Sài Gòn - Page 3

Bộ Ảnh Hiếm Về Nhà Máy Sản Xuất Thuốc Phiện Đầu Tiên Tại Sài Gòn

713 views

Năm 1881, một nhà máy sản xuất thuốc phiện lớn đã được người Pháp cho xây dựng ở trung tâm Sài Gòn, vị trí nhà máy ngày nay thuộc khu phố 4 phường Bến Nghé, Q1, TP HCM.

Ít ai biết rằng thời Đông Dương toàn quyền thuộc pháp, mảnh đất Sài Gòn chúng ta từng có một nhà máy chế biến thuốc phiện rất lớn mà sau này thuốc phiện còn được biết tới với cái tên “nàng tiên nâu”, là nhựa được trích ra và chế biến từ quả của cây thuốc phiện (hay cây anh túc).

Nhà Máy Sản Xuất Thuốc Phiện Đầu Tiên Tại Sài Gòn
Vị trí của nhà máy chế biến thuốc phiện trên bản đồ Sài Gòn cách đây hơn 100 năm do người Pháp vẽ, theo đó quý vị nhìn trong hình sẽ thấy xí nghiệp sản xuất “Thuốc Phiện” này nằm ở số 74 Rue Paul Blanchy, nay là nhà hàng The Refinery số 74 đường Hai Bà Trưng, gần phía sau Nhà hát Thành phố.

Vào thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hầu hết các quốc gia Châu Á và Châu Âu chìm ngập trong làn khói thuốc phiện. Mặc dù biết tác hại của thứ chất gây nghiện này là rất khủng khiếp, song vì lợi nhuận mà chính quyền Pháp vẫn cho phép buôn bán và chế biến thuốc phiện ngay tại mảnh đất Sài Gòn.

Nhà Máy Sản Xuất Thuốc Phiện Đầu Tiên Tại Sài Gòn
Công xưởng chính, nơi diễn ra các công đoạn quan trọng nhất của việc chế biến thuốc phiện.

Vào những năm 1880, khi lần đầu tiên người Pháp xuất hiện tại Sài Gòn cho tới năm 1861, khi miền Nam nước ta còn nằm dưới quyền bảo hộ của Pháp. Thuốc phiện được sử dụng rất ít ở Sài Gòn, tuy nhiên theo làn sóng Hoa Kiều nhập cư, thuốc phiện dần lan rộng, được sử dụng nhiều hơn, lúc này, những nhà máy chế biến cũng dần xuất hiện ngay giữa trung tâm Sài Gòn.

Nhà Máy Sản Xuất Thuốc Phiện Đầu Tiên Tại Sài Gòn
Ở thời kì này, thuốc phiện được đóng vào từng hộp nhỏ bằng đồng với 5 loại trọng lượng khác nhau: 5g, 10g, 20g, 40g hay 100g tùy theo nhu cầu của người mua.

Trong tình cảnh đó, chính quyền thuộc địa Pháp đã quyết định cho phép buôn bán ma túy công khai nhằm thu một khoản thuế khổng lồ, lên tới hàng triệu đồng piastres (đơn vị tiền tệ khi đó ở Đông Dương).

Nhà Máy Sản Xuất Thuốc Phiện Đầu Tiên Tại Sài Gòn
Ngoài ra, các công trình trong khuôn viên nhà máy gồm có công xưởng, văn phòng quản lý, nhà kho, bốt bảo vệ, phòng đóng gói, phòng động cơ hơi nước, phòng thí nghiệm hóa học…,những tòa nhà chính vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay!

