Sài Gòn - Page 2

Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở miền Nam Việt Nam

387 views

Nhìn lại khoảng thời gian những năm 60 của thế kỉ trước, hình ảnh những con người Việt nghèo khó ở miền Nam Việt Nam. Cùng với đó là những chiếc xe đạp, xe hơi chở khách, xe đò, xe lam, những bức ảnh cho chúng ta thấy các phương tiện giao thông ở Việt Nam hồi những năm 1960 rất đa dạng. Nhưng đó là những con người sống thật nhất, không có cảnh chen lấn xô đẩy như cuộc sống hiện tại.

Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN

Dinh Thượng Thơ: Giá trị không chỉ ở kiến trúc

308 views

Ngay khi phương án phá bỏ tòa nhà xưa, vốn có tên gọi “Dinh Thượng Thơ” được công bố ở một cuộc triển lãm vào cuối tháng 4.2018, nhiều ý kiến trên báo đài đã cảnh báo khả năng đánh mất một di sản quý mặc dầu tòa nhà chưa được xếp hạng di tích. Trên internet, hơn 7.000 người trong và ngoài nước đã nhanh chóng ký thỉnh nguyện thư online yêu cầu dừng việc phá bỏ.
Bài viết dưới đây tiếp tục đóng góp các tư liệu nghiên cứu mới về giá trị nhiều mặt của Dinh Thượng Thơ.

Giá trị ngay từ tên gọi Việt hóa

Có ý kiến cho rằng từ ngữ xưa “Dinh Thượng Thơ” có hơi hướm thực dân, đế quốc vì vậy không nên gọi (và từ đó không nên duy trì tòa nhà!). Nói như thế hoàn toàn “oan”, bởi tên gọi “Dinh Thượng Thơ” chính là từ dịch thuật Việt hóa của người Sài Gòn vào cuối thế kỷ 19. Nó dùng để chỉ một cơ quan chính quyền hoàn toàn còn mới mẻ với người Việt thông qua một từ ngữ dễ hiểu, dễ nhớ. Chúng tôi tìm thấy từ ngữ Việt hóa đó còn dấu tích trên Gia Định Báo – tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ra đời năm 1865. Thêm nữa, chúng được giải thích khá tường tận trong sách giáo khoa “Dư đồ thuyết lược” (Précis de Géographie, Kiến thức chính yếu về địa lý) của Trương Vĩnh Ký, in năm 1887.

Ngày 9.11.1864, cách đây 154 năm, Thống đốc Nam kỳ De La Grandière ký sắc lệnh thành lập cơ quan Direction de L’Intérieur. Đứng đầu cơ quan này là một Directeur, người đầu tiên giữ chức Directeur là ông Paulin Vial. Còn tòa nhà nơi đặt cơ quan được gọi là Hôtel de L’Intérieur. Ngày nay, chúng ta có thể dịch nhanh Direction de L’Intérieur là Bộ Nội vụ (cấp quốc gia) hay Nha Nội vụ (cấp khu vực) hoặc Sở Nội vụ (cấp tỉnh thành). Còn Directeur là giám đốc, và Hôtel de L’Intérieur là Dinh Nội vụ. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ 19, khi người Pháp thiết lập ở nước ta một cơ cấu kinh tế – chính trị hoàn toàn mới mẻ và xa lạ thì việc hiểu nghĩa và dịch thuật tên các cơ quan và chức vụ chính quyền mới, hoàn toàn không phải là chuyện dễ dàng.

Bản đồ Thành Gia Định 1935
Bản đồ Thành Gia Định đối chiếu với các đường phố ở trung tâm Sài Gòn được thiết kế sau 1864. Góc La Grandière – Catinat trong ô vuông xanh chính là địa điểm xây dựng Dinh Thượng Thơ và Dinh Xã Tây. Địa điểm này nằm trong khuôn viên pháo đài của cổng thành phía Nam (nguồn: Tạp chí Hội nghiên cứu Đông Dương – Sài Gòn 1935)

Trong bối cảnh đó, người Sài Gòn – có thể là Trương Vĩnh Ký, giáo sư trường Thông ngôn và Hậu bổ, đã dịch tên Direction de L’IntérieurHôtel de L’Intérieur là “Dinh Lại bộ Thượng Thơ”, gọi tắt là “Dinh Thượng Thơ”. Còn chức vụ Directeur người đứng đầu cơ quan này được dịch là “Quan Thượng Thơ”. Theo chúng tôi, cách dịch nêu trên vận dụng các tên gọi Việt Nam sẳn có, mang ý nghĩa gần giống để biểu đạt nội dung mới. Thật vậy, chữ “Dinh” trong tiếng Việt thế kỷ 19, thường dùng để chỉ cơ quan chính quyền, đồng thời cũng mang nghĩa là là trụ sở của cơ quan đó. Còn chữ “Lại bộ” hay Bộ Lại – từ Việt xưa có từ thời Lý Trần, để chỉ cơ quan trông coi về việc bổ nhiệm quan lại giúp Vua. Bộ Lại là một trong sáu bộ (lục bộ) của chính phủ trong thời phong kiến, bao gồm: Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình, Bộ Công, Bộ Lại và Bộ Lễ. Từ đời nhà Lý cho đến nhà Nguyễn, chức vụ đứng đầu các Bộ đều được gọi là Thượng Thư (phát âm miền Nam là Thượng Thơ). Sau Cách mạng tháng Tám, trong tiếng Việt hiện đại mới xuất hiện chữ Bộ trưởng – thay cho Thượng Thơ.

Hai mươi ba năm sau, khi Liên bang Đông Dương được Pháp thành lập vào tháng 10 năm 1887, chính quyền Pháp vẫn duy trì cơ quan Direction de L’Intérieur với chức năng tương tự nhưng chức vụ Directeur được thay thế bằng chức vụ Secrétariat Général (Tổng thư ký – chức vụ thấp hơn Directeur). Theo sách Quan chế của Huỳnh Tịnh Của – in năm 1888, cơ quan Direction de L’Intérieur được dịch chính thức là “Thống Lý Nha Sở Nội bộ”, còn Secrétariat Général được dịch chính thức là Tá Lý hay Hiệp Lý.

Nếu so từ ngữ “Thống Lý Nha Sở Nội bộ” với “Dinh Lại Bộ Thượng Thơ”, hay Dinh Thượng Thơ thì từ “Thống Lý Nha Sở Nội bộ” chuyên chở được đầy đủ chức năng kiêm quản nhiều sở ngành của Direction de L’Intérieur. Tuy nhiên, nó lại là từ ngữ hoàn toàn bằngchữ Hán – Việt nên khó hiểu, khó nhớ. Cũng tương tự như thế, các từ Tá Lý hay Hiệp Lý đều dịch nghĩa chính xác người đứng đầu cơ quan Direction de L’Intérieur, song vẫn là từ ngữ Hán – Việt. Không dễ dàng sử dụng như từ Thượng Thơ. Cần lưu ý vào cuối thế kỷ 19, trên đất Nam Kỳ các trường lớp Nho học không nhiều như ở miền Trung và miền Bắc, mặt khác chữ quốc ngữ còn phôi thai. Có lẽ chính vì thế, người dân Sài Gòn và Nam Kỳ quen dùng tên gọi Dinh Thượng Thơ hơn Dinh Thống Lý Nha Sở Nội bộ và còn lưu truyền đến ngày nay.

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Có thể nêu một thí dụ tương đồng trong trường hợp này. Đó là từ Dinh Xã Tây (dịch thuật từ Hôtel de Ville), được người Sài Gòn và Nam Kỳ dùng phổ biến để chỉ cơ quan chính quyền thành phố và trụ sở của nó, thay vì “Dinh Đốc lý” hay “Tòa Thị chính (quen dùng ở miền Bắc, miền Trung ). Sau năm 1954 mới có từ “Tòa Đô sảnh” thay thế.

Xét về mặt ngôn ngữ học và sử học, việc gọi tên một địa danh hay một kiến trúc theo tên gọi ban đầu phổ biến của nó là chuyện bình thường và nên làm. Để gọi tên tòa nhà 59 – 61 Lý Tự Trọng, một kiến trúc may mắn tồn tại xuyên ba thế kỷ, chỉ thay đổi chức năng từ sau năm 1945 trở đi, không thể không dùng tên gọi lịch sử vốn có là Dinh Thượng Thơ.

Tên gọi Dinh Thượng Thơ chính là dấu tích ngôn ngữ của thời kỳ giao thời giữa cận đại và hiện đại trong lịch sử Sài Gòn và Việt Nam. Đặc biệt, nó là một thí dụ tiêu biểu về việc phát triển chữ quốc ngữ trở thành ngôn ngữ hành chính và ngôn ngữ toàn xã hội. Vả lại, đâycòn là một thí dụ tiêu biểu trong việc dịch thuật các từ ngữ hành chính sao cho dể hiểu, dễ nhớ trong điều kiện dân trí cụ thể. Điều ấy xứng đáng là một kinh nghiệm quý báu cho công cuộc cải cách hành chính hiện tại.

Dấu tích thời kỳ người Việt thành lập Sài Gòn từ thế kỷ 17

Qua nghiên cứu các bản đồ cổ và sách sử, chúng tôi thấy nền đất Dinh Thượng Thơ là một trong những dấu tích quan trọng của Thành Gia Định và là dấu tích tiêu biểu của thời kỳ người Việt bắt đầu khai phá, thành lập Sài Gòn.

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, vào mùa Xuân năm 1790, chúa Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) cho xây Thành Gia Định tại vùng đất cao thuộc địa phận làng Tân Khai – một trong 40 ngôi làng đầu tiên của người Việt trên đất Sài Gòn. Vùng đất cao này khi người Pháp vào gọi là Plateau de la Citadelle – Đồi Thành lũy. Đó chính là khu đất trải rộng từ rạch Thị Nghè xuống đến đường Đồng Khởi ngày nay. Đỉnh đồi là khu vực Đài Truyền hình hiện giờ, chân đồi là khu vực Công viên Chi Lăng, bao gồm Dinh Thượng Thơ. Người Pháp gọi khu vực chân đồi tại đây là Dốc Catinat (Catinat là tên một trong những chiến thuyền tham gia đánh thành Gia Định).

Khu trung tâm hành chính Sài Gòn và Nam Kỳ
Khu trung tâm hành chính Sài Gòn và Nam Kỳ trên bản vẽ minh họa quy hoạch Sài Gòn 1900 (đang lưu giữ tại trụ sở UBND TP.HCM). Các cơ quan và kiến trúc tiêu biểu đều trong khoảng cách 5 – 15 phút đi bộ. Dinh Thượng Thơ là hai tòa nhà đánh số 1 và 2

Thành Gia Định là một tòa thành lớn, rộng khoảng 100 ha, xây dựng theo kiểu Việt Nam kết hợp với châu Âu (Vauban). Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết thành còn có tên gọi là thành Bát Quái (dân gian gọi là Thành Quy), hình dáng đường viền như hoa sen, có 8 cửa. Trong đó, hai cửa phía Nam mang tên Càn Nguyên và Ly Minh. Theo bản đồ phác họa Thành Bát Quái do người Pháp vẻ lại và chú giải bởi Trương Vĩnh Ký, cổng Càn Nguyên chính là ngả tư Đồng Khởi – Lý Tự Trọng hiện tại. Còn cổng Ly Minh là ngả ba Lê Thánh Tôn – Thái Văn Lung (tên xưa là Đồn Đất – nay là bệnh viện Nhi đồng 2). Con đường vốn có chạy dọc theo đường hào bên trong tường thành phía Nam cũ,được người Pháp sửa sang, chuyển thành đường phố – năm 1865 mang tên Gouverneur (vì có Dinh Soái phủ Sài Gòn đóng ở khu đất trường Trần Đại Nghĩa hiện tại). Đường này từ năm 1870, mang tên De La Grandière (đườngLý Tự Trọng ngày nay).

Vào tháng Giêng năm 1926, khi xây dựng nhà ở góc đường Catinat (Đồng Khởi) và De La Grandière (có thể là nền đất cao ốc 26 Lý Tự Trọng hiện giờ), người Pháp đã phát hiện một đoạn tường thành Bát Quái xây bằng đá ong Biên Hòa rất kiên cố.

Căn cứ vào các sử liệu nêu trên, có thể nói ô đất giáp ranh đường Đồng Khởi – Lý tự Trọng – Lê Thánh Tôn ngày nay chính là đất của pháo đài ở cổng thành phía Nam, mang tên Càn Nguyên của Thành Gia Định. Trên ô đất này, ngay từ những năm 1860, người Pháp đã quy hoạch làm đất xây dựng Dinh Thượng Thơ (bao gồm nhà làm việc ở mặt đường Lý Tự Trọng và văn phòng của giám đốc trên nền cao ốc 213 Đồng Khởi sau này) và sau đó là Dinh Xã Tây (trụ sở UBND TP.HCM). Nền đất của cả hai công trình kiến trúc quan trọng này ẩn chứa di tích không chỉ của Thành Gia Định mà còn của làng Tân Khai – chiếc nôi của người Việt trên đất Sài Gòn. Năm 2007, tại Hà Nội, di tích Hoàng Thành Thăng Long đã phát lộ trên nền đất xây dựng Nhà Quốc Hội. Nay mai, nếu có một cuộc thám sát khảo cổ tượng tự trên nền đất trong khuôn viên của hai tòa nhà thì có nhiều khả năng di tích Hoàng Thành Gia Định thế kỷ 18 và dấu tích người Việt khai phá Sài Gòn ở thế kỷ 17 sẽ phát lộ!

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Dấu tích mở đầu lịch sử hành chính đô thị và hành chính quốc gia hiện đại

Từ 1861 – 1879, thực dân Pháp thiết lập chính quyền quân quản ở Sài Gòn và sau đó là trên toàn Nam Kỳ, người Việt gọi là “Soái phủ”. Đứng đầu Soái phủ là đô đốc thống đốc (Amiraux Gouverneur, người Việt lúc ấy dịch là Quan Khâm Mạng), một tướng hải quân chỉ huy về cả quân sự và hành chính. Trong gần 4 năm đầu tiên (1861 – 1864), chính quyền quân quản chưa có bộ máy riêng về hành chính dân sự. Đến ngày 9.11.1864, Thống đốc Nam Kỳ De La Grandière ra quyết định thành lập Direction de l’ Interieur (Bộ Nội vụ), viết tắt là DI – hai chữ này còn nguyên trên cửa sắt ở cổng 61 Lý Tự Trọng hiện tại. Cơ quan DI là tổ chức đầu tiên chuyên về hành chính dân sự, có nhiệm vụ quản trị Sài Gòn và các vùng mới chiếm đóng – tách biệt khỏi các hoạt động quân sự. Cơ quan DI bao gồm Secrétariat General (có thể dịch là ban tổng thư ký hay chánh văn phòng) và nhiều Bureax (có thể dịch là sở hay ban hoặc phòng).

Theo sách La Cochinchine en 1878 giới thiệu Nam Kỳ nhân Triển lảm Thế giới ở Paris 1878, DI có một ban tổng thư ký và bốn Bureau (phòng, ban). Theo sách Quan chế của Huỳnh Tịnh Của vào năm 1888, DI vẫn giữ nguyên bộ máy như trên nhưng có thêm Bureau thứ 5 Bureau. Căn cứ vào nội dung công việc của các Bureau thì DI không chỉ phụ trách về bổ nhiệm quan chức các địa phương mà còn kiêm quản một loạt các lĩnh vực dân sự rộng khắp khác. Đó là quản trị ngân sách, tài chính, xây dựng, giao thông, bưu điện, canh nông, thương mại, kỹ nghệ, giáo dục, tôn giáo, cảnh sát và mật vụ và kể cả xử án. Gia Định Báo trực thuộc Bureau thứ ba – bộ phận quản lý các việc liên quan kinh doanh, giáo dục, y tế, hộ tịch, họa đồ, nhà in v.v..

Có thể hình dung công việc của DI là công việc của một chính phủ thực thụ bao gồm nhiều bộ chuyên ngành, hay một cơ quan liên bộ quản trị mọi mặt Nam Kỳ (trừ quân sự). Như vậy, DI là cơ quan ra đời để quản trị hành chính một vùng lảnh thổ rất lớn với Sài Gòn là thủ phủ. Do vậy, tuy chức vụ của người đứng đầu DI chỉ gọi là Directeur (giám đốc) nhưng quyền hạn rất lớn, hầu như chỉ sau thống đốc. Đến năm 1887, chức vụ Directeur của DI được bãi bỏ nhưng cơ quan DI vẫn được duy trì trực thuộc thẳng thống đốc Nam Kỳ. Đây cũng là thời điểm hoàn thành tòa nhà hình chữ U như kiến trúc còn tồn tại đến bây giờ.

Ngày 13.12.1880, Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers ra nghị định thành lập khu Sài Gòn – Chợ Lớn bao gồm hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, đặt dưới quyền của DI. Tuy nhiên đến năm 1888, toàn quyền Đông Dương lại cho hai thành phố tách ra. Như vậy, từ 1864 đến 1888, ngoài việc điều hành toàn Nam Kỳ, DI còn là cơ quan hành chính điều hành trực tiếp Sài Gòn – Chợ Lớn trong 24 năm. Nói cách khác, DI là “tòa thị chính”, ủy ban hành chính đầu tiên của đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn!

Trong hai thập niên cuối cùng của thế kỷ 19, Thống đốc Nam Kỳ lần lượt thành lập và tách các Sở chuyên môn về tài chính, công chính, học chính, thương chính… ra khỏi cơ quan DI. Dần dần, DI chuyển hóa một sở chuyên môn chuyên về nhân sự và công tác văn phòng đặt dưới quyền Nha Tổng thư ký của Thống đốc Nam Kỳ.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trước khi Pháp xâm lược trở lại, Ủy ban hành chính Nam bộ và một số cơ quan trực thuộc đã đóng trụ sở ở Dinh Thống đốc Nam Kỳ (Bảo tàng TP.HCM hiện tại). Nhưng sau khi quân đội Anh vào đóng tại Dinh Thống đốc, các cơ quan này chuyển qua Dinh Xã Tây và Dinh Thượng Thơ.

Từ 1945 – 1955, tòa nhà Dinh Thượng Thơ, có lúc là Dinh Thủ hiến Nam Việt, và rồi Tòa đại biểu chính phủ tại Nam Việt của Quốc gia Việt Nam – Bảo Đại. Từ tháng 10.1955 – 4/1975, Dinh Thượng Thơ chuyển thành trụ sở của Bộ Kinh tế. Nơi đây cũng là trụ sở tuần báo Chấn Hưng Kinh Tế trực thuộc Bộ Kinh tế. Sau tháng 4.1975 đến nay, tòa nhà không còn là trụ sở của các cơ quan trung ương mà chuyển về cho UBND TP.HCM, lần lượt làm trụ sở của nhiều cơ quan quản lý kinh tế.

Đến nay, xuyên qua ba thế kỷ, tòa nhà Dinh Thượng Thơ chỉ thực hiện chức năng là công thự hành chính ở cấp trung ương cũng như địa phương. Có lẽ hiện giờ, ngoài trụ sở UBND TP.HCM và Tòa án TP.HCM, trên địa bàn thành phố, rất hiếm có một công thự nào không những kiến trúc còn nguyên vẹn như thuở ban đầu mà chức năng sử dụng cũng không thay đổi như tòa nhà Dinh Thượng Thơ. Bản thân tòa nhà rất xứng đáng được coi là di tích lịch sử, là cột mốc vàng – mở đầu lịch sử quản trị hành chính đô thị cũng như quản trị hành chính quốc gia của Việt Nam trong thời kỳ hiện đại!

