên: Collège Gia Long, rồi Lycée Gia Long.
Năm 1947, khi được người Anh trao trả, trường bị hư hại nhiều đến nỗi vị hiệu trưởng lâm thời phải vận động quyên góp tài chính để tu sửa trường. Năm 1949, trường lại được mở rộng: một tòa nhà hai tầng được xây mới ở đường Bà Huyện Thanh Quan để đáp ứng số lượng học sinh ngày càng tăng. Cũng trong năm 1949, nữ sinh trường cùng với nam sinh trường Petrus Ký tổ chức bãi khóa kỷ niệm ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa dẫn đến việc trường bị nhà cầm quyền cho đóng cửa.

Thời Quốc gia Việt Nam
Đến năm 1950, sau một cuộc đấu tranh dài hơi có sự góp sức của đông đảo học sinh các trường khác ở khắp vùng Sài Gòn-Gia Định (trong số ấy có nhiều học sinh đã hy sinh, như Trần Văn Ơn của trường Petrus Ký  trường được mở cửa lại và đánh dấu một sự kiện lớn: lần đầu tiên hiệu trưởng là người Việt đồng thời cũng là một cựu nữ sinh của trường: cô Nguyễn Thị Châu. Đến 1952, chương trình giáo dục Việt dần thay thế chương trình giáo dục Pháp; nữ sinh phải học cả hai ngoại ngữ là Anh-Pháp song song. Kỳ thi tuyển vào trường rất khó và được đem so sánh với kỳ thi vào trường dành cho nam là Lycée Petrus Ký với số học sinh tham dự đến từ khắp nơi trong miền Nam: Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa, Tân An… (một cuộc tuyển sinh vào hệ trung học trường vào khoảng năm 1971 được ghi nhận như sau: có tổng cộng 8000 học sinh ghi danh và thi tuyển nhưng chỉ có 819 đậu.) Năm 1953, đồng phục trường đổi từ áo dài tím sang áo dài trắng với phù hiệu của trường là đóa mai vàng khâu lên trên áo, đồng thời sau đó chương trình giáo dục bằng tiếng Pháp của trường cũng được đổi sang tiếng Việt và tên trường đổi thành tên tiếng Việt Trường Nữ Trung học Gia Long.

Thời Việt Nam Cộng hòa
Suốt những năm sau đó, trường vẫn tiếp tục phát triển: 1965, xây thêm thư viện; 1964 trường bỏ nội trú, sửa các phòng ở thành phòng học; số lượng lớp của trường chừng 55 lớp học từ đệ Tứ đến đệ Nhất (tường đương lớp 9 đến lớp 12 bây giờ) học buổi sáng; 45 lớp từ đệ Thất đến đệ Ngũ (tương đương lớp 6 đến lớp 8 bây giờ) học buổi chiều với tổng cộng 3000 học sinh.

Sau năm 1975
Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, trường được chính quyền mới đổi tên thành Trường Phổ thông cấp 2-3 Nguyễn Thị Minh Khai. Niên khóa 1978-1979, Trường giải thể cấp 2, thu nhận nữ sinh lẫn nam sinh, đổi tên thành Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai tới bây giờ.
Năm 2003, trường được đưa vào danh mục của 55 công trình đề nghị điều tra xác lập di tích kiến trúc cổ của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh

Danh sách hiệu trưởng

Năm học Hiệu trưởng
1914-1920 Cô Lagrange
1920-1922 Cô Lorenzi
1922-1926 Cô Pascalini
1926-1942 Cô Saint Marty
1942-1945 Cô Fourgeront
1945-1947 Cô Malleret
1950-1952 Cô Nguyễn Thị Châu
1952-1963 Cô Huỳnh Hữu Hội
1963-1964 Cô Nguyễn Thu Ba
1964-1965 Cô Trần Thị Khuê
1965-1969 Cô Trần Thị Tỵ
1969-1975 Cô Phạm Văn Tất

(Theo Wikipedia)

Hồ Gươm năm 1948

695 views

Hồ Gươm, Hà Nội tháng 07 năm 1948


Le lac Hoan Kiem ou lac de l’Epée,
(Hanoi, Juillet 1948)


Hoan Kiem Lake, meaning “Lake of the Returned Sword” or “Lake of the Restored Sword”, also known as Hồ Gươm (Sword Lake),


(Hanoi, July 1948)