Nguyên liệu đầu vào của nhà máy này là thuốc phiện thô nhập từ Vân Nam (Trung Quốc) hoặc thuốc phiện Benares (từ Ấn Độ). Phương pháp sản xuất tại đây giống cách chế biến thuốc phiện của người Quảng Đông nhưng có thêm sự trợ giúp của dây chuyền Tây Âu nhằm tăng năng suất, theo đó, một mẻ thuốc phiện sẽ ra lò sau 3 ngày chế biến trong xưởng. Ở thời kì này, thuốc phiện được đóng vào từng hộp nhỏ bằng đồng với 5 loại trọng lượng khác nhau: 5g, 10g, 20g, 40g hay 100g tùy theo nhu cầu của người mua. Trên nắp các hộp thuốc đều có ghi chữ B (Benares) hoặc chữ Y (Vân Nam) tượng trưng cho nguồn gốc xuất xứ của thuốc.

Nhà Máy Sản Xuất Thuốc Phiện Đầu Tiên Tại Sài Gòn
Thời Pháp thuộc, việc sử dụng thuốc phiện rất phố biến trong dân cư người Hoa. Một bộ phận có điều kiện thường hút thuốc phiện ở nhà, trong khi giới bình dân hút tại các “động” nha phiến, có rất nhiều ở Sài Gòn và Chợ Lớn.

© Fb/ Sài Gòn xưa

200 năm xe đạp: những ký ức không bao giờ lãng quên

678 views

Đó là vật dụng một thời theo mẹ ra chợ, đưa cha đi làm, cùng con đến trường và cũng gắn với tình yêu qua “những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng”…
Nhưng có lẽ không mấy ai để ý một điều: chiếc xe đạp “chào đời” ngày nào? Cách đây 200 năm, nam tước người Đức Baron Karl von Drais ra mắt công chúng chiếc xe có biệt danh “ngựa gỗ” vào năm 1817 và đó cũng được xem là ngày xe đạp ra đời.
Chiếc xe đạp theo chân người Pháp vào Việt Nam từ thế kỷ 19, nhưng sức phổ biến của nó trong đời sống người dân Việt chỉ thật sự thể hiện sau đó vài thập niên. Có lúc nó đã có thời hoàng kim khi là phương tiện chính để đi lại của người dân đô thị.

Xe đạp ở Sài Gòn ngày xưa

Chú Nguyễn Cương Phú – năm nay 80 tuổi, từng là cư dân ở ngã ba Cây Thị, Xóm Gà, Gia Định – kể: Cuối thập niên 1940, xe đạp, lúc đó gọi là xe máy, tuy đã bán ra khá nhiều nhưng không phải ai cũng có thể có nó dễ dàng.
Nhiều nhà phải dành dụm thời gian dài mới sắm được và phải đi từng bước, mua xe cũ rồi tiến lên mua xe mới. Thời đó trừ một số ít người có xe hơi, ai nấy đi đâu thì cuốc bộ, đi xa thì dùng xe ngựa. Ai sắm được xe đạp thì rất sướng, chủ động đến nơi mình muốn, thênh thang trên đường lộ là cảm thấy vui và có chút hãnh diện.
Lúc đó còn là chú bé mới hơn mười tuổi, chú Phú mừng rơn khi bố dắt về chiếc xe đạp kiểu nam mua ở cửa hàng với giá gần 300 đồng bạc Đông Dương. Ngày nào bố không đi đâu, chú mượn chiếc xe ra tự tập.
Chân chưa đủ dài để ngồi trên yên hoặc trên khung đạp được một vòng bàn đạp, chú luồn chân phải qua dưới ống sườn ngang để chạm bàn đạp phải. Bọn trẻ cùng xóm đứng xem trầm trồ ngó chiếc xe mơ ước đó.