Di sản kiến trúc công thự đẹp và hiệu quả

Khi mới ra đời, 1864, cũng như nhiều cơ quan chính quyền lúc ấy trụ sở của DI chỉ là một số ngôi nhà nhỏ tạm thời. Tuy nhiên khu đất đặt trụ sở của DI đã nằm trong quy hoạch từ rất sớm. Theo các tài liệu hiện có, tòa nhà Dinh Thượng Thơ hình chữ U như kiến trúc đang hiện hữu, được xây dựng trong khoảng 1875 -1881. Trên bản đồ Sài Gòn 1882, hiện lưu tại Thư viện Quốc gia Pháp, chúng tôi thấy đã có hình vẻ tòa nhà hình chữ U này. Như vậy, có thể coi thời điểm 1881 hoặc 1882 là năm hoàn thành tòa nhà.

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Dinh Thượng Thơ do kiến trúc sư Marie-Afred Foulhoux (1840 – 1892) thiết kế. Ông cũng là tác giả thiết kế các công thự đồ sộ chung quanh tòa nhà này, như tòa Pháp Đình (1885), Dinh Thống đốc Nam Kỳ 1890), Bưu điện (1891). Hơn thế nữa ông còn là Giám đốc Sở Công chánh Nam Kỳ, sau đó được bổ nhiệm làm Kiến trúc sư trưởng của thành phố.

Do vậy, tòa nhà Dinh Thượng Thơ và các công trình kể trên của Foulhoux, mang phong cách dinh thự Pháp thế kỷ 19 nhưng vẫn có đường nét sáng tạo, kết hợp với thực tế xứ nhiệt đới. Thiết kế cổng vào tòa nhà chính, các cột trang trí tầng lầu, cổng ngoài sân và cửa đúc bằng gang, hàng rào sắt đều thể hiện tính sang trọng, quý phái. Tuy nhiên, tòa nhà có sân rộng, nhiều vòm cửa và cửa sổ lớn, tường rào không xây kín, tạo ra cảm giác thân thiện.

Trên sân tòa nhà, hiện có một cây hoa bồ cạp vàng, ở cuối tòa nhà phía giáp đường Đồng Khởi có một cây đa lâu năm. Cả hai cây này đều làm tăng vẻ đẹp cho tòa nhà. Được biết dưới tòa nhà có tầng hầm chưa được khảo sát đầy đủ. Nếu có được bản vẻ gốc kiến trúc của tòa nhà và một cuộc khảo sát toàn diện, hẳn chúng ta còn tìm được nhiều điều thú vị khác ở kiến trúc Dinh Thượng Thơ.

Mặt khác, khi đối chiếu kiến trúc tòa nhà và lịch sử hành chính cũng như cách thức tổ chức cơ quan hành chính của người Pháp trên đất Sài Gòn và Nam Kỳ, chúng ta có thể nhận thấy Dinh Thượng Thơ là một thí dụ tiêu biểu cho việc sử dụng công thự một cách hiệu quả và tiết kiệm. Thật vậy, ngay từ đầu, Dinh Thượng Thơ là một cơ quan hành chính đa năng, kiêm quản nhiều bộ phận chuyên môn khác nhau, đặt cạnh nhau để hỗ trợ cho nhau và tạo ra sự thuận tiện cho người dân tiếp xúc. Theo Gia Định Báo (tòa soạn đặt trong Dinh Thượng Thơ từ 1865 – 1885), ngoài việc liên hệ các Bureaux, nơi đây còn là nơi hội họp Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (một dạng hội đồng nhân dân cấp miền), bán đấu giá tài sản công và kể cả là nơi đến đặt mua báo và giao dịch quảng cáo!

Trong thực tế, quy mô tòa nhà Dinh Thượng Thơ chỉ ở mức vừa phải để phục vụ một dân số vừa phải (dưới 300.000 dân). Khi các tỉnh thành phát triển, dân số gia tăng, nhu cầu quản trị gia tăng thì Dinh Thượng Thơ không kiêm quản nữa. Các sở chuyên môn được dời đi theo quy hoạch đã định trước. Và do vậy, chính quyền đã không cần phải mở rộng hay xây mới tòa nhà Dinh Thượng Thơ, qua đó không làm lảng phí ngân sách, đồng thời không làm hỏng đi thiết kế hoàn hảo của chính tòa nhà và quy hoạch tổng thể cả khu vực!

Di sản quy hoạch trung tâm và cảnh quan hoàn hảo

Theo các bản vẻ thiết kế đô thị và bản đồ minh họa quy hoạch 1860, 1880 và 1900 mà chúng tôi được tham khảo tại Thư viện quốc gia Pháp, nơi xây dựng tòa nhà làm trụ sở cho Dinh Thượng Thơ, nằm trong tổng thể thiết kế quy hoạch khu trung tâm chính quyền Nam Kỳ và Sài Gòn.

Khu trung tâm này là ô chữ nhật, bao gồm các đường phố ngày nay là Nguyễn Đình Chiểu (Bắc), Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Tây), Lê Thánh Tôn (Nam) và Nguyễn Bĩnh Khiêm (Đông). Trong đó, đại lộ Gouvernement – Chính phủ (về sau, đổi là Norodom, nay là Lê Duẩn) và đường Impériale – Đế chế (về sau đổi là Nationale, nay là Hai Bà Trưng) là hai con đường trung tâm giao nhau thẳng góc, giống như kiểu thiết kế đô thị phổ biến ở Pháp vào thế kỷ 18. Thực tế khu này chính là nền đất của Thành Quy và Thành Phụng của nhà Nguyễn, hay nói cách khác người Pháp đã kế thừa và tận dụng ngay quy hoạch của Việt Nam sẳn có.

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Trong khu này, góc Đông Bắc, chủ yếu dành cho các cơ quan quân sự vì giáp giới với rạch Thị Nghè (thông ra sông Sài Gòn) và thủy xưởng Ba Son. Đối xứng với nó là góc Tây Nam – nơi đặt các cơ quan chỉ huy đầu nảo và các sở chuyên môn hành chính. Các cơ quan đó được bố trí kế cận nhau, bao gồm lần lượt như sau:

  • Soái Phủ (khu Taberd, nay là trường Trần Đại Nghĩa, ba mặt đường).
  • Sở Học chánh (ba mặt đường, nay là Vincom Center, Sở Giáo dục và các biệt thự kế cận), nằm bên cạnh công viên Pages (công viên Chi Lăng).
  • Sở Đo đạc (góc Đồng Khởi – Lý Tự Trọng, đối diện Dinh Thượng Thơ).
  • Bộ/ Sở Nội vụ (Dinh Thượng Thơ, 59 – 61 Lý Tự Trọng).
  • Sở Công Chánh (63 Lý Tự Trọng, nay là trụ sở Sở Giao thông – Vận Tải và Sở Tài nguyên – Môi trường).
  • Sở Hiến binh (38 Lý Tự Trọng, nay là doanh trại quân đội).
  • Dinh Thống đốc Nam Kỳ (lúc đầu là Bảo tàng Nông nghiệp, nay là Bảo tàng TP.HCM).
  • Pháp đình (Tòa án TP.HCM).
  • Khám lớn (nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp).
  • Dinh Chính phủ (về sau thành Dinh Toàn quyền Đông Dương, còn gọi là Dinh Norodom, nay là Dinh Thống Nhất).
  • Nhà thờ Nhà nước (Nhà thờ Đức Bà ngày nay).
  • Sở Bưu Điện (Bưu điện trung tâm ngày nay).
  • Sở Tài chính và Sở Thu thuế (hai tòa nhà đối diện nhau, nay là Sở Văn hóa – Thể thao và cao ốc Metrolitan, cao ốc Bảo Việt).

Đặc biệt, bản đồ minh họa quy hoạch 1880 cho thấy có một vườn cây phía sau Dinh Thượng Thơ, đó chính là đất để dành làm Tòa Thị chính thành phố (Dinh Xã Tây được xây dựng từ 1898 đến 1909).

Thêm nữa, Dinh Thượng Thơ không chỉ là một kiến trúc đẹp gắn với quy hoạch trung tâm chính quyền hoàn hảo mà còn góp phần làm nên cảnh quan đẹp của góc đường Đồng Khởi – Lý Tự Trọng. Điều này biểu hiện ở các điểm như sau:

  • Tòa nhà thấp tầng, hài hòa với công viên Chi Lăng (trước 1955 là công viên Pages) làm thành một không gian thoáng rộng, dấu mốc kết thúc con dốc Catinat.
  • Hàng rào bằng tường gạch, hài hòa hợp cùng cây xanh dọc đường Catinat (sau 1955 là Tự Do, nay là Đồng Khởi).
  • Là một phần không thể thiếu của đường Lý Tự Trọng (tên nguyên thủy là đường Thống Đốc), khởi đầu khi xưa từ ngả tư Nguyễn Trung Trực đến bệnh viện Nhi Đồng 2 (bệnh viện Grall thời Pháp) có hai hàng cây cao cân đối, nhà cửa ven đường có chiều cao bị khống chế thấp hơn hai hàng cây. Đó là con đường tiêu biểu cho cách thiết kế quy hoạch một thành phố – vườn (Garden City) hay thành phố trong vườn (City in Gardens), theo cách nói hiện đại, đã áp dụng cho Sài Gòn từ hơn 150 năm trước.
  • Hiện tại, đường Lý Tự Trọng từ ngả tư Đồng Khởi đổ lên Thái Văn Lung đã xây dựng nhiều tòa cao ốc hiện đại, vượt quá các hàng cây xưa. Chỉ còn đoạn đường trải dài từ Thư viện Khoa học tổng hợp (Khám lớn Sài Gòn xưa) và mặt hông Pháp đình Tòa án, kéo đến Dinh Thượng Thơ là đoạn đường giữ được nét đẹp xưa, hài hòa cây xanh với kiến trúc. Quả thật, đoạn đường này cùng với Dinh Thượng Thơ, Dinh Thống đốc, Tòa án, đang trở thành “hàng quý hiếm” độc đáo khi mà ở thời điểm thế kỷ 21, trung tâm thành phố đã không thoát khỏi cơn lốc biến đổi trở thành rừng nhà cao tầng.

Giữ lại tòa nhà Dinh Thượng Thơ và cảnh quan xung quanh nó không chỉ vì lưu giữ các giá trị lịch sử – văn hóa mà còn lưu giữ giá trị cảnh quan – môi trường vô giá của một đô thị kết hợp văn minh Âu – Á, đã từng được coi là Hòn ngọc Viễn Đông!

Tác giã : Phúc Tiến (đăng trên trang báo mạng Người Đô Thị)

Hình ảnh vài căn nhà lá bên bờ kênh Tàu ở Sài Gòn (1875-1879)

573 views

Bức ảnh này cho chúng ta hình dung về một số căn nhà lá của một ngôi làng bên bờ kênh Tàu ở Sài Gòn vào khoảng những năm 1875-1879. Ngôi làng nằm giữa những cây cọ, ở rìa một con suối, và có vẻ như tại thời điểm chụp thủy triều đang xuống thấp.
Đồng bằng sông Cửu Long là một đồng bằng thấp rộng lớn, thường xuyên bị ngập lụt, với vô số kênh, rạch với nhiều kích thước (được gọi là arroyos trong tiếng Pháp và tiếng Anh). Trong thời kì Nam tiến (thế kỉ XVII), người Việt đã định cư dọc theo các tuyến đường thủy này nhưng chúng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thủy triều. Phương tiện di chuyển duy nhất thời đó là thuyền, do đó nơi đây tập trung rất nhiều thuyền. Kênh Tàu còn có tên gọi khác là Bến Nghé. Đây là nơi hội tụ và trung chuyển hàng hóa trên sông đến và từ Chợ Lớn và Di An.

Sông Sài Gòn (góc kênh Tàu) nhìn từ trên không

325 views

Bức ảnh này chụp sông Sài Gòn (từ góc kênh Tàu) từ trên cao vào khoảng những năm 1930-1940.
Thời gian được chứng minh nhờ vào hình ảnh tòa nhà là trụ sở của Ngân hàng Đông Dương (được xây dựng bởi kiến trúc sư người Pháp Félix Dumail trong khoảng thời gian từ năm 1924 đến 1928). Ngoài ra, chúng ta có thể thấy cây cầu xoay và phía sau là cây cầu “cố định” bắc qua trụ sở của hãng vận tải Messageries Maritimes (còn được biết với tên là Bến Nhà Rồng).
Trong bức ảnh này, có thể nhận ra nét đặc trưng là tàu thuyền thường neo đậu bên bờ trái của kênh Tàu, không giống như bên bờ phải. Một trong những lý do để lý giải điều này là do phía bờ bên trái đã được đô thị hóa trước tiên, do đó đây là nơi tập trung nhà ở và các cơ sở trọng yếu phục vụ cho mục đích kinh tế.

Sài Gòn – Toàn Cảnh Kênh Tàu và cầu quây

391 views

Bức ảnh này, có lẽ được chụp vào khoảng năm 1900, từ phía Kênh Tàu (tiếng Anh : Arroyo Chinese và trong tiếp Pháp : Arroyo chinois), có lẽ từ dưới chân cột đèn tín hiệu (hình dưới cho thấy vị trí của cột đèn).

Ống kính nhiếp ảnh gia hướng về phía tây, nghĩa là hướng về Chợ Lớn. Cây cầu quay ở giữa sông Sài Gòn mà chúng ta có thể thấy ở giữa bức ảnh có thể cho chúng ta thấy những nỗ lực kỹ thuật được thực hiện vừa để tăng sự qua lại giữa hai bờ của Kênh Tàu, vừa không làm trở ngại đến giao thông đường sông, rất cần thiết trên tuyến đường này. Những cây cầu này có thể xoay vòng để cho phép những chiếc tàu có độ cao có thể thông qua.

Sài Gòn - Cột đèn Tín Hiệu

Vài hàng nhớ lại bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu Nhân của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

3594 views

Bà Nguyễn Thị Mai Anh, phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sinh năm 1931, là con gái thứ bảy (nên còn có biệt danh Cô Bảy Mỹ Tho) trong một gia đình Công giáo ở Mỹ Tho có mười anh chị em.

Lúc còn niên thiếu, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng người em gái Tám Hảo thường xuyên lên Sài Gòn để đi học và thăm thân nhân. Do gia đình quen biết với dược sĩ Huỳnh Văn Xuân, làm việc ở viện bào chế Trang Hai, hai chị em Bà được giới thiệu làm trình dược viên tại Viện bào chế Roussell. Chính ông Huỳnh Văn Xuân làm mai mối cho Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó đang đeo lon Trung úy) quen Mai Anh. Mặt khác, cậu Mai Anh là Đặng Văn Quang cũng là bạn đồng khóa Trường Võ bị Đà Lạt với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nên cả hai người được se duyên thành vợ chồng, dù có đôi chút trở ngại vì Mai Anh theo đạo Công giáo. Ông Bà chính thức làm lễ cưới vào năm 1951. Sau này, vào năm 1958, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới rửa tội theo Công giáo.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu hoàn toàn không can dự vào chính trường, mà chỉ chú tâm vào các hoạt động xã hội.
Ở cương vị là Phu Nhân của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Bà rất thông cảm với sự thiếu thốn những trung tâm y tế phục vụ người dân. Vì thế, sau nhiều năm hoạt động xã hội, Bà Nguyễn Thị Mai Anh là người đã gợi ý và khởi xướng thành lập một bệnh viện phục vụ người dân ngay tại thủ đô Saigon.
Bệnh viện Vì Dân tọa lạc tại ngã tư Bảy Hiền, thường được giới bình dân Sài Gòn hay kêu đó là bệnh viện Bà Thiệu. Bệnh viện được xây dựng do Bà vận động quyên tiền từ thiện của nhiều người bao gồm: Thân hào Nhân sĩ, Thương gia, Kỹ nghệ gia…
Bệnh viện Vì Dân là bệnh viện tư nhân, nhưng được điều hành như bệnh viện công. Người dân vào khám và chữa bệnh được miễn phí hoàn toàn. Sau khi Bác Sỹ khám bệnh xong thì bệnh nhân được phát thuốc theo toa. Nếu ai bị bệnh nặng thì được nằm lại bệnh viện để chữa bệnh.

Nguyễn Thị Mai Anh - Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu

Lễ đặt viên đá đầu tiên đã cử hành ngày 17 tháng 8 năm 1971. Nhờ sự tín nhiệm và giúp đỡ của các nhà Hảo tâm, các Cơ quan Từ thiện trong nước và ngoại quốc, các Cơ quan quốc tế, và các quốc gia bạn, nên việc xây cất và trang bị các phương tiện y khoa được tiến hành một cách nhanh chóng và đầy đủ.
Bệnh Viện Vì Dân được khánh thành ngày 20 tháng 3 năm 1973 với 400 giường bệnh và nhiều phân khoa khác nhau: khoa Ngoại và Nội trú, khoa giải phẫu, khoa xét nghiệm, khoa tai mũi họng, khoa quang tuyến, nhãn khoa, khoa nhi đồng, nhà thuốc tây…Bệnh Viện Vì Dân là bệnh viện lớn và tân tiến nhất ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Bệnh viên có nhiều vị Bác Sỹ và Y Tá chuyên môn, cũng như xử dụng những dụng cụ y khoa tân tiến nhất. Sau khi Bà Nguyễn Thị Mai Anh phát biểu trong buổi lễ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cùng với Phu nhân cắt băng khánh thành.

Nguyễn Thị Mai Anh - Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu

Ngày 21 tháng 4 năm 1975, do những áp lực từ chiến trường, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức trên đài truyền hình. Sau đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng gia đình rời khỏi Việt Nam vào đêm 25 tháng 4 và bay tới Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch với tư cách là Đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa. Lúc đầu cả gia đình sang sống tại Đài Loan, nơi trước đó ông Nguyễn Văn Kiểu, anh ông Thiệu làm Đại sứ.

Sau khi con trai thứ hai, Nguyễn Quang Lộc sang Anh Quốc học, thì cả nhà lại sang London định cư, và sống ở đó trong suốt 15 năm. Khi mấy người con sang Mỹ để tiếp tục con đường học vấn năm 1985, thì cả nhà cũng đến định cư tại thành phố Boston vì Bà Mai Anh muốn ở gần những người con của mình.
Ông bà có 3 người con là:
– Nguyễn Thị Tuấn Anh (Trưởng nữ)
– Nguyễn Quang Lộc (Trưởng nam)
– Nguyễn Thiệu Long (Thứ nam)

Ngày 29 tháng 9 năm 2001, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ trần tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess Medical Center thuộc thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ sau khi bị đột quỵ ở nhà. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được an táng tại Boston. Lúc mất ông hưởng thọ 78 tuổi.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Tôi mong có dịp về lại Việt Nam thăm mồ mả Ông Bà, và mang tro cốt của ổng (chồng, Nguyễn Văn Thiệu) về khi đất nước bình yên; Ông Già có trối rằng: “Nếu được thì đem chôn tại quê ông ở Phan Rang, nếu không thì rải một nửa xuống biển và một nửa trên núi”, Bà nói như vậy về ước vọng của Bà như một phụ nữ Việt Nam bình thường không quên ơn Tổ tiên dòng họ.