Xe đạp Sài Gòn xưa

Từ hàng ngoại nhập đến xe sườn ống nước

Xe đạp ở Sài Gòn kể từ thập niên 1940 trở đi không cần phải đăng ký, mang biển số, không phải kê khai lý lịch và cũng không phải mua bảo hiểm. Người ta chỉ cần một tờ giấy mua bán hoặc giấy mua bán viết tay, có chính quyền địa phương thị thực là đủ.
Giá cả thì rất phù hợp với túi tiền người dân. Có xe rồi, chỉ cần mua một ổ khóa nho nhỏ kèm sợi dây xích (gọi là khóa “ăn-ti-vôn” – đọc trại từ tiếng Pháp antivol – khóa chống trộm) khóa lại là xong. Thời đó hầu như không có trường hợp bẻ khóa ăn cắp xe, tất nhiên vẫn có người mất xe do lơ đễnh, quên khóa.
Đến thập niên 1950 là thời hoàng kim của xe đạp ở Sài Gòn. Số xe đạp được dùng ở thành phố này tăng lên ngày càng nhiều, thầy thợ đều có xe để đi làm các công tư sở.
Các trường trung học, trường nữ như Marie Curie, trường nam như Taberd, Chasseloup Laubat hầu như học sinh đều dùng xe đạp làm phương tiện di chuyển đến trường và về nhà.
Mức độ thông dụng của xe đạp gần như nó là đôi chân của con người. Một người từ tỉnh lên Sài Gòn chỉ cần đạp xe từ nhà ra bến xe đò, mua vé. Lơ xe đứng trên mui xe đón chiếc xe do khách tự đưa lên hoặc do người phụ lơ đưa lên mui.
Họ ràng buộc rất chắc chắn, khách vô ghế ngồi. Xe đến Sài Gòn, lơ xe cởi dây thả xe xuống, khách nhận xe đạp đến địa chỉ cần tìm. Chẳng phải đi bộ bước nào. Ai nấy đều thấy quá tiện lợi, thậm chí có xe gắn máy cũng không làm được như vậy vì nặng nề.
Người dân Sài Gòn từ thầy, thợ, học sinh, đàn ông, đàn bà… hầu như ai cũng biết “cỡi” xe đạp. Tùy hoàn cảnh và địa vị trong xã hội mà người ta sắm những chiếc xe đạp phù hợp. Việc di chuyển bằng xe thổ mộ (xe ngựa) giảm dần, để rồi sau đó hầu như chỉ dành cho tiểu thương vận chuyển hàng từ nhà quê, ngoại thành ra các chợ và trở về khi chợ tan.
Cùng với sự phát triển xe đạp, sau này xe xích lô trở thành phổ biến. Nhà nào dù giàu hay nghèo cũng phải có ít nhất một chiếc xe đạp, đặc biệt ở các nữ sinh trung học, hầu như cô nào cũng có một chiếc xe đạp nữ với kiểu dáng thanh thoát.
Để tà áo dài của các cô nữ sinh khi di chuyển không bị dính vô các cây căm (nan hoa) của xe, bánh sau xe đạp nữ có thêm hai mảnh lưới đan nhiều màu sắc rực rỡ, che phủ gần phân nửa bánh sau, khiến chiếc xe nhìn càng duyên dáng.
Các loại xe đạp thời bấy giờ: kiểu xe chắc chắn, loại phổ thông là xe nam với ghiđông (tay cầm) hình chữ U, hai tay nắm vểnh cao để người điều khiển không phải cong người khi đạp cho xe di chuyển.
Loại này yên to, có lò xo dưới yên, còn poọc-ba-ga (porte bagage) được làm bằng thanh sắt đặc rất cứng. Hai tay thắng cũng bằng thanh sắt đặc uốn lượn theo ghiđông, song song với cổ xe, xuống đến đầu thắng.
Xe tuy cổ kính, nặng nề nhưng rất chắc chắn, người Hoa thường dùng loại xe này chở hàng. Có người đồn rằng ống tuýp để hàn sườn xe được hàn bằng ống tuýp nước, vừa rẻ vừa cứng chắc.
Xe kiểu cách, thời trang thường được nhập từ Pháp như các hiệu Reynold, Royal Stella, Peugeot. Các loại xe mang thương hiệu này là cao cấp nhất.
Giới thượng lưu chơi xe, thích nhất là sườn xe được làm bằng chất liệu nhẹ, chuộng nhất ở hiệu Reynold, với giá cao. Trong giới đua xe đạp, sườn xe đạp đua được ưa chuộng chỉ có hai loại, nhất là tuýp Reynold, nhì là tuýp hiệu Tube.
Xe nữ thì thanh tuýp ngang của xe nam được hạ xuống, chéo từ cổ xe xuống gần bàn đạp của trục yên xe. Riêng xe Royal Stella và Peugeot thì thanh chéo này được làm bằng hai thanh tuýp song song, uốn lượn xuống gần trục bánh xe sau.
Các cửa hàng buôn bán xe và phụ tùng ở Sài Gòn nhái theo các kiểu cách xe nhập cảng, hàn khung xe… nhưng do kỹ thuật hàn chưa tốt và chất liệu ống tuýp thường dày hơn xe Pháp, nên trọng lượng xe thường nặng hơn xe nhập cảng cùng kiểu cách, có khi nặng hơn gấp rưỡi, lại dễ bị đứt mối hàn ở cổ xe, khiến người điều khiển bể mặt, gãy răng là chuyện thường, nhất là trong giới xe đua.
Nhưng sau một thời gian xe nội địa biết rút kinh nghiệm, sản xuất sườn xe có chất lượng tốt hơn, kịp thời theo được mẫu mã của xe nhập cảng, đẹp hơn lên dù giá cả chỉ bằng 50-70% giá xe nhập.
Nói chung, hồi đó tuy không có quy chuẩn cho một chiếc xe đạp hoàn chỉnh nhưng người ta cũng dựa vào thị hiếu và lượng nhu cầu tiêu thụ mà hình thành các quy chuẩn như: đường kính bánh xe nữ là 650, xe nam là 680 và xe đua là 700mm.

Xe đạp Sài Gòn xưa

Cơn sốt xe mini từ ca sĩ Thái Hiền

Có người kể rằng thời gian trước thập niên 1940, từ đường Nancy (nay là Nguyễn Văn Cừ) trở ra, hai bên đường Galliéni (Trần Hưng Đạo) có hai con đường nhỏ chạy song song, người ta cắm bảng hướng dẫn ghi bằng tiếng Tây “Piste réservée pour cyclistes” (đường dành riêng cho xe đạp).
Đi xe đạp khi ấy cũng phải đóng thuế, kể cả học sinh dù không có tiền. Mỗi xe nộp thuế ba đồng, cò Tây mới phát cho tấm plaque bằng nhôm chừng hai ngón tay để gắn vào xe. Buổi tối, xe đạp ra đường mà không có đèn hoặc không có plaque thuế thì xe bị chở về phú-de. Nhiều học sinh muốn trả đũa bèn gắn tấm plaque dưới đít yên xe.
Mỗi lần, mấy thầy phú-lít hỏi thẻ thuế, họ lấy tay chỉ xuống dưới đít, bắt buộc thầy chú, kể cả cò Tây, phải cúi xuống dưới đít họ nhìn mới thấy. Về sau Tây biết sự tình bèn ra lệnh gắn plaque thuế “ở chỗ dễ thấy nhất”, nếu không thì phạt.
Số lượng xe đạp bán ra thị trường lên đến đỉnh điểm có lẽ khoảng từ năm 1954 – 1960. Sau đó giảm dần vì đã có nhiều loại xe máy nhập về từ Vélo SoleX đến Mobilette, CNC, rồi motobécane và xe bốn bánh. Thời hoàng kim của xe đạp kết thúc, trở thành một phương tiện di chuyển phổ thông của giới bình dân và học sinh.
Đến cuối thập niên 1960 và những năm sau đó, ở Sài Gòn có lúc quay lại đi xe đạp nhiều hơn. Lúc đó xe buýt xanh, xe buýt vàng lỗ lã nên đã tạm ngưng, nhường chỗ cho xe lam một thời gian rồi xe buýt quay lại. Phải công nhận vai trò của xe buýt lợi hại.
Em gái của người viết lên 10 tuổi, học sớm một năm, đậu vào đệ thất (lớp 6) Trường Gia Long, từ Phú Nhuận đến trường ở đường Phan Thanh Giản chỉ đi xe buýt là tiện vì nhỏ quá, chưa dám đi xe đạp. Nhưng những người trưởng thành, nhất là giới sinh viên học sinh, trở lại với chiếc xe đạp khi giá xăng dầu giai đoạn sau năm 1972 bắt đầu lên cao.
Lần trở lại này xuất hiện loại xe đạp mini dành cho nữ giới hình dáng tương tự xe Cady (motobecane). Loại xe này sau đó trở nên rất phổ biến sau đoạn phim Tuổi thần tiên với giọng ca Thái Hiền, các diễn viên vừa đạp xe mini vừa hát.