Nguyễn Thị Mai Anh - Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu

Một người từng làm việc trong Dinh Độc Lập dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói về Bà như sau: “Tôi luôn luôn giữ lòng quý mến đối với Tổng thống Phu nhân. Bà lúc nào cũng giữ nếp sống bình dị của người đàn bà phúc hậu, bao dung của sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đối với tôi, Bà Thiệu là hình ảnh một người mẹ, một người vợ hiền đảm đang hơn là một vị Đệ Nhất Phu nhân sống trong tột đỉnh của quyền thế và nhung lụa giàu sang. Bà Thiệu là người đáng kính, không có cái kênh kiệu của một người có quyền thế vì Bà là một người đứng cạnh chồng, chỉ biết lo cho gia đình mà thôi.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc nào cũng vui vẻ và thân thiện với tất cả mọi người chung quanh. Khuôn mặt phúc hậu và nhân cách của Bà làm người đối diện cảm thấy gần gũi và kính trọng. Bà không bao giờ câu nệ về cách cư xử của nhân viên thuộc cấp. Mỗi lần gặp mặt, Bà luôn luôn lên tiếng hỏi thăm sức khỏe chúng tôi trước, không kịp để chúng tôi chào Bà. Điều đặc biệt là Bà không bao giờ đề cập đến bất cứ chuyện gì có liên quan đến việc làm của Tổng Thống Thiệu với chúng tôi. Trong suốt thời gian làm việc tại đây, chỉ có một lần duy nhứt tôi nghe Bà than phiền với ông Thiệu bằng lời lẽ rất ôn tồn về một nhân vật có đầy quyền thế tại Phủ Tổng thống trong lúc tôi đang đứng bên cạnh.

Nguyễn Thị Mai Anh - Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thường đi ủy lạo Thương binh ở khắp bốn vùng chiến thuật cũng như tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Đồng thời bà còn tham gia rất nhiều hoạt động xã hội và từ thiện nữa. Nhận thấy xã hội còn nhiều nhiễu nhương nên Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã thành lập “Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội” vào ngày 1 tháng 6 năm 1968 để an ủi và giúp đỡ người dân. Bà nói: “Xã hội bây giờ đang nhiễu nhương. Phụ nữ phải tham gia làm công tác xã hội với sự yêu thương và đồng cảm để có thể xoa dịu phần nào sự đau khổ của họ“.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu dành hầu hết thì giờ của mình để cứu trợ những người tỵ nạn chiến tranh, quả phụ mất chồng trong cuộc chiến và đặc biệt là những cô nhi bị bỏ rơi. Trong một lần đi thăm trẻ em mồ côi ở cô nhi viện Don Bosco tại Saigon thì Bà bồng một em bé lên, với khuôn mặt rạng rỡ và nụ cười rất tươi Bà nói với mọi người hiện diện rằng: “Một trong những đặc ân mà tôi thích nhất là cái ngày mà tôi được quyền gọi các em cô nhi là các con của tôi.

Nhân lúc bế giảng khóa học dành cho những bà vợ của thành viên nội các tại Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 năm 1968, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Phụ nữ, ngoài nhiệm vụ ở hậu phương là yểm trợ tiền tuyến bằng cách giúp băng bó những vết thương mà còn có thể xông pha ngoài chiến trận để đánh giặc như Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị nữa. Tôi nghĩ rằng phụ nữ nên tự nguyện học một khóa căn bản về quân sự để có chút hiểu biết hầu có thể giúp đỡ tiền tuyến lúc cần thiết“.

Nguyễn Thị Mai Anh - Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu

Không những thường xuyên đi hiến máu, Bà còn khuyến khích mọi người đi hiến máu như Bà. Năm nào Bà cũng tham dự ngày lễ diễn hành nhân ngày giỗ Hai Bà Trưng. Ngay cả hiện tại ở Mỹ Bà vẫn tham dự ngày lễ giỗ Hai Bà hằng năm.

Mặc dầu là vợ của một Tổng Thống, nhưng vì sinh trưởng ở Mỹ Tho, nên giọng nói và tánh tình của Bà hiền hậu và dễ thương như những người sinh trưởng ở miền Nam.

Vào năm 1972, một người Hoa Kỳ làm việc tại Việt Nam đã xin phép lấy tên Bà Nguyễn Thị Mai Anh đặt cho một giống Lan: Brassolaeliocattleya Mai Anh. Nhân dịp này tên của Bà Đinh Thúy Yến (Phu nhân Thủ tướng Trần Thiện Khiêm) cũng được đặt tên cho một giống Lan: Brassolaeliocattleya Dinh Thuy Yen.

Năm 2009 Bà dọn qua sống với gia đình con trai là anh Nguyễn Quang Lộc tại Orange County thuộc tiểu bang California vì Bà muốn ở gần con cháu của mình. Bây giờ Bà đã lớn tuổi nên sức khỏe của Bà không còn được như xưa.

Người viết : David Tran

Văn hóa người Minh Hương ở Sài Gòn

1069 views

Có thể thấy được sinh hoạt văn hóa sinh động của người Hoa trước đây và hiện nay thì không có gì hơn là đến khu Chợ Lớn.

Trong Nhà truyền thống góc đường Triệu Quang Phục và Nguyễn Trãi (xưa gọi là đường Cây Mai) thường có triễn lãm và các hình ảnh xưa ở Chợ Lớn cùng các sản phẩm mỹ thuật.
Nhà Truyền thống trước đây là nhà hát Tam Đa của người Hoa trong vùng. Cạnh nhà truyền thống ở số 137 đường Triệu Quang Phục là trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc, chủ yếu là của người Hoa. Trụ sở là Hội quán của chùa bà (Thiên Hậu) cho mượn. Chùa Thiên Hậu nằm ở góc đường Nguyễn Trãi và Triệu Quang Phục. Đường Triệu Quang Phục xưa là đường Canton (Quảng Đông) trong thời Pháp và là trung tâm Chợ Lớn. Phim “Người Tình”, phỏng theo tự truyện “L’Amant” của nhà văn nữ Pháp Margurette Durras, được quay ở đường này. Nhà Xã Tây ở cạnh đây (gọi là Xã Tây vì là tòa nhà hành chính của Pháp chuyên lo chuyện nhập, xuất cảnh và giấy tờ). Vùng này ngày xưa cũng được gọi là Minh Hương xã.

Chùa Thiên Hương ở Chợ Lớn

Anh Trần Đại Tân, người Triều châu, quê ở Sóc Trăng là người biết nhiều về lịch sử người Minh hương ở Nam bộ. Anh Tân tặng tôi quyển sách của anh viết về người Hoa ở Nam bộ. Nói chuyện về các địa lý và phố xưa cũng như các người Hoa danh tiếng trong lịch sử và hiện nay, như Trần Thành trước đây và Lý Ngọc Minh hiện nay, với xưởng gốm ở Bình Dương. Hoạt động của Hội gồm hội họa, thư pháp, nhiếp ảnh, xuất bản văn học. Ngoài ra còn có ban bảo trợ văn hóa người Hoa, với chi hội ca múa nhạc có trụ sở là nhà văn hóa Quận 5, gần Đại Thế giới, đường Trần Hưng Đạo.

Từ hội quán, chúng tôi đi bộ đến thăm chùa Thiên Hậu do người Hoa Quảng Đông xây dựng, rất nhiều du khách nước ngoài viếng thăm. Kiến trúc chùa rất đẹp với các tượng trên nóc, mái chùa bằng sành sứ rất công phu và các tranh khắc trên tường là những tuyệt tác rất trang nhã của nghệ thuật người Hoa. Cạnh chùa Thiên hậu là đền Tam Sơn, trên đường Triệu Quang Phục, của người Phúc Kiến (Phúc Châu), nơi đây thờ Ngọc Hoàng, Quan âm, Quan công.., không có chữ quốc ngữ chỉ có chữ Hán trong và ngoài đền. Theo anh Tân, thì kế bên đền Tam Sơn, xưa kia có Thất phủ cổ miếu, nhưng đã bị phá đi, hiện nay là xí nghiệp in, chỉ còn lại một bức tường. Đây là một mất mác văn hóa to lớn.

Chùa Thiên Hậu Chợ Lớn
Chùa Thiên Hậu Chợ Lớn

Đến Đình Minh Hương Gia Thạnh trên đường Trần Hưng Đạo, gặp lại bác Vương Quang Tâm, hiện nay là người cai quản đình mà năm trước tôi có đến. Đình là tòa nhà cổ nhất Saigon, xây năm 1789, được công nhận là một di tích lịch sử. Năm 1698, ở vùng này đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, làng Minh hương còn để lại câu ca dao :

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương

Lần trùng tu cuối cùng của đình là vào năm 1921. Trong đình, bên phải thờ Trần Thượng Xuyên (có 2 di ảnh tướng Trần Thượng Xuyên) và Nguyễn Hữu Cảnh, bên trái thờ Trịnh Hoài Đức và Ngô Gia Tịnh. Cạnh đó là 1 chuông đồng do vua Minh Mạng tặng, với sắc phong và chuyển tên từ làng thành đình. Chuông được gióng một năm một lần vào ngày 16/1. Sau chánh điện là sân rất rộng gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời). Đình Minh hương Gia Thạnh cũng là nơi tề tựu, gặp gỡ của nhóm Bình Dương thi xã, sáng lập bởi Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, với nhiều nhân sĩ đến đây để ngâm thơ, xướng họa vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19.

Chùa Ngọc Hoàng - Quận 1 Sài Gòn
Chùa Ngọc Hoàng – Quận 1 Sài Gòn

Chùa Giác Lâm là ngôi chùa thuộc loại xưa nhất Sài Gòn. Chùa nằm ở Phú Thọ Hoà kế quận 5 (nay là đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình), vẫn còn giữ nguyên không thay đổi nhiều sau bao năm từ lúc thành lập. Chùa được cư sĩ người Minh hương tên là Lý Thụy Long xây dựng vào năm 1744 ở vùng thanh vắng nhiều cây cối không xa chùa Cây Mai và Gò cây mai, một nơi thanh lam thắng cảnh của Gia Định mà Gia Định thi xã của Trịnh Hoài Đức thường hay nhóm họp làm thơ. Lý Thụy Long có tên riêng là Cẩm, chuyên nghề đan đệm bán nên người địa phương gọi là ông Cẩm Đệm. Vì thế chùa còn có tên là Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm. Năm 1772 hòa thượng Viên Quang tới trụ trì, từ đó mới đổi tên chùa là Giác Lâm. Khi xưa lúc chùa được xây dựng như một cái am, xa cư dân, rất thanh vắng, cây cối rậm rạp, thích hợp cho sự tu dưỡng, tu hành. Trong quyển Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức đã miêu tả cảnh chùa như sau: “Chùa toạ lạc trên gò Cẩm Sơn, cách phía Tây lũy Bán Bích ba dặm…, cây cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà nhã thú!…”. Chùa hiện nay được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Chùa Giác Lâm

Nghề làm gốm là nghề tiểu công nghiệp lâu đời, bắt đầu từ khi người Minh hương đến định cư ở xứ Đồng Nai. Hiện nay ở tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, đa số các chủ lò gốm là do người Việt gốc Hoa, hay Minh hương đảm trách. Họ đã làm nghề này cha truyền con nối bao nhiều đời cho đến nay. Đây là hai trung tâm gốm sứ lớn nhất Nam bộ với nhiều thợ, nghệ nhân người Hoa. Vào thế kỷ 18, đã tồn tại một trung tâm gốm sứ mang tên Xóm Lò Gốm ở vùng quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (phía Chợ Lớn). Xung quanh vùng này còn có nhiều địa danh như Lò Rèn, Xóm Lò Siêu, xóm Lò Gạch… Địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo-Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh-rạch Lò Gốm. Những con kênh này là tuyến đường giao thông chính của khu vực Chợ Lớn, dùng ghe xuồng chở hàng sản xuất đến các tỉnh miền Tây.

Gốm vùng Saigon-Gia Định-Đồng Nai ở thế kỷ 18,19 và 20 nổi tiếng có đặc thù riêng và nổi tiếng tốt mà nhiều nhà văn hóa sử, khảo cổ trước đây gọi là gốm “Cây Mai” (được biết đến qua những gốm xưa tìm được ở gò Cây Mai và khu vực đường Cây Mai, Chợ Lớn) nay được xếp loại và gọi chung là gốm Biên Hòa, Saigon. Ngày nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi thuộc làng Hòa Lục (phường 16 quận 8), gần làng Phú Định, nằm ven kênh Ruột Ngựa, của xóm Lò Gốm xưa. Cuộc khai quật năm 1997-1998 đã tìm thấy tại đây phế tích 3 lò gốm, trên một gò lớn chứa đầy mảnh gốm của các loại lu, khạp, siêu, chậu.. (15) Ngày nay những nơi còn tiếp tục truyền thống gốm cổ truyền của người Hoa hiện nay còn rõ nhất ở những lò làm lu gốm ở Biên Hòa hoặc ở khu vực Q.9 TPHCM (Thủ Đức cũ, gần Công viên Văn hóa dân tộc đang xây dựng), và một số cơ sở nhỏ sản xuất đồ gốm gia dụng ở vùng Lái Thiêu.

Ngoài ra, anh hưởng văn hóa mà người Minh Hương để lại sâu đậm nhất trong đời sống Nam bộ là ngôn ngữ. Tiếng Việt miền Nam được lưu dân Minh hương và Hoa mang vào bổ xung cho tiếng Việt thêm phong phú. Theo Bình Nguyên Lộc, những từ sau có nguồn gốc Minh hương (19).

Các từ gốc Triều Châu

Lẩu : Có nguồn gốc từ lẩu là một món canh của Triều Châu, đựng trong một thứ bát đặc biệt bằng Laiton.
Tía : Chính các chú rể Triều Châu, lưu vong nhà Minh đã đưa ra danh từ Tía vào Nam, và bị ta hiểu là Cha.
Hên : Do Hưng. Triều Châu đưa vào và họ đọc là Hinh thì đáng lý ta phải viết là Hênh.
Xui : Tiếng nầy đất Bắc có nhưng vay mượn lâu đời hơn và nói là Xúi Quẩy. Do chữ Suy mà ra, đọc theo Triều Châu, Hên Xui = May Rủi.
Khổ Tai : Một món ăn khác mà dân miền Nam rất ưa và họ gọi là KHỔ TAI. do người Triều Châu đọc Hô Tai (Hải Táo), một thứ rong biển mà họ nấu với đường để bán cho dân miền Nam ăn.

Các từ gốc Quảng Đông

Xí Mụi : do Quảng Đông gọi Xíu Mụi, chữ Nho là Tiêu Mai.
Công xi: Công Ty, do Quảng Đông đưa vào.
Hủ tiếu : Không biết chữ ra sao, nhưng do Quảng Đông đưa vào, họ nói là Phải, không hiểu sao ta lại biến thành Hủ Tiếu.
Xíu Mại : Không biết chữ nghĩa ra sao, nhưng đa số các món ăn đều do Quảng Đông đưa vào.
Chạp Phô : Chỉ là Tạp hóa. Nhưng chính người Quảng Đông lại cho nó cái nghĩa hạn chế là thực phẩm: trứng vịt, tôm khô, cá khô,v.v. còn các cửa hàng bán các thứ khác cũng tạp nhạp lại không được gọi là chạp phô.
Giò Chá Quảy: Thật đúng là Dầu chá quảy tức con quỷ nướng trong dầu, chỉ loại bánh bột mì chiên mỡ.
Ly : Cốc bằng pha lê, người Quảng Đông gọi là Pò Lý Púi, tức Pha Lê Bôi, ta nuốt hết, chỉ chừa lại Lý và đọc là Ly.
Xì Thẩu : Chữ Nho là Sự Đầu, chủ sự, nhưng bị ta hiểu là Ông chủ.

Điều này cho ta thấy miền Nam ban đầu chịu ảnh hưởng nhiều của phong tục, sinh hoạt, tập quán người Minh hương.

Tác giã : Nguyễn Đức Hiệp

Lịch sữ người Minh Hương ở Sài Gòn

1102 views

Trong lịch sử khẩn hoang ở Nam bộ, sự đóng góp của người Minh hương và Hoa từ xưa đến nay về kinh tế, văn hóa thật là to lớn. Bao nhiêu danh nhân Việt nam trong lịch sử là có gốc Minh hương, từ Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản, Phan Xích Long.. đến những nhân vật có tên tuổi trong văn hóa nghệ thuật gần đây như Hồ Dzếnh, Trịnh Công Sơn, Vương Hồng Sễn, Lý Lan… Họ đã hòa nhập thành người Việt. Đã có nhiều tư liệu viết về Mạc Cửu và xứ Hà Tiên, với văn học Hà Tiên độc đáo, đỉnh cao của người Minh hương đến khai khẩn Nam bộ. Ở đây tôi sẽ chú trọng về người Minh hương và Hoa ở những vùng khác trên Nam bộ, chủ yếu là vùng Đồng Nai-Gia Định.

Lịch sử ban đầu – Những nhân vật tiên phong khai phá

Ngoài Hà Tiên, thì nơi phát triển đầu tiên của người Minh hương là xứ Đồng Nai, gồm Cù lao phố, Biên Hòa, Bến Nghé-Chợ Lớn. Nông Nại đại phố tức là Chợ Lớn của xứ Đồng Nai. Đồng Nai âm theo tiếng Quảng Đông là Nông Nại. Một trong những người đến cùng thời với Trần Thượng Xuyên (hay còn gọi là Trần Thắng Tài) là ông nội của Trịnh Hoài Đức từ tỉnh Phúc Kiến. Trong miếu Quan Đế ngày nay, ông có tên trong danh sách những người sáng lập ra miếu này ở Cù Lao phố năm 1684 (nay là xã Hiệp Hoà). Miếu Quan Đế (Chùa Ông) hiện nay vẫn còn và là miếu thờ cổ nhất ở Nam bộ. Và cha của Trịnh Hoài Đức sau đó cũng góp công vào hương khói của chùa Quan Đế.

Tư liệu quí giá và phong phú nhất về lịch sử khai khẩn Nam bộ là quyển Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức. Trịnh Hoài Đức lúc thiếu thời học với Võ Trường Toản.


Trịnh Hoài Đức viết về Cù lao Phố :
Nông Nại (tức Đồng Nai) đại phố, lúc đầu do Trần Thượng Xuyên khai phá, tức Trần Thắng Tài chiêu tập người buôn nước Tàu đến kiến thiết phố xá mái ngói tường vôi, lầu cao, quán rộng, dọc theo bờ sông liên lạc dài 5 dặm, chia và vạch làm 3 đường phố, đường phố lớn lót đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lát gạch xanh, đường rộng bằng phẳng, kẻ buôn tụ tập, ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đến đậu, ấy là một chỗ đại đô hội mà những nhà buôn bán giàu có ở đây là nhiều nhất hơn thảy những nơi khác”.