Xe có kiểu dáng khác xe đạp thông thường với sườn xe cong cong, tay lái hình chữ U vút lên, bánh xe nhỏ. Xe đạp mini cùng người cưỡi là cô gái mặc quần ống loe, tóc dài là hình ảnh rất quen thuộc thời đó. Có xe nhập và xe Ý sản xuất sườn, vè trong… Chợ Lớn.
Báo chí lúc đó thấy xe đạp rộ lên quá, than là “xe đạp vẫn hoàn xe đạp” (Thời Nay ra ngày 14-9-1974). Ai nói mặc kệ, ở nhà người viết, hai bà chị còn tuổi đi học mê xe đạp mini quá, còng lưng sau giờ học ngồi đan mành cửa bằng ống hút xanh đỏ để có tiền mua xe đạp. Vậy mà cuối cùng cũng thửa được một chiếc xe màu xanh.
Xe đạp mini là cơn sốt của giới trẻ lúc đó, còn những người khác vẫn thích đi xe máy, đi đâu cũng nhanh, không phải mướt mồ hôi dưới trời nắng. Vả lại lúc đó cây xanh nhiều, đường phố vắng, chuyện hít khói xăng, hít không khí ô nhiễm vào phổi không thành vấn đề.
Nhưng đó vẫn không phải là thời hoàng kim tái lập của xe đạp, mà là sau năm 1975 giai đoạn kinh tế bao cấp và xăng dầu trở nên khan hiếm.
Lúc đó xe đạp lên ngôi vì không uống xăng, xe mới chủ yếu là sản xuất trong nước từ các cơ sở sản xuất tư nhân, nguyên liệu thì thượng vàng hạ cám, xe đang chạy bị gãy sườn là bình thường vì có khi lấy sắt thùng phuy ra chế sườn xe.
Chợ Tân Thành ở Q.5 trở thành nơi chuyên doanh phụ tùng sản xuất từ Chợ Lớn xài đỡ vì có còn hơn không. Dây sên được lộn tới lộn lui, vỏ xe đắp, ruột vá chằng chịt. Giai đoạn này kéo dài đến hết thập niên 1980, kéo qua đầu thập niên 1990 mới chấm dứt.
Với xu thế ngày càng xem trọng môi trường sống, giảm ô nhiễm khí thải, chú trọng vận động cơ thể, biết đâu sẽ có lúc thời hoàng kim của xe đạp ở Sài Gòn và các đô thị ở Việt Nam quay lại như đang diễn ra ở Amsterdam (Hà Lan), Washington, Seattle và New York bên Mỹ.

© bài viết của tác giả Đăng Thuyên đăng trên Tuổi Trẻ Xuân Đinh Dậu 2017

Ngô Viết Thụ, Nhà kiến trúc sư cha đẻ của Dinh Độc Lập ở Sài Gòn

1491 views

Ngô Viết Thụ không chỉ đơn giản là một kiến trúc sư thiết kế những công trình để lại dấu ấn sâu sắc mà ông còn là một họa sĩ, nhà điêu khắc,… Những công trình kiến trúc của ông là sự tổng hòa giữa nét đẹp Á Đông và nét cổ điển của kiến trúc phương Tây.