Người Minh Hương ớ Sài Gòn

Cù lao Phố trở thành một cảng quan trọng đầu tiên của Nam bộ, đón nhận thương thuyền nước ngoài, hưng thịnh suốt khoảng 90 năm từ khi Trần Thượng Xuyên đến với quân đội, suy thoái từ khoảng 1775, tức là khoảng sau 90 năm, để nhường cho Chợ Lớn, Bến Nghé (Sài Gòn) sau này. Trước khi Trần Thượng Xuyên được chúa Nguyễn đưa đến cù lao Phố, đã có người Việt từ miền Trung đến ở núi Dinh (Mô Xoài) vùng Bà Rịa từ năm 1658 và vùng Long Thành. Nhờ vậy, khi Trần Thượng Xuyên đến cù lao Phố đã có dân Việt, dĩ nhiên người dân tộc như người Mạ, người Khmer, Chăm cũng tới lui trao đổi hàng hóa.

Trần Thượng Xuyên đến với quân sĩ và gia đ ình mang theo, nhiều binh sĩ này vẫn tiếp tục cầm vũ khí theo đuổi binh nghiệp nhưng một số lập nghiệp tại vùng đất mới. Sau một thời gian, thêm một số cư dân và thương gia đến sau, với vốn liếng để lập chợ. Cù lao Phố trở thành cảng sầm uất xuất nhập khẩu, với kho hàng dự trữ hàng hóa nhập vào và dự trữ hàng hóa thâu mua từ nhiều nguồn của cư dân sống trong vùng Đồng Nai như lâm sản, ngà voi, nai, heo rừng, sừng tê giác..

Nguyễn Hữu Cảnh, do chúa Nguyễn gởi vào sau này để cai quản vùng đất mới, đến Cù lao Phố ngay lúc cù lao với cảng đang hưng thịnh, nhưng trụ sở hành chánh và đồn binh đặt ở Sài Gòn. Ông Nguyễn Hữu Cảnh vào cù lao Phố với thủy quân. Khi ông mất ở Rạch Gầm, quan tài được đưa về Cù lao Phố, rồi từ đấy về miền Trung theo đường thủy, chôn ở quê ông là Quảng Bình. Chứng tỏ Cù lao Phố lúc đó là cảng quan trọng, sầm uất nơi cập bến của tàu bè khi đi và đến Đồng Nai, cửa ngỏ của Nam bộ. Hiện nay ở Cù lao Phố còn đền thờ mộ tượng trưng ông, do dân chúng thiết lập để nhớ ơn ông.

Cù lao Phố bắt đầu suy thoái khi lưu dân càng xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long càng nhiều, biến vùng Mỹ Tho và các vùng phụ cận thành nơi sản xuất lúa gạo, cây trái, thủy sản lớn nhất của miền đất mới Gia Định – Đồng Nai. Hơn nữa Cù lao Phố thiếu hàng hóa đưa ra ngoài vì lâm sản dần dần ít đi và không còn là sản phẩm chính cần ở thị trường. Nhiều thương gia lần đời xuống Sài Gòn-Chợ Lớn để mua bán nguồn lúa gạo dồi dào của đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu dư để xuất đi nhiều nơi ở Đàng Ngoài và nhiều nơi khác mà lúa gạo là nhu yếu phẩm chính. Cù Lao Phố tàn lụi và chấm dứt khi quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc đến tấn công, đốt phá phố cù lao và giết rất nhiều người Minh hương trong vùng. Đại Nam nhất thống chí ghi rõ quân Tây Sơn đến “dỡ lấy hết nhà cửa, gạch đá của cải chở về Quy Nhơn, từ đời Gia Long trung hưng tuy người ta có trở về, nhưng trăm phần chưa được một”. Những người sống sót đều chạy xuống vùng Bến Nghé và Chợ Lớn lập phố xá và chợ mới gần chợ Tân Kiểng. Từ đó Chợ Lớn càng trở nên phát triển hơn và là trung tâm thương mại ở Gia Định và miền Nam. Thương thuyền khắp nơi vào buôn bán và chở sản phẩm như lúa gạo đi các vùng và các nước như Trung quốc và Mã Lai.

Chợ Lớn ở Sài Gòn

Năm 1822, khi người Anh ỏ Bengal (Ấn độ) và Singpapore gởi ông John Crawfurd vào Gia Định gặp Tổng trấn Lê Văn Duyệt để tìm hiểu về thương mại, Crawfurd có viết về Chợ Lớn (lúc đó gọi là Saigon) và Bến Nghé như sau “Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài Gòn) và Pingeh (Bến Nghé). Và tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua gì kinh đô nước Xiêm. Về nhiều mặt trông nó còn sầm uất hơn, không khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lý hơn và an ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đã đi qua. Tôi có cảm giác như đây là một vương quốc lý tưởng. . . . Dinh Tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành trì nằm ở bờ sông An Thông hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được Tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đã trở thành người Gia Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố tình không chịu quy phục triều đình. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây.. . . Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp”. Cũng theo Crawfurd thì ở Chợ Lớn nhà cửa của thương gia Trung Hoa đồ sộ hơn nhà cửa của người Việt nhiều. Đang khi John Crawfurd đi thơ thẩn, ba gia đình Trung Hoa loại khá giả nhất đã ra cửa mời ông vào chơi.

Nếu cảng cù lao Phố vẫn còn thì đây là khu phố cổ thương mại thứ hai ở Việt Nam sau phố cổ Hội An, được thành lập với sự đóng góp lớn của người Hoa. Cách đây 14 năm (1993), mộ tướng Trần Thượng Xuyên được khám phá nằm ở Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, cạnh hữu ngạn sông Đồng Nai, mà tôi có dịp đến thăm (9). Đình Tân Lân, ỏ thành phố Biên Hòa, cạnh cù lao Phố là nơi thờ tướng Trần Thượng Xuyên có sắc phong của vua Minh Mạng. Được xếp hạng là một di tích lịch sử văn hóa. Đình ở vị trí rất đẹp, trước măt đền là sông Đồng Nai với cây cổ thụ lớn ngay cạnh sông. Tân Lân là tên gọi của vùng bên phía chợ Biên Hòa nơi tướng Trần Thượng Xuyên xưa kia đóng quân, sử ghi là xứ Bàn Lân, sau đổi là Tân Lân. Bàn Lân có thể là do chữ Bằng Lăng nói trại ra. Cây bằng lăng là cây bản địa, mọc rất nhiều trước đây trong vùng Đồng Nai và Gia Định. Hiện nay cây bằng lan còn có thể tìm thấy trong các rừng còn lại ở Đông Nam bộ (như rừng Cát Tiên) và một vài tỉnh ở Tây nguyên (Lâm Đồng, Dak Lak).

Tác giã : Nguyễn Đức Hiệp

Nhớ lại Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi giờ đã thành dĩ vãng

3625 views

Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi xưa còn có tên là nghĩa trang của người Châu Âu (Cimetière Européen) hay nghĩa trang Massiges hoặc Đất thánh Tây theo cách gọi của người Sài Gòn. Nghĩa trang này được xây dựng vào năm 1859 ở bên mặt đông đường National nay là Hai Bà Trưng với tổng diện tích là 7,5 ha. Lúc đầu là nơi chôn cất các binh lình bộ binh, thủy thủ và sĩ quan Pháp trong cuộc chiếm đóng Sài Gòn. Ngay từ đầu lúc thành lập nó được hải quân Pháp quản lý.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Những người chiếm đóng đầu tiên được chôn ở đây gồm có đại úy thủy quân lục chiến Nicolas Barbe (chém đầu tại chùa Khải Tường vào 07 tháng 12 năm 1860), Trung tá Jean-Ernest Marchaisse (bị giết tại Tây-Ninh vào ngày 14 Tháng Sáu năm 1866) và đại úy Savin de Larclauze (cũng thiệt mạng tại Tây Ninh trên 07 tháng 6 năm 1868); nhà thám hiểm sông Cửu Long Captain L Doudart de Lagrée (qua đời ngày 12 tháng ba năm 1868 trong khi dẫn đầu một cuộc khảo sát địa lý và thăm dò của sông Mekong sang Lào và Trung Quốc) và Trung úy Francis Garnier (chết ngày 21 Tháng 12 năm 1873 tại Hà Nội). Lúc đó (năm 1895) nghĩa trang chứa 239 ngôi mộ quân sự.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Năm 1870 nghĩa trang được đổi tên là vườn của cha Ormoy tức là bác sĩ trưởng Lachuzeaux d’Ormoy (1863-1874) dùng ý tưởng đưa các bệnh nhân khó bảo nhất đến đây để chăm sóc các luông cỏ và vườn hoa, cuối thập niên 1860, dân thường bắt đầu được chân cất ở đây vì trong những năm đầu của thuộc địa bởi tỷ lệ tử vong cao do các bệnh nghiêm trọng đặc hữu như dịch tả, sốt rét, ký sinh trùng đường ruột và kiết lỵ. Một báo cáo năm 1889 ghi nhận rằng “Sự tồn tại trong thuộc địa của chúng ta về dịch bệnh khủng khiếp mà tất cả đã gây tổn thất cho sinh mạng chúng tôi hơn trên các chuyến đi biển”, điều thú vị, nghĩa trang của người Châu Âu có chứa một số lượng tương đối lớn các ngôi mộ với các tên người Đức, phản ánh ưu thế kinh doanh của thương gia Đức ở Sài Gòn, đặc biệt là trước năm 1870. Trong một góc của nghĩa trang này cũng có một nhóm các ngôi mộ thuộc về một nhóm thủy thủ người Nga bị thương, đã chạy trốn đến vịnh Cam Ranh vào năm 1894 sau thất trận trong trận Tsushima và sau đó đã chết trong bệnh viện quân sự ở Sài Gòn.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Vào khoảng năm 1870, một Nghĩa trang Việt Nam nhỏ (Cimetière Anamite hay Cimetière Indigène) được mở ngay tại phía bắc của nghĩa trang của người Châu Âu . Đường phân chia hai nghĩa trang này – là đường Hiền Vương sau này – được đặt tên ngắn gọn rue des Deux cimetières (đường hai nghĩa trang) trước khi nó trở thành rue Mayer vào cuối năm 1880, từ cuối thế kỷ 19, các tiêu chuẩn về vệ sinh được cải thiện và thuộc địa phát triển thịnh vượng, nghĩa trang của người Châu Âu đã trở thành nơi an nghỉ cuối cùng của sự lựa chọn cho các chính trị gia thuộc địa của Sài Gòn và các quản trị viên, trong số có kiến trúc sư Marie-Alfred Foulhoux (1840-1892) và thị trưởng thành phố Sài Gòn Paul Blanchy (1837-1901).
Ngày 14 Tháng 12 năm 1912, sự thay đổi quy định này của nghĩa trang của người Châu Âu thành một nơi chôn cất cho tầng lớp thượng lưu thuộc địa được nhắc trong một báo cáo quan trọng của tờ Courrier Saigonnais.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Số lượng ngày càng tăng của những ngôi mộ hoành tráng thuộc các chức sắc cao trong khi các ngôi mộ của nhiều người lính và thủy thủ bị bỏ phế cỏ mọc um tùm. Đã có những lời chỉ trích việc “không cữ kiêng” khai quật các ngôi mộ của người nghèo trong thời hạn bảy hay tám năm và di dời ở một nơi khác, có lẽ là để nhường chỗ cho những người giàu có và nổi tiếng.
Đầu thế kỷ 20, nghĩa trang được chia cắt thành những con đường nhỏ có trồng cây và kiểng do các nhân viên của thào cầm viên Sài Gòn. Nghĩa trang lúc này được bao bọc bởi bốn bức tường vôi cao 2m5 với cổng chính ở phía nam đường Legrand de la Liraye. Cổng chính này nằm đối diện trực tiếp cuối phía bắc của đường Bangkok, và sau năm 1920, khi đường Bangkok được đổi tên thành đường Massiges, nghĩa trang được biết đến với cái tên mới là nghĩa trang đường Massiges.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Năm 1880 nghĩa trang được chuyển cho văn phòng bảo tồn nghĩa trang thuộc một phần của văn phòng sở vệ sinh Sài Gòn có trụ sở số 67 đường Massiges (hiện nay là đường Mạc Đĩnh Chi)
Nhiều nhân vật nổi tiếng của thời kỳ thuộc địa sau đó đã được chôn cất ở đây, bao gồm cả sĩ quan hải quân Pháp Alain Penfentenyo de Kervéréguin (mất 12 tháng 2 năm 1946), nhà truyền giáo Grace Cadman (qua đời ngày 24 tháng 4 năm 1946) và nhà báo và chính trị gia Henri Chavigny de Lachevrotière (qua đời ngày 12 tháng 1 1951). Tuy nhiên, bởi tất cả các tài khoản, ngôi mộ ấn tượng nhất của thời gian này là lăng mộ lớn của Nguyễn Văn Thinh (qua đời ngày 10 tháng 11 năm 1946), Chủ tịch đầu tiên của thời tự trị Cộng hòa Nam Kỳ (République de Cochinchine Autonome, 01 tháng 6 1946- 8 Tháng 10 năm 1947).

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Vào tháng Ba năm 1955, đường Massiges được đổi tên thành đường Mạc Đĩnh Chi từ đó nghĩa trang này được mang tên nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, trong hai thập kỷ tiếp theo, thế hệ của các chính trị gia cao cấp, các nhà lãnh đạo quân sự và các thành viên nổi bật khác của xã hội miền Nam Việt Nam đã chôn tại đây cùng với một số lượng nhỏ của người nước ngoài nhưlàm việc cho bài Time và Newsweek như phóng viên François Sully (qua đời vào tháng Hai 1971).
Tuy nhiên, có lẽ người nổi tiếng nhất của thời kỳ này là Tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm và em trai của ông là giám đốc cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, người đã bị ám sát vào ngày 02 tháng mười một năm 1963, ngoài ra nơi đây còn có mộ của thống tướng Việt Nam Cộng Hòa Lê Văn Tỵ, mộ của chuẩn tướng Lưu Kim Cương chết trong trận Mậu Thân, mộ của hai học sinh một theo đạo Phật, một theo đạo Thiên chúa chết trong vụ xung đột giáo phái năm 1964.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Năm 1971, theo Arthur J Dommen (Tác giả cuốn Kinh nghiệm Đông Dương của Pháp và Mỹ: Chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản tại Campuchia, Lào và Việt Nam, 2001) vào thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu một phần bức tường phía tây bị sụp mà theo lời của một nhà tiên tri Cao Đài nói là ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về cái chết của ông Diệm và phải làm gì đó để giải thoát cho linh hồn ông Diệm, tuy nhiên, câu chuyện ma về nghĩa trang chỉ thực sự bắt đầu lan truyền rộng rãi sau năm 1983, khi chính quyền thành phố quyết định ngừng hoạt động nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi và chuyển đổi nó thành công viên Lê Văn Tám.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Sự giải tỏa nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi nằm trong một dự án lớn bao gồm việc giải tỏa nghĩa trang quân đội Pháp tại ngã tư Bảy Hiền và Lăng Pigneau de Béhaine gần sân bay Tân Sơn Nhất, cũng như các nghĩa trang cũ của Pháp ở Vũng Tàu. Những người có thân nhân chôn trong các nghĩa trang được hướng dẫn để sắp xếp cho việc cải táng trong vòng hai tháng. Còn lại nếu không có người nhận thì được hỏa táng và di dời nơi khác. Còn lại hài cốt của những người lính Pháp được đưa về Pháp chôn cất ở Fréjus, nơi một đài tưởng niệm được dựng nêu ra tôn vinh họ. Trong thời gian khai quật để di dời các ngôi mộ tại đây người ta đã phát hiện tấm bia mộ của tướng Barbe là tấm bia mộ của Phạm Đăng Hưng được khắc phía sau.
Công viên Lê Văn Tám thay thế cho Nghĩa trang Mạc Đình đã trở thành một nơi phổ biến cho hoạt động giải trí, vẫn còn nhiều người dân địa phương mê tín dị đoan người không muốn đến đó vì lịch sử trước đó.

@ Photos : Frederick P Fellers (Indianapolis, USA)

Nhớ lại ngã 6 đường Phù Đổng Thiên Vương

1350 views

Có lẽ không người Việt Nam nào là không biết đến truyền thuyết về Đức Phù Đổng Thiên vương, người đã có công đánh đuổi giặc n trong buổi bình minh của dân tộc, sau đó cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời… Những tấm hình dưới đây là hình ảnh của Ngã sáu Phù Đổng Thiên Vương, hay còn gọi là Ngã 6 Sài Gòn, nơi có tượng Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng, được dựng vào năm 1966. Tượng này đã tồn tại hơn 50 năm qua cùng với đời sống của người Sài thành.


Có điều, nếu không phải người để ý kỹ thì có thể sẽ không biết rằng bức tượng Phù Đổng Thiên Vương này có một chi tiết khác so với truyền thuyết Thánh Gióng: ngồi trên ngựa sắt vẫn là một chú bé. Trong truyện xưa, Thánh Gióng lớn nhanh như thổi, khi sứ giả mang ngựa sắt, giáp sắt… đến thì chú bé vươn vai đứng dậy trở thành một tráng sĩ cao lớn để đi đánh giặc ngoại xâm.
Nhưng chính nhờ sự khác biệt này mà bức tượng Phù Đổng Thiên Vương ở Sài Gòn trở nên đặc biệt hơn. Đồng thời với việc nhấn mạnh truyền thống yêu nước, quyết tâm bảo vệ đất nước trước quân xâm lược, thì dù chỉ là một đứa trẻ cũng có thể vì quê hương mà đánh giặc.Người chụp bức hình bên dưới (khi chưa có tượng Thánh Gióng) ngồi ở trên lầu cao ốc nào đó trên đường Ngô Tùng Châu (sau 75 là Lê Thị Riêng), bên phải là Võ Tánh quận Nhì (sau 75 là Nguyễn Trãi Q1), đường thẳng trước mặt có xe bồn chạy lại.

Ngã 6 đường Phù Đổng Thiên Vương

Phía Lê Lai Night Club, Hotel, Restaurant và dãy nhà 1 lầu bên phải ngay ngã 6 lúc đó rất nhiều xe bán bánh cuốn, bánh ướt, chả lụa, sâm bổ lượng. Xích tới góc bến xe ban tối là kem ký, kem ly, v.v..
Ngoài ra sau lưng tượng Phù Đổng chỗ dưới bảng quảng cáo có tiệm hủ tíu Nam Vang cũng ngon có tiếng lúc đó. Còn bên phải là Mỹ Kim địa ốc, chủ nhân là một tay chơi có hạng thời bấy giờ.
Bến xe là đường Phan Văn Hùm ngắn ngủn chỉ tới Lê Lai là hết vì “đụng” tường rào Ga xe lửa Sài Gòn. Xe đò ở đây đủ loại chạy Phú Mỹ Hưng, Hậu Nghĩa, Củ Chi; có cả xe đò bự chạy Sài Gòn – Ban Mê Thuột.