Ngô Viết Thụ (1926- 2000) là một kiến trúc sư nổi tiếng, những công trình của ông là sự kết hợp giữa triết lý Á Đông và phong cách kiến trúc cổ điển châu Âu.
Ông am hiểu sâu sắc về phong thủy, kín đáo vận dụng khéo léo hiểu biết trong mỗi tác phẩm kiến trúc của mình, chỉ ai có kiến thức trong lĩnh vực này mới nhận ra. Đối với ông vận dụng phong thuỷ trong kiến trúc là để chiêm nghiệm xem thực hư ra sao, vì nó là lĩnh vực không dễ dàng nói bằng lời.
Ngô Viết Thụ sinh ra ở Thừa Thiên Huế, ông có một tuổi thơ nhọc nhằn, túng thiếu, ở với ông ngoại và may mắn được ông kèm cặp chữ Hán. Năm 1948, học xong Trường Cao đẳng kỹ thuật Đà Lạt, được gia đình vợ giúp sang du học ở Pháp. Năm 1950, Ngô Viết Thụ thi đậu vào Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris. 5 năm sau ông bảo vệ đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư xuất sắc D.P.L.G, được hưởng suất học bổng ba năm nghiên cứu và sáng tác tại khu biệt thự Madicis của Viện Hàn lâm Pháp tại La Mã. Tại đây, ông đã dự thi thiết kế công trình Ngôi thánh đường trên Địa Trung Hải có sức chứa 40 ngàn tín đồ. Đồ án được lọt vào vòng trong, bao gồm 10 tác phẩm xuất sắc nhất. Vòng cuối, tác phẩm của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đoạt Giải thưởng Lớn Roma về kiến trúc (Premier Grand Prix de Roma).

Ngô Viết Thụ - Rome 1955
Bản thiết kế giúp ông dành được giải thưởng lớn khi còn học bên nước ngoài

Ông là thành viên Hội Kiến trúc Sư Pháp SADG (Société des Architectes Diplômés par le Gouvernement) từ 1955 và thành viên Kiến trúc sư Đoàn Việt Nam từ năm 1958. Năm 1962, ông là người châu Á đầu tiên trở thành Viện sĩ Danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (H.F. A.I.A.) đồng lúc với một số kiến trúc sư danh tiếng cùng thời như J.H. Van den Broek, Arne Jacobsen, Steen Eiler Rasmussen, Hector Mestre, Amancio Williams, Hernan Larrain-Errazuriz, Emilio Duhart H., Jerzy Hryniewiecki và John B. Parkin. Sau năm 1975, Ông là cố vấn Ban Chấp hành Hội Kiến trúc sư Việt Nam, và cũng là cố vấn Ban Chấp hành Hội Kiến trúc sư TP HCM các nhiệm kỳ I, II, III, và IV. Ông là thành viên tổ chuyên gia tư vấn kiến trúc cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thời gian đương nhiệm.

Ngô Viết Thụ - Bút Tích
Bút tích và chữ ký của KTS Ngô Viết Thụ

Năm 1960, KTS Ngô Viết Thụ về Sài Gòn làm việc theo lời mời của Tổng thống Ngô Đình Diệm ở tuổi 30. Về Việt Nam, con đường kiến trúc rộng mở đối với ông, nhiều công trình xây dựng của ông lưu dấu ấn đầy giá trị về kỹ thuật lẫn mỹ thuật.

Dinh Độc Lập – Công trình biểu tượng của Sài Gòn

Đây là công trình đầu tay của ông khi vừa tốt nghiệp ở phương Tây trở về, tuy nhiên, nhìn tổng thể, ông không cứng nhắc theo phong cách kiến trúc hiện đại phương Tây mà có sự kết hợp nhuần nhuyễn với kiến trúc Á Đông, đặc biệt là kiến trúc truyền thống Việt Nam. Kiến trúc Định dạng hình chữ T, là một trong bộ ba kết hợp thành tên của KTS- THU bao gồm Dinh Độc Lập- Chợ Đà Lạt- Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.

Dinh Độc Lập
Dinh Độc Lập – Mặt tiền
Dinh Độc Lập - Phía thân
Dinh Độc Lập – Phía thân chữ T

Khi thiết kế Dinh Ðộc Lập, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ muốn tìm một ý nghĩa văn hóa cho công trình, nên mọi sự xếp đặt từ bên trong nội thất cho đến tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho triết lý cổ truyền, nghi lễ Phương đông và cá tính của dân tộc. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật kiến trúc hiện đại với kiến trúc truyền thống Phương Ðông. Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ CÁT ( 吉 ) có nghĩa là tốt lành, may mắn; Tâm của Dinh là vị trí phòng Trình quốc thư; Lầu thượng là Tứ phương vô sự lầu hình chữ KHẨU ( 口 ) để đề cao giáo dục và tự do ngôn luận. Hình chữ KHẨU ( 口 ) có cột cờ chính giữa sổ dọc tạo thành hình chữ TRUNG ( 中 ) như nhắc nhở muốn có dân chủ thì phải trung kiên. Nét gạch ngang được tạo bởi mái hiên lầu tứ phương, bao lơn danh dự và mái hiên lối vào tiền sảnh tạo thành hình chữ TAM ( 三 ), theo quan niệm dân chủ hữu tam viết nhân, viết minh, viết võ, ý mong muốn một đất nước hưng thịnh thì phải có những con người hội đủ 3 yếu tố Nhân, Minh, Võ. Ba nét gạch ngang này được nối liền nét sổ dọc tạo thành hình chữ VƯƠNG ( 王 ), trên có kỳ đài làm thành nét chấm tạo thành hình chữ CHỦ ( 主 ) tượng trưng cho chủ quyền đất nước. Mặt trước của dinh thự, toàn bộ bao lơn lầu 2 và lầu 3 kết hợp với mái hiên lối vào chính cùng 2 cột bọc gỗ phía dưới mái hiên tạo thành hình chữ HƯNG ( 興 ) ý cầu chúc cho nước nhà được hưng thịnh mãi.

Hinh The Dinh Độc Lập
Dinh Độc Lập - Bức rèm hoa đá đặc sắc
Dinh Độc Lập – Bên trong với bức rèm hoa đá đặc sắc

Những Ngày Cuối Cùng Ở Việt Nam (Last Days in Vietnam)

1441 views

Bộ phim “Last days in Vietnam” (Những ngày cuối ở Việt Nam) về đề tài Chiến tranh Việt Nam cùng 14 phim tài liệu khác đã lọt vào danh sách 15 phim tài liệu được cân nhắc cho hạng mục “Phim tài liệu xuất sắc” do Oscar công bố ngày 12.02.2011.
“Last days in Vietnam” là câu chuyện bên lề về cuộc chiến thống nhất Việt Nam, xoay quanh bối cảnh Sài Gòn những ngày cuối tháng 4.1975. Giữa lúc quân đội miền Nam Việt Nam đang suy yếu, trong khi quân đội miền Bắc Việt Nam đang tiến sát Sài Gòn.
Giữa tình thế ấy, một số nhà ngoại giao và sĩ quan Mỹ còn sót lại đã phải đưa ra một quyết định vô cùng khó khăn: hoặc tuân thủ lệnh từ Nhà Trắng chỉ di tản công dân Mỹ, hoặc chống lại lệnh cấp trên, liều mình ở lại để giúp các công dân Việt Nam.
Đạo diễn của bộ phim, bà Rory Kennedy là một nhà làm phim tài liệu nổi tiếng với nhiều tác phẩm trước đó. Bà là con gái của Thượng nghị sĩ Robert Fitzgerald Kennedy và là cháu của cố Tổng thống John F. Kennedy.
Nữ đạo diễn đã sử dụng nhiều hình ảnh và tài liệu quý giá về Sài Gòn tháng 4.1975 để đưa vào “Last days in Vietnam” bên cạnh hồi ức của một số người Mỹ có mặt tại Việt Nam trước sự kiện nêu trên.
“Last days in Vietnam” được giới chuyên môn đánh giá rất cao cũng như nhận được nhiều lời khen từ khán giả. Bộ phim được số điểm 7.9/10 trên trang IMDB và 96/100 trên trang Rotten Tomatoes.