Ngã 6 đường Phù Đổng Thiên Vương

Phía bên Gia Long Lý Tự Trọng là salon xe gắn máy Nhựt lúc cao trào “đổ bộ” vô Sài Gòn. Gần đó có tiệm “Hải Ký Mì Gia” gần ngã ba Gia Long – đường nhỏ Đặng Trần Côn bên trái đâm ra Nguyễn Du.Trên đường Gia Long bên số chẵn (nhìn từ ngã 6 là bên tay trái) từ đầu là những hãng len của Làng Cự ở ngoài Bắc di cư năm 54 (điểm đặc biệt tất cả hiệu lấy chử Cự đứng đầu), sau đó là Kim Phụng mì gia. Còn Hải Ký ở La Cai Chợ Lớn, chỉ thuần bán mì thôi.
Cách vài căn là phòng ghi âm Sóng Nhạc của các nhạc sĩ Lê Minh Bằng…

Ngã 6 đường Phù Đổng Thiên Vương

Nhớ về rạp xi-nê Rex, rạp tối tân nhất Đông Nam Á trước 1975

2459 views

Trong bài trước, tôi có liệt kê tất cả những rạp xi-nê của Sài Gòn trước 1975. Trong số các rạp kể trên, chúng ta phải nói đến một rạp của người Việt mà quy mô về mọi mặt của nó có thể nói đứng đầu cả Đông Nam Á, đó là rạp Rex.

Rạp Rex 1968-1969
Rạp Rex 1968-1969

Tính đến năm 1960, rạp Đại Nam trên đường Trần Hưng Đạo của ông bà Nguyễn Phúc Ưng Thi thuộc vào loại hạng nhất ở Sài Gòn. Rạp có một tầng lầu và máy lạnh mát rượi.
Có lẽ chưa hài lòng lắm với quy mô của rạp Đại Nam, ông bà Ưng Thi, một cặp thương gia thành đạt sở hữu nhiều rạp chiếu phim hàng đầu tại Sài Gòn, đã dồn hết vốn liếng mua một miếng đất trên đường Nguyễn Huệ gần Tòa Đô Chánh (nay là UBND TP.HCM) để xây dựng rạp Rex, một rạp chiếu bóng với quy mô chưa từng có ở Việt Nam.
Rạp Rex – đúng như ý muốn của chủ nhân – là một rạp chiếu bóng thuộc vào hàng tối tân bậc nhất. Rạp này được trang bị những tiện nghi hiện đại dành cho một rạp chiếu bóng. Dàn máy lạnh có công suất cực cao khiến cho 1.200 khán giả run cầm cập. Có người đi xem phim phải mang theo áo chống lạnh.

Rạp Rex 1966
Rạp Rex 1966

Màn ảnh của Rex là màn ảnh đại vỹ tuyến Todd-AO rộng đến 150 m2. Phim được chiếu tại đây là phim 70mm với dàn máy chiếu đặc biệt chỉ có ở Rex. Khán giả đến với Rex được tận hưởng khung cảnh rất trang nhã và sang trọng.
Thời bấy giờ, đối với những cặp tình nhân, được ngồi trên ghế nệm êm ái, xem phim nghe âm thanh nổi stereo, có lẽ đó là điều hạnh phúc nhất.
Vé của Rex thuộc loại khá đắt, gấp mất lần so với các rạp khác. Có 2 loại vé, dưới đất và trên lầu. Vé trên lầu có giá cao hơn và khách được sử dụng thang cuốn. Có thể nói đây là chiếc thang máy tự động đầu tiên ở Việt Nam, và lại trang bị cho một rạp chiếu phim!

Rạp Rex 1965
Rạp Rex 1965

Theo lời một người kể lại: “Trong ngày khai trương, một người đẹp lên lầu bằng thang cuốn. Có lẽ chưa quen với loại thang này nên đã bị thang máy cuốn luôn cái quần. Cũng may chưa có điều gì đáng tiếc xảy ra“. Thời điểm khai trương rạp Rex (1961) là một sự kiện gây được chú ý của không chỉ dân kinh doanh rạp mà còn cả giới chính trị gia thời đó.
Cuộn phim đầu tiên để khai trương rạp là phin Ben Hur. Phim đoạt 11 giải Oscar vào năm 1959, được trình chiếu tại Mỹ.
Thông thường một cuộn phim mới được chiếu tại Mỹ phải 4 năm sau mới về đến Việt Nam. Vậy mà Ben Hur chiếu cùng lúc với Mỹ chắc hẳn ông bà Ưng Thi phải mất một khoản tiền khá lớn để nhập về.
Trong 10 năm từ 1960 – 1970, thị trường phim ảnh và rạp chiếu bóng tại Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung rất phát đạt. Hầu như năm nào cũng có rạp mới khai trương dù vậy không rạp nào có quy mô bằng hoặc vượt qua được rạp Rex.

Tổng hợp : vietnamnet

Liệt kê những rạp xi nê ở Sài Gòn trước 1975

7942 views

Trước 1975, tại Sài Gòn có khoảng hơn 60 rạp hát lớn nhỏ. Thời ấy, người Sài Gòn giải trí chủ yếu là xem xi nê (hay còn gọi là chiếu bóng, chiếu phim) nên các rạp hoạt động rất rầm rộ.

Một thời vang bóng
Điện ảnh do người Pháp khai sinh vào cuối thế kỷ 18. Loại hình nghệ thuật này theo chân quân đội Pháp đến với người dân Sài Gòn vào những năm đầu của thập niên 1930. Hai rạp chiếu bóng đầu tiên được xây dựng để phục vụ chiếu phim.
Rạp Majestic nằm ở cuối đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi). Rạp thuộc loại hạng sang và đẹp, nằm cận kề với khách sạn Majestic.
Cũng trên con đường này, rạp Eden nằm ẩn mình bên trong hành lang Eden, vốn là thương xá mua sắm nổi tiếng. Theo đánh giá của nhiều người, đây là 2 rạp có cấu trúc đẹp và sang trọng bậc nhất thời bấy giờ.
Ban đầu, đối tượng đến xem phim tại 2 rạp này là người Pháp. Một số người Việt chịu ảnh hưởng lối sống của Pháp cũng thường xuyên đến. Điều bất ngờ – ngay cả chính người Pháp cũng không lường trước được – là sự hưởng ứng nồng nhiệt của các tầng lớp người Việt.

Rạp Lệ Thanh
Rạp Lệ Thanh

Chỉ trong khoảng thời gian hơn 10 năm, số lượng khán giả người Việt đến xem phim quá đông khiến các ông chủ rạp người Pháp phải nhường quyền kinh doanh chiếu bóng lại cho người Việt.
Đỉnh điểm của sự phát triển này xảy ra rầm rộ nhất là vào năm 1950. Hàng loạt rạp chiếu bóng từ hạng sang có máy lạnh với sức chứa khoảng 1.000 khán giả cho đến các rạp bình dân ở các vùng ven ra đời đều được người xem đón nhận nồng nhiệt.
Rạp Majestic hoạt động một thời gian sau đó chuyển đổi thành nhà hàng. Hiện nay nơi đây là phòng trà Maxim’s. Có thể nói, Majestic ra đời sớm nhất nhưng trụ với điện ảnh khá ngắn ngủi.
Rạp Eden tồn tại cho đến đầu thập niên 1970. Một phần của rạp được chuyển thành phòng trà Tiếng Tơ Đồng. Không lâu, Eden bị xóa sổ hoàn toàn để trở thành Trung tâm mua sắm Eden Mall. Ngày nay, dấu tích của rạp Eden, nhà hàng Givral, cà phê La Pagode, cả một chuỗi hình ảnh về Sài Gòn đã bị đập bỏ hoàn toàn để xây dựng khu thương mại…
Majestic và Eden không còn không có nghĩa sinh hoạt của các rạp chiếu bóng đi vào ngõ cụt mà ngược lại, hàng loạt rạp chiếu bóng khác ra đời đành dấu thời kỳ hưng thịnh nhất của loại hình nghệ thuật thứ 7.

Rạp Khải Hoàn
Rạp Khải Hoàn – 1968

Sau đây là danh sách các rạp xi-nê Sài Gòn trước 1975 được sắp theo thứ tự abc.

Alhambra – Nguyễn Cư Trinh.
Alliance Française – Đồn Đất. Rạp của Trung Tâm Văn Hóa Pháp chiếu toàn phim Pháp không có phụ đề Việt ngữ, hiếm khi thấy người Việt đi xem.
Aristo – Lê Lai. Sau 1954 đây là nơi trình diễn thường trực của đoàn cải lương Kim Chung di cư từ miền bắc vào nam, đoàn có thêm tên phụ là Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô. Nữ nghệ sĩ chính là Kim Chung.
Asam – Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao. Rạp nằm trong một hẻm nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng giữa đường đường Phan Thanh Giản. Rạp này đã biến mất hoàn toàn vào khoảng từ giữa đến cuối thập niên 60, không để lại vết tích gì.
Hiền Vương. Gần đó có tiệm mì Cây Nhãn nổi tiếng một thời, về sau nghe nói tiệm mì này dời về ngã tư hay ngã năm Bình Hòa gì đó.
Cẩm Vân.
Võ Di Nguy – Phú Nhuận.
Cao Đồng Hưng – Bạch Đằng, chợ Bà Chiểu, Gia Định.
Casino Đa Kao – Đinh Tiên Hoàng. Rạp tương đối khang trang, phim khá chọn lọc, giá cả nhẹ nhàng, địa điểm rất thuận tiện nằm gần Cầu Bông.
Casino Sài Gòn – Pasteur. Tên mới là Vinh Quang.
Cathay – Công Lý, Chợ Cũ.
Catinat – Tự Do. Rạp xi-nê tí hon này nằm trong một hành lang từ đường Tự Do xuyên qua đường Nguyễn Huệ về sau chuyển đổi thành phòng trà ca nhạc với nhiều tên : ‘Au Chalet’, và ‘Đêm Màu Hồng’, nơi ra mắt của ban ‘Phượng Hoàng’ thời kỳ trước khi nhập với ca sĩ Elvis Phương.
Cầu Muối – Bến Chương Dương, Cầu ông Lãnh. Chuyên hát bội.
Cây Gỏ – Minh Phụng, Chợ Lớn. Chuyên diễn Cải lương.

Rạp Long Vân
Rạp Long Vân

Diên Hồng – Yersin.
Đại Đồng – Nguyễn Văn Học, Gia Định.
Đại Đồng – Cao Thắng. Một rạp nhỏ chuyên chiếu phim cũ nhưng khá chọn lọc, giá cả thật nhẹ nhàng, địa điểm rất thuận tiện. Càng thuận tiện hơn nữa vì cạnh rạp có một tiệm bò bía rất ngon và rẻ.
Đại Lợi – Thoại Ngọc Hầu, Chợ Ông Tạ.
Đại Nam – Trần Hưng Đạo. Rạp Đại Nam là rạp sang trọng nhất Sài Gòn, những phim mới được chiếu trước tiên ở đây và một vài rạp khác rồi một thời gian sau mới được đưa đi tỉnh hoặc các rạp nhỏ chuyên chiếu lại. Mỗi phim gồm có nhiều cuộn nên thời đó mấy rạp cùng chiếu chung một phim bằng cách chia lệch giờ khởi chiếu. Mỗi khi chiếu xong một cuộn thì có người xách đi giao cho rạp kế tiếp và ngược lại.
Có lần rạp Đại Nam đang chiếu phim “Pillow Talk” (1959) thì anh chàng đi giao cuộn phim đã mải mê uống nước giải khát hay sao đó mà để mất đi cuộn phim phải giao. Tất cả các rạp cùng chiếu phim đó đành phải ngưng lại và đem phim khác ra chiếu đỡ. Mãi một thời gian sau, không rõ cuộn phim được chuộc lại hay phải mua phim mới Pillow Talk mới được chiếu trở lại. Đến khi rạp Rex ra đời vào năm 1962 thì rạp Đại Nam xuống còn ngôi vị thứ hai.
Đại Quang – Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn. Rạp này hoàn toàn Trung Hoa chẳng có gì là Việt Nam hết vì họ chiếu toàn phim Tàu.
Đồng Nhì – Lê Quang Định, Gia Định.

Rạp Palace
Rạp Palace

Eden -Tự Do.
Rạp quá nổi tiếng này không nằm ngoài mặt đường mà lại nằm sâu trong một thương xá cũng được gọi là Eden. Đến rạp, khán giả có thể đi vào từ phía đường Tự Do, Lê Lợi hay Nguyễn Huệ đều được cả. Cái tên rạp tiếng Pháp tự nó cho biết rạp này đã có từ thời Pháp thuộc và kiến trúc bên trong thì đúng y như những rạp bên Pháp được thấy qua các phim xi-nê. Ở Sài Gòn, chỉ duy nhất rạp này mới có hai balcons (tầng lầu).
Thông thường, khi xem xi-nê, ngồi balcon 1 là hay nhất vì nhìn xuống vừa tầm mắt không mỏi cổ và không bị cái đầu của người ngồi hàng ghế trước che khuất tầm nhìn. Balcon 2 của rạp Eden thì nhỏ hơn và quá cao nên nhìn sâu xuống muốn cụp cái cổ luôn nên phần đông khán giả chẳng màng để ý đến sự hiện hữu của nó, ngoại trừ dân đào kép Sài Gòn thì chiếu cố rất nhiệt liệt và gọi đó là ‘pigeonnier’ (chuồng bồ câu). Đi xem xi-nê một mình khi rạp hết chỗ phải lên đó thì buồn lắm vì trên ấy đào kép mùi mẫn chẳng cần biết trên màn ảnh chiếu cái gì, nhất là những cặp ngồi ở hàng ghế chót có sau lưng nguyên bức tường thì tha hồ lâm ly chẳng lo có ai nhìn đến trong cái tối mù mù.
Ca sĩ huyền thoại Pháp Dalida đã trình diễn ở rạp này.
Hào Huê – Sau này đổi thành rạp Nhân Dân – 372-374, Trần Phú, P7, Q5. Rạp ở gần khu Lacaze là rạp hát của gánh hát Quảng cũng được sửa lại cho gánh cải lương mướn.
Hoàng Cung – Triệu Quang Phục, Chợ Lớn.
Hồng Liên – Hậu Giang, Chợ Lớn.
Hùng Vương – Pétrus Ký, Sài Gòn.
Huỳnh Long – đường Châu Văn Tiếp – hông chợ Bà Chiểu
Hưng Đạo – Nguyễn Cư Trinh.
Khá Lạc – Nguyễn Tri Phương. Rạp nằm cạnh tiệm phở Tương Lai hiện vẫn còn bán phở.
Khải Hoàn – Võ Tánh và Cống Quỳnh.

Rạp Văn Cầm
Rạp Văn Cầm

Kim Châu – Nguyễn Văn Sâm, Chợ Cũ. Khi rạp bắt đầu khai trương thì họ đã quảng cáo sẽ chiếu phim “Sapho” (1960). Tuy chỉ là một phim hạng B hoặc C nhưng nữ tài tữ Tina Louise có vẻ đẹp duyên dáng nên rất được khán giă hưởng ứng. Qua đến những phim kế tiếp, rạp Kim Châu đã tuyển chọn những phim cùng loại nên rất được khán giả hài lòng.
Kinh Đô – Lê Văn Duyệt. Đây là một rạp xi-nê hạng sang, chỉ kém hơn rạp Đại Nam một tí. Rạp khai trương sau rạp Đại Nam nhưng lại chỉ hoạt động một thời gian tương đối ngắn ngủi rồi biến thành một chi nhánh của cơ quan USAID.
Kinh Thành – Hai Bà Trưng, Tân Định.
Lạc Xuân – Gia Long, Gò Vấp.
Lam Sơn – Bùi Chu. Mũi tàu Lê Lai, Bùi Chu, Võ Tánh chéo góc với nhà thờ Huyện Sĩ, vòng qua bên hông rạp phía đường Lê Lai thì có nhà của nữ kịch sĩ Kim Cương. Rạp xi-nê này chỉ tồn tại một thời gian rất ngắn ngủi rồi bị đóng cửa vì vị trí của rạp quá gần một nhà thờ, vào thời kỳ đó là Đệ Nhất Cộng Hòa, nên Công Giáo đang có ưu thế.
Lê Lợi – Lê Thánh Tôn. Rạp chiếu phim cũ nhưng tuyển chọn toàn phim hay và chỉ chiếu trong 1, 2, hoặc 3 ngày rồi đổi sang chiếu phim khác.
Những phim classic như “High Noon”, “Crimson Pirates”, “Vera Cruz”, “Waterloo Bridge”… được chiếu đi chiếu lại luôn, nếu hụt xem phim nào thì khán giả cứ kiên nhẫn chờ đợi, một thời gian sau thế nào phim đó cũng sẽ được chiếu lại. Lịch trình chiếu phim được niêm yết trước gần một tháng để khán giả chuẩn bị ngày đi xem phim.
Rạp Lê Lợi có thể nói là rạp duy nhất ở Sài Gòn chiếu phim theo phương thức này, một ít rạp khác có bắt chước phần nào nhưng rồi cũng không theo hoàn toàn hoặc sau đó phải thay đổi phương hướng được gọi là ‘revival movie theater’, chỉ khác một chi tiết là họ chiếu hai phim liên tiếp cùng có chủ đề giống nhau. Ai chịu đựng nổi thì ngồi xem hết, ai chịu không nổi thì phải bỏ về thôi vì quá đói bụng, họ không cho đem thức ăn từ ngoài rạp vào và trong rạp chỉ có bán popcorn (bắp rang Mỹ), kẹo, bánh, soda (nước ngọt có ga như: Coca Cola, 7Up…).
Lệ Thanh – Phan Phú Tiên, Chợ Lớn.
Lido – Đồng Khánh, Chợ Lớn. Rạp này có một lịch sử khá ly kỳ. Rạp nằm trong vùng Chợ Lớn cạnh Đại Thế Giới cũ chuyên chiếu phim u Mỹ trong khi các rạp chung quanh đều chiếu phim Tàu. Đến cuối thập niên 60, rạp ngưng hoạt động để cho Mỹ mướn làm khu cư trú và câu lạc bộ. Sau năm 1975, rạp hoạt động chiếu phim trở lại và chỉ mới gần đây, rạp đã bị đập phá ra để nhường chỗ cho một công trình xây dựng nhà cao tầng hay gì đó. Bạn nào có kỷ niệm đẹp hay quyến luyến rạp này thì chỉ còn có thể nhớ qua ký ức mà thôi vì rạp đã biến mất không còn nữa.
Long Duyên – Hồ Văn Ngà.
Long Phụng – Gia Long, chuyên chiếu phim Ấn Độ.
Long Thuận – Trương Công Định và Nguyễn An Ninh.
Long Vân – Phan Thanh Giản.
Majestic – Tự Do. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Nơi đây được xây thành vũ trường Maxim tầng trên và sân khấu trình diễn ca vũ nhạc kịch tầng dưới do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách. – Minh Châu – Trương Minh Giảng. – Minh Phụng – Hồng Bàng, Chợ Lớn. Thật ra, nơi đây là đình Minh Phụng, khi xưa có lúc khai thác chiếu phim ban ngày.
Mini Rex – Lê Lơị.
Moderne – Trần Văn Thạch, Tân Định. Tôi không có duyên với rạp này nên chưa bao giờ có dịp bước chân vào.
Theo lời một thân hữu, rạp này có vài ba đặc điểm: lối vào rạp đâm ngang hông phía giữa những hàng ghế, ghế bằng cây nên khi dứt phim khán giả cùng đứng dậy làm cho ghế cây khua lên rầm rầm, và cũng vì ghế cây nên đoàn quân rệp tha hồ cắn phá đám khán giả trong bóng tối của buổi chiếu phim.
Mỹ Đô – Trần Nhân Tôn và Vĩnh Viễn. Tên xưa là Thành Chung, tên mới là Vườn Lài.
Nam Quang – Lê Văn Duyệt và Trần Quý Cáp.
Nam Tiến – Bến Vân Đồn.
Nam Việt – Tôn Thất Đạm, Chợ Cũ. “The Bravados” (1958).
Nguyễn Huệ – Nguyễn Huệ. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là cơ sở U.S.O…
Rạp Nguyễn Văn Hảo – nay là rạp Công Nhân, trụ sở Nhà Hát Kịch Thành Phố, Số 30, Trần Hưng Đạo, P. Phạm Ngũ Lão, Q1.
Một rạp hát được mệnh danh là Hàng Không Mẫu Hạm trước 1975, nơi đóng đô của một số đoàn hát cải lương lớn ở Sài Gòn ngày trước như: đoàn Việt Kịch Năm Châu, đoàn Hương Mùa Thu, đoàn Hoa Sen.

Rạp Văn Hoa
Rạp Văn Hoa

Rạp Olympic – nay là Trung tâm Văn hóa TP.HCM – 97, Nguyễn Thị Minh Khai, P. Bến Thành, Q1. Rạp được công ty Kim Chung của ông bầu Long độc quyền cả chục năm trời từ sau năm 1958 cho 5 đoàn hát của công ty luân phiên diễn.
Với các vở diễn nổi tiếng một thời: Mạnh Lệ Quân, Lan và Ðiệp,…. * Khu vực “ngã tư quốc tế” (trục Phạm Ngũ Lão, Trần Hưng Đạo ngày nay) trở thành một trong những khu hoạt động nhộn nhịp nhất của làng văn nghệ Sài Gòn ngày đó. Mặc dù mật độ các rạp hát khá dày (Nguyễn Văn Hảo, Thanh Bình, Hưng Đạo, Quốc Thanh, Khải Hoàn) nhưng các đoàn hát lớn thường xuyên tập kết về, đây trở thành nơi tập trung, điểm hẹn của nhiều nghệ sĩ, giới ký giả kịch trường, các ông bà bầu muốn “săn” đào kép mới cũng tìm đến đây.
Oscar – Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn.
Phi Long – Xóm Củi.
Palace – Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn.
Quốc Thái – Trần Quốc Toản, Chợ Lớn.
Rạp Quốc Thanh – Nay là rạp phim Cinestar – 271, Nguyễn Trãi, P. Nguyễn Cư Trinh, Q1. Được thành lập năm 1960 khi đoàn Thái Dương ra đời, rạp cũng là nơi đóng đô của đoàn Dạ Lý Hương của ông bầu Xuân. Rạp có máy lạnh, có 1000 ghế trong khán phòng và sân khấu được thiết kế rộng rãi.
Rạng Đông – Pasteur. Tên cũ là Hồng Bàng.
Rex – Nguyễn Huệ.
Rạp Thanh Bình – sau đổi là rạp Quốc tế, gần chợ Thái Bình trên đường Phạm Ngũ Lão, nay là căn hộ chung cư cao cấp. Là rạp có thang cuốn đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn.
Lúc đầu là rạp chiếu bóng, sau được ông Diệu sửa thành rạp cải lương để đoàn hát Thủ Đô của ông Ba Bản khai trương, ghi một dấu ấn sâu sắc trong lãnh vực nghệ thuật sân khấu cải lương là có một đoàn hát Thủ Đô có nhiều tuồng hay, có cảnh trí tuyệt đẹp và dàn cảnh vĩ đại.
Thanh Vân – Lê Văn Duyệt, Hòa Hưng.
Thủ Đô – Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn. Tên cũ là Eden. Chuyên diễn cải lương
Trung Hoa – Đồng Khánh, trước nhà thờ Cha Tam, Chợ Lớn.
Văn Cầm – Trần Hưng Đạo. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là đại lý Honda đầu tiên tại Việt Nam.
Văn Cầm – Võ Di Nguy, Phú Nhuận. Rạp này có cái lệ luôn luôn chiếu một phim ngắn của 3 anh hề ‘Stooges’ trước khi chiếu phim chính. Rạp rất rẻ tiền không có máy lạnh nên rất ngộp thở.
Văn Hoa – Trần Quang Khải, Đa Kao.
Văn Lang – Cách Mạng, Phú Nhuận.
Victory Lê Ngọc – Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn.
Việt Long – Cao Thắng (sau trở thành Văn Hoa Sài Gòn, bây giờ là rạp Thăng Long).
Vĩnh Lợi – Lê Lợi. Khoảng đầu thập niên 60, có xảy ra một vụ nổ lựu đạn trong rạp, có người bị thương nặng phải cưa chân.

Tổng hợp : Vietnamnet & saigonchuyenchuake

Nức tiếng Quán mì Thiệu Ký (Tư Ky) hơn 80 năm giữa lòng Sài Gòn

1488 views

Chẳng ai còn nhớ rõ món mì có ở Sài Gòn từ bao giờ, chỉ biết rằng món ăn này theo bước chân di cư của người Hoa sang nước ta từ những năm 30 của thế kỷ trước. Từ đó đến nay, món mì chuyển biến theo dòng thời gian với nhiều thay đổi. Tuy nhiên, có một quán mì mang tên Thiệu Ký ở khu vực quận 11 của Sài Gòn tồn tại gần 70 năm qua vẫn giữ nguyên mùi vị ban đầu…
Chỉ có sự đổi thay ở những người đứng bán vì quán mì này đã có tuổi hơn một đời người và được truyền qua ba thế hệ.

Nếu có dịp đi ngang đường Lê Đại Hành, quận 11, TP.HCM khúc giao lộ Thuận Kiều, Trần Quý, Hoà Hảo, có thể thấy cuối con hẻm 66 lúc nào cũng có thực khách ngồi kín các bàn ăn. Đó là khách đến ăn mì Thiệu Ký, xe mì được đặt sâu tận cuối hẻm nhưng lúc nào cũng có đông khách. Thiệu Ký là tên chính của quán mì này, nhưng dường như nó không được ai biết đến. Người ta quen gọi nó là mì Tư Ky vì người sáng lập ra quán mì này tên là Tư Ky.

Quán mì Thiệu Ký

Quán mì do một thanh niên người Hoa mở ra vào những năm 30 của thế kỷ trước, khi người thanh niên này vừa mới đến Sài Gòn và chọn nơi đây làm quê hương thứ hai để khởi nghiệp. Cái tên Tư Ky hiện giờ đã quen thuộc đến mức người ta gọi hẻm 66 đường Lê Đại Hành là hẻm Tư Ky. Chủ quán hiện giờ là ba anh em gọi ông Tư Ky bằng ông ngoại. Và người có thâm niên nhất trong ba anh em này là anh Đặng Phiếu với kinh nghiệm làm mì và đứng bán quán mì khoảng 40 năm. Đầu tiên, quán mì chỉ là gánh mì nhỏ bán quanh khu vực này, sau đó được nâng cấp thành xe mì và cũng được đẩy rong quanh khu người Hoa. Sau năm 1975, xe mì Thiệu Ký yên vị ở cuối hẻm 66. Đến nay đã đổi đến chiếc xe thứ ba, chiếc xe đẩy cuối cùng được thay đổi cách đây khoảng 7 – 8 năm. Đến nay, quán mì này đã được truyền lại đến đời thứ ba. Hơn 70 năm qua, quán mì Tư Ky luôn đều đặn mở cửa từ 6 giờ sáng đến 2 giờ đêm, kể cả những ngày lễ, tết.

Bí quyết cho một tô mì ngon

Ăn mì Tư Ky không giống mì ở bất cứ nơi nào vì mỗi ngày cháu ngoại ông Tư Ky phải mất khoảng ba giờ để biến bột nguyên liệu, trứng và phụ gia thành sợi mì. Tại quán mì Thiệu Ký, mỗi ngày cứ vào khoảng 2 giờ chiều là quy trình làm mì tươi lại được tiến hành, kéo dài đến 5 – 6 giờ chiều để cho ra khoảng 18kg mì tươi. Sợi mì phải được làm từ bột mì trộn cùng trứng vịt và nước tro tàu, ủ một thời gian cho dậy bột, sau đó mang bột đi cán và cắt sợi.

Quán mì Thiệu Ký

Như các nơi bán hủ tíu mì khác, mì Tư Ky cũng có giá, có hẹ và xà lách kèm theo nhiều loại phụ gia, nhưng người ăn sẽ thấy lạ là mì không bị nở dù cho có ăn chậm thế nào. Cọng mì rất giòn và lạ nữa sẽ không làm thực khách khó chịu vì bị dính răng. Chị Nguyễn Thị Thanh Nga, một thực khách lâu năm của quán mì Thiệu Ký cho biết, chị ghiền món mì sườn ở đây không chỉ bởi sườn ngon và nước lèo thơm ngọt mà còn vì cọng mì giòn, dai mà vẫn mềm và không bị nở nhão nên không có cảm giác bị ngán. Nếu ăn mì khô ở đây mà bỏ qua chén nước lèo trong vắt, đầy hành nhưng thật ngọt, thật ngon thì sẽ lãng phí lắm. Khác với người Việt có thói quen dùng chanh, người Hoa lại thích dùng giấm đỏ và nếu thiếu giấm đỏ thì không thể làm nên hương vị mì Tàu. Vì vậy, thực khách cũng đừng quên cho thật nhiều giấm đỏ vào mì khô, cũng chẳng ai giải thích được rằng tại sao cho nhiều giấm đỏ thì mì sẽ ngon hơn. Có lẽ đây cũng là một đặc điểm riêng mà ai đã từng một lần ăn mì ở đây sẽ khó mà quên được.

Ngoài việc duy trì truyền thống gia đình, nghề bán mì cũng giúp đại gia đình con cháu ông Tư Ky đủ đảm bảo cho đời sống. Dù trải qua bao nhiêu năm, có lúc gặp khó khăn về thu nhập nhưng con cháu ông Tư Ky vẫn chưa bao giờ nghĩ đến việc bỏ xe mì để tìm đến nghề khác. Có lẽ vị của cọng mì tươi thơm mùi trứng và mùi nước lèo đặc trưng đã trở thành truyền thống xuyên suốt nhiều thế hệ, gia đình ông mãi giữ cho người Sài Gòn một món mì Tàu không thể lẫn vào đâu được.

© Theo SGTT.VN

Câu truyện về bùng binh Hồ Con Rùa ở Sài Gòn

1921 views

VỊ TRÍ
Nguyên thủy ban đầu, tại vị trí Hồ Con Rùa hiện nay, vào năm 1790 là vị trí cổng thành Khảm Khuyết của thành Bát Quái (còn gọi là thành Quy). Về sau vua Minh Mạng đổi tên thành cửa Vọng Khuyết. Tuy nhiên sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835) thì vào năm 1837, nhà vua đã cho phá thành Bát Quái và xây dựng một ngôi thành nhỏ hơn mang tên là thành Phụng. Vị trị cửa Khảm Khuyết trở thành một điểm ở ngoài thành và nối thẳng con đường ngoài mặt tây thành xuống bến sông.
Vào năm 1878, tháp nước được xây tại vị trí Hồ Con Rùa ngày nay để cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng gọi là Công trường Tháp Nước (Place de Château d’eau). Tháp xây kiên cố, khá cao, có thang hình xoắn ốc dẫn lên tới đỉnh.
Đến năm 1921 thì tháp nước bị phá bỏ do không còn đủ sức đáp ứng nhu cầu cung cấp nước nữa. Vị trí này trở thành giao lộ như ngày nay, với tên gọi là Công trường Maréchal Joffre (cắt giao lộ là đường Testard – nay là đường Võ Văn Tần – và đường Larclauze – nay là đường Trần Cao Vân).
Ngày 11/11/1927, người Pháp đã cho xây dựng tại vị trí này một tượng đài ba binh sĩ Pháp bằng đồng với hồ nước nhỏ để tưởng niệm lính Pháp và lính Đông Dương chết trong thế chiến thứ nhất. Trong cuộc chiến tranh này, khoảng 9 vạn người Đông Dương – mà phần đông là người Việt Nam – bị Pháp bắt đưa sang châu Âu để đánh nhau với Đức hoặc làm việc trong các cơ xưởng quân sự. Công trình này được gọi là công trường Chiến sĩ trận vong hay công trường Ba Hình.

Bùng binh Hồ Con Rùa
Công trường Tháp Nước (Place de Château d’eau) thời Pháp thuộc.

Sau đó, công trường này mang tên Thống chế Joffre (1852-1931), người từng cầm quân xâm lược nước ta ở Bắc Kỳ. Các tượng đài này tồn tại đến năm 1956, sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, thì tượng này cũng bị Chính phủ Việt Nam Cộng hòa phá bỏ, chỉ còn lại hồ nước nhỏ. Giao lộ cũng được đổi tên thành Công trường Chiến sĩ.
Thời điểm xây dựng Hồ Con Rùa chưa được xác định chính xác. Một số tài liệu cho là nó được xây dựng vào năm 1965, vài tài liệu khác thì cho là 1967. Người thiết kế Hồ con Rùa là kiến trúc sư Nguyễn Kỳ. Mẫu thiết kế của ông được chọn trong cuộc thi tìm quy hoạch mới cho địa danh này (Nguyễn Kỳ nay sống tại Sydney, Australia).

VỀ CÔNG TRÌNH VÒNG XOAY HỒ CON RÙA
Từ 1970 đến 1974, Hồ Con Rùa thực sự được trùng tu và chỉnh trang trong đó gồm việc dựng thêm và điều chỉnh 5 cột bê tông cao có dạng như một bông hoa nhiều cánh, trên đỉnh là 1 hình tròn to tượng trưng cho đồng xu được hứng bởi những cánh hoa đó, hình ảnh này biểu tượng cho bàn tay xoè ra đón nhận viện trợ. Con rùa được làm bằng lá đồng mỏng, ốp trên khung sườn bằng thép góc và thép lá. Vì vậy không tốn kém mấy về vật liệu và dễ thực hiện. Bia trên lưng rùa một mặt thì khắc câu tri ân các quốc gia đã viện trợ, một mặt khắc tên tất cả các quốc gia này.
Công trình mới này còn bao gồm một vòng xoay giao thông với đường kính khoảng gần 100 mét, được trang trí bởi cây xanh và hồ phun nước hình bát giác lớn với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm. Vì vậy công trình xây dựng tại vòng xoay hồ con rùa chính là Đài kỷ niệm Viện trợ Quốc tế cho Việt Nam Cộng Hòa tức miền Nam VN trước năm 1975, khi VN còn chia cắt làm 2 phần nam bắc VN.
Sau khi xây dựng xong thì ban đầu khu giao lộ này được đặt tên là Công trường Chiến sĩ Tự do, đến năm 1972 thì đổi tên thành Công trường Quốc tế hay bùng binh Hồ Con Rùa vì dứơi chân có một con rùa đội bia.
Sau năm 1975, các dòng chữ trên tấm bia bị chính quyền mới sơn phủ lên che đi. Đường Duy Tân bị thay tên thành đường Phạm Ngọc Thạch còn đường Trần Quý Cáp đổi thành đường Võ Văn Tần. Vào đầu năm 1976 (hay 1978), tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ, tuy con rùa không còn nhưng người dân vẫn quen gọi là Hồ Con Rùa, thay cho tên gọi chính thức.
Khu vực vòng xoay hồ con rùa bao quanh bởi các quán cà phê, là nơi tấp nập về đêm và là một trong những vòng xoay có nhiều cây xanh nhất thành phố Hồ Chí Minh.

VỀ GIAI THỌAI HỒ CON RÙA
Theo lời thuật lại của nhà báo ngành Công an Huỳnh Bá Thành (Ba Trung) trong cuốn sách “Vụ án Hồ Con Rùa” (NXB Tuổi Trẻ 1982) thì có các giai thoại truyền miệng kể là vào năm 1967, khi tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, đã mời một thầy phong thủy người Hoa nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập. Người thầy phong thủy này khen vị trí của dinh là vị trí của long mạch, trấn yểm vị trí của đầu rồng[3]. Cũng theo lời thuật trên thì con rồng này đầu tại dinh Độc Lập và đuôi nằm tại vị trí Công trường Chiến sĩ, tuy phát hưng vượng, nhưng do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp không bền, vì vậy cần phải cúng yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng không vùng vẫy nữa thì mới giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài. Cũng vì thế, mà theo một số người thì kiến trúc tháp cao giống như hình một thanh gươm (hoặc cây đinh/kim), đóng xuống hồ nước để giữ chặt đuôi rồng, và khuôn viên hồ nước có hình bát quái, bên giữa có hình âm dương.
Một số người khác thì lại cho rằng kiến trúc tháp lại giống hình đuôi rồng vươn cao, nhưng có con rùa đè chặt ở phần đầu ngọn. Số khác thì lại cho là nhìn từ trên cao xuống thì toàn thể kiến trúc trông giống như một con rùa. Một số người lại đưa giải thích là sở dĩ làm hình con rùa, vì trong dân gian, con rùa mới đội bia (trên lưng rùa lúc đó -xây dựng khoảng năm 1972- có một bia đá ghi công (Xem hình: 1 và2), và nơi đây được thiết kế như một đài tưởng niệm) và ngụ ý “mang ơn”. Nhưng tất cả cũng chỉ là giả thuyết hay là giai thoại thêu dệt thêm.

Chương Trình Dạ Lan 19 – Dáng Xưa

650 views

Chương Trình Dạ Lan 19 mang tên “Dáng Xưa” với những giộng ca hàng đầu của làng nhạc Việt hải ngoài: Hoàng Oanh, Ngọc Lan, Tuấn Vũ, Hương Lan, Ngọc Mai, Băng Châu…

Lịch sữ hình thành của Nhà Thờ Đức Bà

966 views

Vị trí

Ban đầu, địa điểm xây cất được đề nghị ở 3 nơi:
– Trên nền Trường Thi cũ (nay là góc đường Lê Duẩn và Hai Bà Trưng, tức vị trí tòa Lãnh sự Pháp).
– Ở khu Kinh Lớn (tại vị trí nhà thờ cũ, nay thuộc đường Nguyễn Huệ).
– Vị trí hiện nay: số 1, Công Xã Paris, P. Bến Nghé, Q1

Nhà thờ Đức Bà

Lịch sử hình thành

Tháng 8 năm 1876, Thống đốc Nam kỳ Duperré đã tổ chức một kỳ thi vẽ đồ án thiết kế nhà thờ mới. Ngoài mục tiêu có chỗ thờ phụng, hành lễ cho tín đồ, việc xây dựng nhà thờ lớn cũng nằm trong mục đích phô trương đạo Công giáo và sự vĩ đại của nền văn minh nước Pháp trước người dân thuộc địa. Vượt qua 17 đồ án thiết kế khác, đồ án của kiến trúc sư J. Bourad với phong cách kiến trúc Roman cải biên pha trộn nét phong cách kiến trúc Gotich đã được chọn.
Thống đốc Nam kỳ Duperré cho đấu thầu việc xây dựng nhà thờ và cũng chính kiến trúc sư này là người trúng thầu và trực tiếp giám sát công trình.
Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên trước mặt Phó soái Nam Kỳ và đông đủ nhân vật cấp cao thời ấy. Nhà thờ được xây dựng trong 3 năm. Lễ Phục sinh, ngày 11 tháng 4 năm 1880, nghi thức cung hiến và khánh thành do cố đạo Colombert tổ chức trọng thể với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers. Hiện nay, trên bệ phía trên, bên trong cửa ra vào nhà thờ, có chiếc bảng cẩm thạch gắn trong hành lang (transept) ghi ngày khởi công, ngày khánh thành và tên vị công trình sư. Tất cả mọi chi phí xây dựng, trang trí nội thất đều do Soái phủ Nam Kỳ đài thọ, với số tiền 2.500.000 franc Pháp theo tỷ giá thời bấy giờ. Ban đầu, nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Nhà Nước vì nó do nhà nước Pháp bỏ tiền xây dựng và quản lý.
Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6 m và có 6 chuông đồng lớn nặng 28,85 tấn. Trên đỉnh tháp có đính một cây thánh giá cao 3,50 m, ngang 2 m, nặng 600 kg. Tổng thể chiều cao từ mặt đất lên đỉnh thánh giá là 60,50 m.

Nhà thờ Đức Bà

Trên vườn hoa trước nhà thờ, năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Bá Đa Lộc hoặc Giám mục Adran vì vị này làm Giám mục hiệu tòa Adran) dẫn hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long) để ca ngợi công lao của nước Pháp “bảo hộ”, “khai hóa” cho Việt Nam. Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc hình Giám mục Adran với phẩm phục giám mục, tay trái dẫn hoàng tử Cảnh. Tượng làm bằng đồng, được đúc tại Pháp, giới bình dân thời đó thường gọi là tượng “hai hình” để phân biệt với tượng “một hình”, là bức tượng của Đô đốc Hải quân Pháp Genouilly ở phía công trường Mê Linh (nay là cuối đường Hai Bà Trưng, gần bờ sông Sài Gòn). Năm 1945, tượng này bị phá bỏ, nhưng cái bệ đài bằng đá hoa cương đỏ thì vẫn còn tồn tại ở đó mà không có bất cứ một bức tượng nào đặt lên trên.

Nhà thờ Đức Bà Saigon

Năm 1958, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên (sau làm Giám mục giáo phận Phú Cường, giờ đã qua đời), cai quản Giáo xứ Sài Gòn thời ấy, đã đặt tạc một tượng Đức Mẹ Hòa Bình bằng loại đá cẩm thạch trắng Carrara của Ý. Tượng được tạc tại Pietrasanta cách Roma khoảng 500 km. Khi tượng hoàn tất thì được đưa xuống tàu Oyanox vào ngày 8 tháng 1 năm 1959 từ hải cảng Gênes chở tượng qua Việt Nam và tới Sài Gòn ngày 15 tháng 2 năm 1959. Sau đó, công ty Société d’Entreprises đã dựng tượng Đức Mẹ lên bệ đá vốn còn để trống kể từ năm 1945 trước nhà thờ. Tự tay linh mục viết câu kinh cầu nguyện “Xin Đức Mẹ cho Việt Nam được hòa bình” rồi đọc trước đông đảo quan khách có mặt hôm ấy. Ngày hôm sau, Hồng y Aganianian từ Roma qua Sài Gòn để chủ toạ lễ bế mạc Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc, đã làm phép bức tượng này vào buổi chiều ngày 17 tháng 2 năm 1959. Từ sự kiện này mà từ đó nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Đức Bà.
Ngày 5 tháng 12 năm 1959, Tòa Thánh đã cho phép làm lễ “xức dầu”, tôn phong Nhà thờ Chính tòa Sài Gòn lên hàng tiểu Vương cung thánh đường (basilique). Từ đó, tên gọi chính thức của thánh đường là Vương cung thánh đường Đức Bà Sài Gòn.
Năm 1960, Tòa Thánh thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam với ba tòa Tổng Giám mục tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Nhà thờ trở thành nhà thờ chinh tòa của vị Tổng giám mục Sài Gòn cho đến ngày nay.

Nhà thờ Đức Bà

Đặc điểm

– Tên chính: Vương cung thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội.
– Tôn giáo: Công giáo Rôma
– Chức năng : thuôc Giáo xứ chính tòa
– Kiến trúc Thiết kế: J. Bourad
– Khánh thành: 11 tháng 4, 1880
– Phong cách: Kiến trúc Roman và Gôtich

Trong quá trình xây dựng, toàn bộ vật liệu xây dựng từ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang. Mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Marseille để trần, không tô trát, (đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi), không bám bụi rêu. Một số ngói vỡ trong nhà thờ có in hàng chữ Guichard Carvin, Marseille St André France (có lẽ là nơi sản xuất loại ngói này), mảnh ngói khác lại có hàng chữ Wang-Tai Saigon. Có thể đây là mảnh ngói được sản xuất sau tại Sài Gòn dùng để thay thế những mảnh ngói vỡ trong thời gian Thế chiến thứ hai do những cuộc không kích của quân Đồng Minh. Toàn bộ thánh đường có 56 ô cửa kính màu do hãng Lorin của tỉnh Chartres (Pháp) sản xuất.
Móng của thánh đường được thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Và một điều rất đặc biệt là nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Sài Gòn – Gia Định lúc ấy và bây giờ.
Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người.
Nội thất thánh đường có hai hàng cột chính hình chữ nhật, mỗi bên sáu chiếc tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Ngay sau hàng cột chính là một hành lang và kế đó là nhiều nhà nguyện nhỏ với những bàn thờ nhỏ (hơn 20 bàn thờ) cùng các bệ thờ và tượng thánh nhỏ làm bằng đá trắng khá tinh xảo. Bàn thờ nơi Cung Thánh làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối có hình sáu vị thiên thần khắc thẳng vào khối đá đỡ lấy mặt bàn thờ, bệ chia làm ba ô, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc diễn tả thánh tích. Trên tường được trang trí nổi bật 56 cửa kính mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh Kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Tất cả các đường nét, gờ chỉ, hoa văn đều tuân thủ theo thức Roman và Gôtich, tôn nghiêm và trang nhã. Tuy nhiên, trong số 56 cửa kính này hiện chỉ còn bốn cửa là nguyên vẹn như xưa, còn các cửa kính màu khác đều đã được làm lại vào khoảng những năm 1949 để thay thế các cửa kính màu nguyên thủy của nhà thờ đã bị bể gần hết trong thế chiến thứ 2. Trên trán tường của cửa chính nhà thờ có hàng chữ Latinh:
DEO OPTIMO MAXIMO BEATIEQUE MARIA VIRGIN IMMACULATOE
Nghĩa là: Thiên Chúa tối cao đã ban cho Đức Trinh Nữ Maria được ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Nhà thờ Đức Bà

Còn trên trán tường của cửa vào bên phải có những hàng chữ bằng tiếng Hoa, thật ra đó là hai câu đối: “Nhà thờ Thiên Chúa đầy ân đức – Thánh mẫu vô nhiễm nguyên tội“. và hàng chữ nói tới năm khánh thành nhà thờ 1880. Nội thất thánh đường ban đêm được chiếu sáng bằng điện (không dùng đèn cầy) ngay từ khi khánh thành. Vào ban ngày, với thiết kế phối sáng tuyệt hảo, hài hòa với nội thất tạo nên trong nội thất thánh đường một ánh sáng êm dịu, tạo ra một cảm giác an lành và thánh thiện. Ngay phía trên cao phía cửa chính là “gác đàn” với cây đàn organ ống, một trong hai cây đàn cổ nhất Việt Nam hiện nay. Đàn này được các chuyên gia nước ngoài làm bằng tay, thiết kế riêng, để khi đàn âm thanh đủ cho cả nhà thờ nghe, không nhỏ mà cũng không ồn. Hiện nay, cây đàn này đã hoàn toàn hỏng do bị mối ăn phần gỗ bàn phím điều khiển bằng tay.
Lúc đầu nhà thờ không có tháp chuông. Đến năm 1895 thì được xây thêm 2 tháp chuông lớn. Có tất cả 6 chuông lớn (sol, la, si, đô, rê, mi), gồm sáu âm, nặng tổng cộng 28,85 tấn, đặt dưới hai lầu chuông. Bộ chuông này được chế tạo tại Pháp và mang qua Sài Gòn năm 1879. Trên mặt mỗi quả chuông đều có các họa tiết rất tinh xảo.
Ba quả chuông to nhất là chuông si , chuông la và đặc biệt là chuông sol là một trong những quả chuông lớn nhất thế giới. Chuông này chỉ ngân lên mỗi năm một lần vào đêm Giao thừa Âm lịch.
Các chuông đều được điều khiển bằng điện từ bên dưới. Riêng ba chiếc chuông lớn trước khi đánh đều được khởi động bằng cách đạp (vì quá nặng) cho lắc trước khi bật công tắc điện. Vào ngày thường, thánh đường chỉ cho đổ một chuông mi vào lúc 5 giờ sáng và đổ chuông re vào lúc 16g15. Vào ngày lễ và chủ nhật, nhà thờ thường cho đổ ba chuông theo hợp âm Mi, Re và Do ( đúng ra là hợp âm ba chuông Mi, Do và Sol, nhưng vì chuông Sol qua nặng nên thay thế bằng chuông Do). Vào đêm Giao thừa thì mới đổ cả 6 chuông. Tiếng chuông ngân xa tới 10 km theo đường chim bay.
Bộ máy đồng hồ trước vòm mái cách mặt đất chừng 15 m, giữa hai tháp chuông được chế tạo tại Thụy Sĩ năm 1887, hiệu R.A, cao khoảng 2,5 m, dài khoảng 3 m và ngang độ hơn 1 m, nặng hơn 1 tấn, đặt nằm trên bệ gạch. Dù thô sơ, cũ kỹ nhưng hoạt động khá chính xác. Để điều chỉnh đồng hồ, phía sau máy có một chiếc đồng hồ to cỡ đồng hồ reo trong gia đình. Chỉ cần theo dõi chiếc đồng hồ con này, có thể biết đồng hồ lớn chạy chậm, nhanh, đúng hay sai giờ. Mỗi tuần phải lên giây đồng hồ một lần và chiếc cần để lên giây đồng hồ giống như tay quay máy xe. Đồng hồ còn có hệ thống bao giờ bằng búa đánh vô các chuông của nhà thờ, tuy nhiên đã không còn hoạt động do dây cót quá cũ.

Nhà thờ Đức Bà

Mặt trước thánh đường là một công viên với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá. Trung tâm của công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa bình (hay Nữ vương Hòa bình). Tượng do nhà điêu khắc G. Ciocchetti thực hiện năm 1959. Tên của tác giả được khắc ở trên tà áo dưới chân, phía bên trái của bức tượng. Bức tượng cao 4,6 m, nặng 8 tấn, bằng đá cẩm thạch trắng của Ý, được tạc với chủ đích để nhìn từ xa nên không đánh bóng, vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt vẫn còn những vết điêu khắc thô. Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu, trên trái địa cầu có đính cây thánh giá, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời như đang cầu nguyện cho Việt Nam và cho thế giới được hoà bình. Chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn (mà hiện nay, đầu con rắn đã bị bể mất cái hàm trên). Trên bệ đá, phía trước bức tượng, người ta có gắn một tấm bảng đồng với hàng chữ Latinh:
REGINA PACIS – ORA PRO NOBIS – XVII. II. MCMLIX
Nghĩa là: NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH – CẦU CHO CHÚNG TÔI – 17.02.1959
Phía dưới bệ đá, người ta đã khoét một cái hốc chỗ giáp với chân tượng Đức Mẹ, trong đó có một chiếc hộp bằng bạc, chứa những lời kinh cầu nguyện cho hoà bình của Việt Nam và thế giới. Những lời cầu nguyện đó được viết lên trên những lá mỏng bằng những chất liệu khác nhau như bằng vàng, bạc, thiếc, nhôm, giấy, da và đồng, được gởi tới từ nhiều miền của Việt Nam, kể cả từ một số vùng ngoài miền Bắc.

Tìm hiểu về con đường Lý Chính Thắng, khi xưa là đường Yên Đổ

2981 views

Vị trí : Đường nằm trên dịa bàn các phường 7, 8, 9 quận 3 dài khoảng 1674 mét, qua ngã ba Huỳnh Tịnh Của, ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa, ngã ba Đoàn Công Bửu, các ngã tư Trần Quốc Thảo, Trương Định, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Thông.

Lịch sử : Trước kia đường này là đường xe bò cặp theo rạch Nhiêu Lộc. Từ năm 1865 được chỉnh trang và đặt tên là Avalanche. Ngày 24/4/1920, đường được đổi tên là đường Champagne. Ngày 22/ 3/1955 đổi là đường Yên Đổ. Sau ngày 14/8/1975 chính thức đổi thành đường Lý Chính Thắng.


Nếu người Hà nội có niềm tự hào được sở hữu nhiều con phố nghệ độc đáo thì người Sài Gòn cũng kiêu hãnh vì mang trong mình cả một dây phố thơ ở quận 3 với nhiều con đường liền kề nhau được mang tên các thi nhân nổi tiếng của đất nước và trong những con đường ấy; Lý Chính Thắng có lẽ là con phố thơ để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong tâm tưởng người Sài Gòn hơn cả.
Nằm ở khu trung tâm thành phố, Lý Chính Thắng là một trong những con phố có tuổi đời già dặn nhất ở Sài Gòn. Con đường bắt đầu từ ngả ba Hai Bà Trưng (Paul Blancy) và chấm dứt ở Công Trường Dân Chủ hay Ngả Sáu – Sàigòn. Nếu nhìn xéo một chút về phía tay trái, nằm phía bên kia đường là Ty Cảnh Sát Quận 3. Thời Pháp thuộc nó được biết đến với tên gọi ban đầu là Avalanche và đến năm 1920 lại đổi sang tên mới là Champagne, sang đến 1955 con đường được khai sinh lại dưới tên Yên Đỗ (quê hương thi nhân Nguyễn Khuyến). Sau năm 1975 nó được chính thức mang tên Lý Chính Thắng, người đã củng nhân dân thành phố viết nên những trang sử hào hùng của An Phú Đông trong những năm đầu Nam Bộ kháng chiến chống Pháp.
Có lẽ nhờ sự từng trải ấy mà trong tiềm thức của người thành phố, con đường mang nét quyến rũ rất riêng của sự đậm sâu nơi tâm hồn mà ít nơi nào sánh được. Suốt từ thời Pháp thuộc cho đến nay, những ai dù mới lần đầu ghé thăm con phố đều dấy lên trong lòng một cảm giác gần gũi như đã quen thân từ bao giờ. Những người có tâm hồn nghệ sĩ thì đắm say trong cái duyên dáng mảnh mai cùng nét quanh co uốn lượn đầy duyên dáng yêu kiều của con phố. Những khách xưa hoài cổ lại say mê vẻ cổ kính già nua của những ngôi biệt thự Pháp cổ xưa rải dọc con đường và những kẻ thích mộng mơ lại mê đắm những cây cổ thụ rợp bóng mát lúc nào cũng riếu rang tiếng chim ca. Ngay cả những người bình thường nhất cũng có thể bỗng chốc hóa thành một khách thơ, có phải thế chăng mà mỗi kỷ niệm dấu yêu của người Sài Gòn trên con phố này đều là cả một bài thơ đong đầy những xốn xang. Đó có thể là ký ức ngọt ngào của tuổi thơ với niềm háo hức được Cha Mẹ hứa chở đi ăm chè Yên Đỗ vào dịp cuối tuần, đó có thể là niềm vui khôn tả khi bỗng dưng tìm lại được con chó cưng của gia đình trong trại nhốt chó lạc Phu Gia ở nơi cuối phố, đó có thể là những đêm trăng thanh gió mát nằm mắc võng ngắm sao trời và nghe sóng hát dưới mái nhà lá ven dòng sông Thị Nghè trong xanh, kể sao cho hết được những trang thơ hồi ức của người Sài Gòn với con đường Yên Đỗ năm nào. Nhưng nếu phải chọn một ý thơ đẹp nhất trong muôn vàn những bài thơ được dệt bằng hoài niệm, có lẽ Bến tắm ngựa vẫn mãi là một miền ký ức thiêng liêng, mãi đi về trong nỗi nhớ niềm thương của lớp lớp người Sài Gòn. Chẳng trách vì sao mà những nghệ sĩ lãng tử vào hàng bậc nhất Sài Gòn một thuở như Nhạc sĩ Văn Phụng với ca khúc Ô Mê Ly sôi nổi đắm say hay nhà thơ Phạm Thi Thơ hào hoa với những áng thơ tình diễm lệ Của Ngày Xưa Hoàng Thị cũng bị con phố níu chân ở lại với nó đẹp và yên bình đến nao lòng là thế . Nhắc đến Yên Đỗ năm xưa, chúng ta có thể nhớ đến trường trung học tư thục đây là một cái Villa cũ sau này biến thành cư xá cho Mỹ thuê và luôn luôn có quân cảnh (MP) Mỹ cầm súng M-16 đứng gác trước các ống cống lớn bằng xi măng đổ đầy cát ở bên trái đầu đường Hai bà Trưng đi vào qua đuờng Huỳnh Tịnh Của là xóm Hầm Sỏi, trụ sở Hội Cha Mẹ Nuôi Quốc Tế, toạ lạc ngay góc ngả tư đưòng Yên Đổ và Công Lý
Từ đầu đường Yên Đổ phía tay phải là quán cà phê bình dân Hải Nàm giò chả Nhiên Hương. Tiệm này có bà con họ hàng thân thiết với giò chả Phú Hương ở đường Hiền Vương. Hai tiệm giặt ủi Phước và tiệm may Trường ở kế bên phở bắc Việt Hương. Rồi đến tiệm may Xuân Liên chuyên may áo dài đám cưới, với con phố có nhiều villas và yên ả là thế. Nhưng khi tổ quốc nguy biến thì con phố thơ đã hóa thành chiến lũy, trong kháng chiến chống Mỹ, Lý Chính Thắng là một trong những con đường lịch sử đặc biệt nhất của Sài Gòn. Nếu như nói đến ngày 30 tháng 4, người ta nghĩ ngay tới hình ảnh xe tăng quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập. Khi nói về tết Mẫu Thân năm 1968, thì người ta sẽ liên tưởng tiếp đến quán Phở Bình trên đường Lý Chính Thắng đã trở thành Sở tổng chỉ huy Biệt Động Thành nơi phát đi lệnh tổng tấn công làm thay đổi cục diện chiến tranh. Ghé vào quán Phở là nơi đã đi vào ký ức dân tộc ta được tận hưởng những phút bâng khuâng trong niềm cảm hoài lịch sử, lạ lùng biết bao cảm giác được thưởng thức cái hương vị đằng sau của tô phở gia truyền đã 75 tuổi và tận hưởng những cảm nghĩ thú vị về cung cách chế biến và nét phục vụ truyền thống của quán phở gia đình xưa trên miền đất Sài Gòn xốn xang.

Chuyện về những chai bia của hãng BGI ở Sài Gòn trước 1975

5042 views

Đã từ lâu rồi anh chị em bạn bè khi gặp tôi, sau khi biết tôi đã từng làm việc tại hãng BGI, Sàigòn, tức là hãng Brasseries, Glacières d’Indochine, công ty chủ nhà máy nấu La De ở Chợ Lớn, cạnh sân vận động Cộng Hòa (sân vận động Thống Nhất ngày nay – HNVĐ), đều yêu cầu tôi phải viết về La De, kể những giai thoại về La De.
Câu chuyện thường được mọi người nhớ về La De, thường hỏi tôi, là chuyện chai La De lớn đặc biệt gọi là La De Trái Thơm. Theo lời đồn, trong mỗi thùng 6 chai chỉ có một chai Trái Thơm, giá đặc biệt và cũng là quà tặng đặc biệt mỗi khi có khách quý. Ai đã được uống La De Trái Thơm đều khen là ngon đặc biệt, và khen ngon hơn chai La De thường. Thiệt tình mà nói là La De Trái Thơm, La De thường, La De Quân tiếp Vụ cũng là một thứ, vô chai có hình trái thơm thì nó Trái Thơm, vô chai thường thì nó là La De thường, gặp chai Quân tiếp Vụ thì nó biến thành La De Quân tiếp Vụ. Hãng BGI lúc ấy chỉ có nấu hai loại La De thôi :

1) La De thường: vào chai lớn (dung tích 66) thường gọi La De Con Cọp vì chai có cái đầu con cọp màu vàng và để nhãn hiệu Bière Larue.
2) La De 33: nấu thơm hơn, độ rượu nhiều hơn, vị uống đậm đà hơn, vô chai nhỏ (dung tích 33), tên thường gọi là Bia Băm Ba, nhãn hiệu là Bière 33 Export.

Vậy mà có người khen chê cho La De Trái thơm là ngon nhứt, xong đến La De Con Cọp và hạng chót là La De Quân tiếp Vụ. QTV dỡ nhứt vì là cho Quân đội uống. Chẳng qua là cái mã ở ngoài cả. Thế mới biết ở đời chỉ trọng cái bề ngoài. Quý vị nghĩ coi nấu 2 loại Bia đã tóe phở, học xì dầu hơi đâu, BGI đâu có quởn nấu ba bốn loại còn vô chai vô cộ, đổi kíp đổi người. Phức tạp lắm. Nội cách đổi vỏ chai cho hạp với rượu cũng đủ hao tiền. Nhưng cắt nghĩa hổng ai tin. Ông Cụ Bà Cụ tui, hễ khi tui đến nhà chơi, chẳng may lấy La De Quân Tiếp Vụ uống, vì ổng có hàng QTV do mấy chú em tui đem về, thì bà bảo : “Nhà hết La De để mẹ đưa tiền chú Thanh, chú Thanh là anh tài xế phục vụ ông cụ đi mua La De về cho con uống chứ uống chi đồ QTV dở lắm, để các em của con lính tráng nó uống, nó quen rồi”. Tôi có trả lời cắt nghĩa cho bà hiểu là chỉ có một thứ bả không tin. Thiệt “Bụt nhà hổng thiên” !

CÂU CHUYỆN LADE TRÁI THƠM

Lúc ấy là năm 1973, tôi làm chánh sở Tiếp thị (Chef du Service Marketing), coi luôn phần quảng cáo. Để hà tiện tiền làm nhãn ở Pháp, tôi sử dụng văn phòng quảng cáo của hãng, tôi nghĩ anh họa sĩ văn phòng quảng cáo (chuyên vẽ những fond cho các xe của hãng rồi các anh thợ sơn đồ chép lại) đủ tài nghệ chép lại cái nhãn đặt ở Pháp. Và tôi nhờ anh họa sĩ vẽ lại cái nhãn. Trên nhãn cái đầu con cọp vàng ở giữa hai bên có hai tràng hoa houblons, là loại hoa dùng để thêm cái vị nhẫn đắng vào bia. Nấu bia ngon dỡ là do cái tài thêm ít hoa houblon, cũng như gia vị ngũ vị hương trong nghề bếp núc Việt Nam ta vậy.
Nhãn vẽ xong đại khái cũng tạm ổn, vì anh họa sĩ nhà chưa bao giờ nhìn thấy hoa houblon, nên đinh ninh thấy hoa houblon giống trái thơm, cho là Trái thơm, và vẽ giống trái thơm. Các ông giám đốc Tây cũng ba chớp ba nháng, kể cả anh chánh sở trách nhiệm là tui, cũng thế.
Vì thiệt tình mà nói thì có ông nội nào thấy hoa houblon tươi đâu? Biết là houblon nhưng chỉ nhìn thấy hoa dưới dạng khô. Còn các anh kỹ sư nhà máy, các anh nấu rượu (brasseurs – đây là một cái nghề riêng) dân La De thiệt, thì ở nhà máy. Bọn quyết định là dân Văn phòng, dân làm Marketing quyết định mọi việc, bổn phận các anh kỹ sư là sản xuất, chỉ sao làm đúng vậy thôi. Quý vị thấy không, không phải chỉ có trong quân đội mới có cảnh lính văn phòng và lính chiến trường. Nhãn ô kê, gởi đi làm décalques đưa qua Công ty Thủy tinh Việt Nam (Khánh Hội) dán vào chai : 100 ngàn chai mới.
Khi đưa vào nhà máy Chợ Lớn, các lão kỹ sư cười vỡ bụng, “hoa houblon sao giống trái thơm thế nầy”. Nhưng đã nói các quan văn phóng là chánh mà, nên quyết định, cứ trộn chai mới vào với đám chai cũ, lẫn lộn chả ai biết gì đâu, người ta uống La De có ai thèm nhìn nhãn đâu. Chẳng lẽ vất bỏ 100 ngàn chai hay sao ? Vài ông giám đốc còn thày lay dạy đời “Dân Việt Nam không biết uống bia, uống quá lạnh, nhiều khi còn để đông đặc lại (bia đặc), còn thêm nước đá, ngon lành gì, vì vậy trái thơm hay hoa houblon có ai biết chi mô mà ngại ngùng, a – lê ta cứ thế mà làm”. Chàng chánh sở biết thân, im miệng thinh thích, ngậm miệng ăn tiền, phải bảo vệ danh dự anh họa sĩ nhà và danh phong Marketing, dù sao cũng… quê rồi.
Nhưng không ai lường được cái tài doanh nhơn của người Hoa, của con buôn. Các chú Chệt nhà mình ở hãng (rất nhiều nhơn viên người Việt gốc Hoa, buôn bán ở Sàigòn phải biết “cỏn Tung Hỏa”, chẳng những biết nói “Quảng Đông Ngữ” mà cũng phải vài tiếng “Tiều châu ngữ” nữa cũng phải “Kít tèo” hay “Mai xín xắn bù chằn ếch” cho giống người ta, nói tóm lại con buôn giới thương mại phần đông là người gốc Hoa nếu không nói là một số rất đông. Thế là tiếng lành đồn xa tiếng dữ đồn gần, hãng La De vừa sản xuất được một thứ La De hảo hạng, La De trái thơm, một thùng chỉ một chai, để tặng các bạn hàng thứ thiệt, thứ ngon lành, thứ chịu chơi.
Cái luật may rủi, tình cờ, thì khi ra chai và vào thùng thì bao giờ Trái thơm cũng có mặt ở mỗi ngày sản xuất, mấy tay cao thủ bán hàng của hãng cứ thế mà sắp cho mỗi thùng một chai, rất là điệu nghệ, và tuyên truyền nguyên tắc của hãng mỗi thùng một chai. Nhưng khi đi giao hàng (bán sỉ) quý vị ấy tự nhiên đề nghị với các bạn hàng biết điệu nghệ thì có thể thêm 2 hoặc 3, thậm chí cả thùng toàn La De trái thơm tùy theo nét điệu nghệ và chịu chơi của thân chủ, “phép vua thua lệ làng” mà lỵ, phép hãng đấy, nhưng thua nghề của chàng. Và cứ thế giòng sông thương mại trôi theo giòng điệu nghệ, ăn nhậu.
Các bars, các quán nhậu cũng tùy điệu nghệ với các ông Thầy, ông Xếp, đàn anh… mà điệu nghệ giành chai La De Trái thơm cho người mình muốn nâng bi, ca tụng hay ca bài con cá. Cá nhơn tui đây, dân La De thứ thiệt, thế mà khi đi nhậu vẫn được bạn hàng và nhiều khi cả nhơn viên (cho biết khi cái dỏm trở thành huyền thoại thì cái dỏm trở thành cái thiệt) thương tình tặng một chai Trái Thơm. Nhưng mình cũng phải ngậm miệng khen ngon và cám ơn các cảm tình giành riêng ấy, và vì huyền thoại đã đến hồi quyết liệt, làm vỡ “mộng ban đầu”, e có thể “lãnh thẹo”.
Huyền thoại vẫn dai dẳng đến sau 30 tháng Tư, dân bộ đội, hay người “Hà Lội” cũng bị huyền thoại Trái Thơm. Nhiều tay nón cối dép râu, cũng chạy vào văn phòng ông giám Đốc, (sau Tết 1975, tôi được bổ nhiệm làm Giám Đốc Thương mại) làm quen, và xin ông GĐ đặc biệt “tặng không” vài chai Trái Thơm, hoặc thưởng thức Bia Trái thơm “cho biết”. Tội nghiệp, rất nhiều tay vượt Trường Sơn chỉ muốn uống Coca Cola “cho biết” (Tiếng Tây có thành ngữ “pour ne pas mourir idiot” – để khỏi chết ngu đần). Vì ta là quân chiến thắng nên chỉ xin thôi, và chỉ nhận quà cáp, của tặng, chứ không có mua bán gì cả.

XUẤT XỨ CỦA HÃNG BGI

BGI viết tắt của Brasseries (hãng nấu bia) Glacières (hãng nước đá) d’Indochine (Đông Dương) tức là Hãng bia và nước đá Đông Dương. Khởi đầu, BGI thâm nhập miền Nam chỉ với mục đích sản xuất nước đá để tiêu thụ tại một xứ nhiệt đới, do một anh kỹ sư Công Nghiệp (Arts et Métiers – Paris) sĩ quan hàng hải, Victor Larue, giải ngũ tại Sài Gòn thành lập năm 1875. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, BGI bắt đầu chuyển sản xuất bia và nước giải khát. Nhà máy BGI nổi tiếng nhất và lâu đời nhất là Nhà máy bia Chợ Lớn và Usine Belgique được xây dựng từ năm 1952.
Văn phòng BGI nằm trên đường Hai Bà Trưng cạnh hãng Nước Đá. Đấy là tên cúng cơm. Sau năm 1954, sau khi hết Indochine (Đông Dương), BGI bèn biến chữ I thành Internationales (Quốc tế). Mà Công ty Brasseries Glacières Internationales thiệt sự internationales thứ thiệt. Một ông cựu Tổng Giám đốc, ông Grandjean, con một cựu quan chức thuộc địa ở Hà Nội, còn cá nhơn ông lại là một cựu luật sư thuộc Luật sư đoàn Hà Nội, đã tả BGI bằng một câu xanh dờn, ví BGI như đế quốc của Đại đế Charle Quint thời Phục Hưng ở Âu Châu “Mặt Trời không bao giờ lặn trên đất của hãng BGI”. Mà thiệt vậy, BGI có nhà máy nấu La De từ Tân Đảo (Nouvelle Calédonie) đến Guayane nằm cạnh Brazil, thì không đi vòng thế giới sao ? Chưa kể ở Phi Châu, Đông Dương và thậm chí có mặt ở một nước Hồi giáo, Indonésia, nhà máy do tôi thương thuyết thành lập ở thành phố Médan trên đảo Sumatra (đây là một tự hào của cá nhơn tôi, thành tích bán rượu cho dân Hồi giáo).
Ngoài Bia 33, BGI còn sản xuất các loại bia mang nhãn hiệu Bière Royale, Bière Hommel (bia nhẹ) và Tiger Beer (người ta thường gọi là “bia con cọp” vì có nhãn hiệu hình con cọp).
Năm 1975, BGI cũng vừa đủ 100 tuổi. Sau khi Sài Gòn đổi tên, chính quyền tịch thu tài sản của chủ Pháp và Nhà máy bia Chợ Lớn trở thành Bia Sài Gòn và Usine Belgique cũng đổi thành Chương Dương, nhưng vẫn là các nhà máy sản xuất nuớc giải khát.

VỀ BIA 33

Bia 33

Về sau BGI cũng từ từ rút các cơ sở nhà máy, bán dần dần và nay không còn gì cả. Chỉ còn có mỗi Bia 33, chai nhỏ 33 phân khối. Tên bia 33 khai sanh tại Hà Nội năm 1949.
Ngày hôm nay Bia 33 cũng tỵ nạn tại Đan Mạch (do Hãng Carlsberg – Đan Mạch sản xuất). Bia 33 vì sanh ở Hà Nội nên dân Sài Gòn vẫn gọi “Bia 33” (gọi theo dung tích), hay vắn tắt “Băm Ba”. Còn chai bia lớn gọi La De Con Cọp, hay La De lớn (vì dung tích 66 phân khối).
Còn bia 333 bây giờ, nếu nhìn kỹ cái nhãn của 333 và 33 hồi xưa thì chỉ thêm số 3 thôi, cái người tác giả của 333 đó là anh Chương lúc bấy giờ ảnh làm trong hãng Marketing với tui (cũng là người vẽ nhãn cho bia LADE trái thơm), ảnh vẽ quẹt thêm số 3 nữa.
BGI đã tự hào là “Một loại bia 5 châu lục” thông qua việc xuất cảng Bia 33 ra khắp thế giới. Trong mẫu quảng cáo dưới đây ta thấy chữ “Bia” được hiển thị qua nhiều ngôn ngữ: Bière (tiếng Pháp), Beer (tiếng Anh), Bier (tiếng Đức), Bir (tiếng Indonesia), Birra (tiếng Ý)…
Nói thì La De, nhưng viết LA VE, cũng vì một anh Tây ở hãng đã viết và cho in trên cuốn lịch phát hằng năm, màu vàng với con cọp nằm ngang màu đen và viết LA VE LARUE. Dân Tây hồi đó khi mới đến Sài Gòn khi vào những quán ăn gặp cái lịch ấy thường đặt câu hỏi cái hãng nào mà “Rửa Đường, rửa Phố” như vậy, vì học đọc Lave (động từ Laver, rửa, to clean, to wash) la rue (rue là đường phố – street). Để tránh cái ngộ nhận ấy, cá nhơn tôi trưởng Marketing bèn đề nghị thay đổi cách gọi trên tấm lịch ấy. Cũng vì trong cùng thời gian ấy, đang có một chương trình sản xuất một loại Bia Màu, Bia màu Nâu (Bière Brune), nên tôi thưòng dùng chữ Bia hơn chữ La De, gọi Bia Đen, Bia Nâu, Bia Màu nó dễ nghe hơn, cho nên Tết năm 1975, cái lịch cố hữu màu vàng, con cọp đen được in lại với chữ BIA LARUE. Năm ấy, mất luôn chữ La De hay LA VE, ôi thôi đó cũng là cái điềm. Có một cái an ủi, là có những bạn hàng không bằng lòng chữ Bia nói là ở dưới quê (guê) người hổng biết bia là gì nên phải giữ chữ La De. Tôi có cho in thêm 5000 tấm La Ve Larue. Ôi thương làm sao cái tình “miệt Dườn” của “quê hương mình”.
Năm 1976, tôi không ra lịch ra liết gì cả. Chế độ phân phối mà làm gì có marketing.
Tên Anh Victor Larue cha đẻ hãng BGI chỉ có ở Chai La De lớn thôi, phần còn lại không ai nói tới. Mà cũng nực cười. Ổng đẻ ra hãng Nước đá, nhưng tên ổng lại đặt cho La De.
Ngày nay với kỹ thuật mới, bia hơi bán trong thùng sắt có thể giữ được 6 tháng. Còn bia chai giữ được một năm. Chả bù vào những năm 1970 ở Sàigòn chúng tôi chỉ bán Bia Hơi cho những quán nào bảo đảm bán hết thùng bia trong 24 giờ. Sau đó đổi thùng mới, súc hệ thống hơi và vòi, mà phải để nhơn viên BGI làm, mới bảo đảm, vì chúng tôi, hãng BGI bảo đảm an toàn, vệ sanh, và dĩ nhiên hương vị của bia. Vì thế ở Sài Gòn lúc bấy giờ rất ít quán có Bia hơi.
Quý bạn chắc còn nhớ quán bán Bia Bock ở Chợ cũ đường Hàm Nghi cạnh Ty Ngân Khố không ? Chiều chiều ra đấy làm vài ly Bock, ăn một hai hột vịt lộn, hay Bò Bía hết xẩy.
Đó là vài mẫu chuyện của Hãng La De, Nuớc Ngọt, Nước Đá thời của mình. Nay tình cờ có một bài báo viết về La De hay Bia tôi xin phỏng dịch và viết lại hầu quý độc giả, gọi là quà tặng khi vào Mùa Hè.

Theo Phạm Văn Song & blogger Nguyễn Ngọc Chính

Những hình ảnh đẹp về Sài Gòn năm 1955 của nhiếp ảnh gia Raymond Cauchetier

1167 views

Raymond Cauchetier là một nhà nhiếp ảnh nổi tiếng người Pháp sinh vào ngày 10 tháng giêng 1920 tại thủ đô Paris. Khi ông 31 tuổi (1951), ông cùng quân đội Pháp đến dán đảo Đông Dương và trong thời gian ông ở Việt Nam, ông đã thực hiện rất nhiều bộ ảnh về đời sống hàng ngày của lực lượng không quân Pháp cũng như những bộ ảnh về danh lam thắng cảnh và con người Việt Nam sau khi chiến tranh Đông Dương chấm dứt.
Năm 1955, ông đã cho xuất bản cuốn sách ảnh thứ hai có tên “Saigon” và những hình ảnh sau được trích từ quyển sách này của ông.

Người đẹp Sài Gòn
Người đẹp Sài Gòn
Một điểm chiếu phim thoát y ở Chợ Lớn (1955)
Một điểm chiếu phim thoát y ở Chợ Lớn (1955)
Đằng trước nhà hát lớn Sài Gòn
Đằng trước nhà hát lớn Sài Gòn (1955)
Lăng Ông (Bà Chiểu) 1955
Làm phước ở đền và mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt hay còn được gọi là Lăng Ông (Bà Chiểu) vì nằm ở khu vực chợ Bà Chiểu (1955)
Lăng Ông (Bà Chiểu) 1955
Đền và mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt hay còn được gọi là Lăng Ông (Bà Chiểu) vì nằm ở khu vực chợ Bà Chiểu (1955)
Quán hàng trà ở Chợ Lớn
Quán hàng trà ở Chợ Lớn (1955)
Đi dạo ở Vườn Bách Thảo
Đi dạo ở vườn Bách Thảo Sài Gòn (1955) – Năm 1956 vườn Bách Thảo được tu sửa, tái thiết và đổi tên là Thảo Cầm Viên Sài Gòn
Người đàn bà bán thuốt lá trên vĩa hè
Người đàn bà bán thuốt lá trên vĩa hè (1955)
Người hút gió ở Sài Gòn (1955)
Cảnh người hút gió ở Sài Gòn (1955)