Loạt ảnh khó quên về Sài Gòn 1965 của Gary Mathews (Phần 1)

597 views

Chúng ta hảy cùng khám phá loạt hình ảnh quý hiếm và khó quên về Sài Gòn vào năm 1965 do cựu binh Mỹ Gary Mathews thực hiện để nhận thấy vẽ  đẹp của Sài Gòn thời bấy giờ:

Gary Mathews - Saigon - Chợ Bà Chiểu 0
Khu vực chợ Bà Chiểu
Gary Mathews - Saigon - Chợ Bà Chiểu 1
Chợ Bà Chiểu, ngôi chợ nổi tiếng của Sài Gòn
Gary Mathews - Saigon - Chùa Phước Viên
Chùa Phước Viên ở Ngã tư Hàng Xanh
Gary Mathews - Saigon - Dinh Độc Lập 1965
Có rất ít sự khác biệt giữa hình ảnh của Dinh Độc Lập năm 1965 và ngày nay
Gary Mathews - Saigon - Đường Hai Bà Trưng
Xe bò kéo trên đường Hai Bà Trưng
Gary Mathews - Saigon - Lăng Ông Bà Chiểu
Lăng Ông Bà Chiểu khi đó chưa có rào cao bao quanh như bây giờ
Gary Mathews - Saigon - Ngã 3 Nguyễn Văn Thinh
Khung cảnh ở khu vực ngã 3 Nguyễn Văn Thinh – Phan Văn Đạt
Gary Mathews - Saigon - Ngã ba Nguyễn Văn Thinh - Phan Văn Đạt
Ngã ba Nguyễn Văn Thinh – Phan Văn Đạt
Gary Mathews - Saigon - Nữ sinh trường nữ học Lê Văn Duyệt
Nữ sinh trường nữ học Lê Văn Duyệt đi qua di tích thành Gia Định ở góc đường Lê Văn Duyệt – Chi Lăng
Gary Mathews - Saigon - Quảng trường Lam Sơn
Quảng trường Lam Sơn và nhà hát lớn, vào thời điểm năm 1965 được gọi là Nhà văn hóa
Gary Mathews - Saigon - Sở Công ty Điện lực
Đường Hai Bà Trưng phía trước trụ sở Công ty Điện lực
Gary Mathews - Saigon - Tòa Đô chính
Tòa Đô chính (UBND Thành phố HCM ngày nay) với tấm bảng yêu cầu “bỏ giấy vụn vào giỏ này” ở bãi cỏ phía trước
Gary Mathews - Saigon - Trụ sở Bộ tư lệnh Hải quân
Trụ sở Bộ tư lệnh Hải quân của chính quyền Sài Gòn

Vài hình ảnh độc bên trong đài truyền hình Sài Gòn trước 1975

1490 views

Đài Vô tuyến Việt Nam (viết tắt là VTVN) tức Radio Vietnam hay còn được gọi là Đài phát thanh Sài Gòn và Đài Phát thanh Quốc gia là tên của hệ thống radio của Việt Nam Cộng hòa tồn tại trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Hệ thống này còn có tên tiếng Pháp là Le Radio-diffusion National du Vietnam. Thời Đệ nhất Cộng hòa thì gọi là đài Tiếng nói nước Việt Nam Cộng hòa…

Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975 - Đạo diễn Lê Hoàng Hoa
Đạo diễn Lê Hoàng Hoa – giám đốc chương trình kiêm quản lý sản xuất của đài truyền hình VNCH – cùng người thư ký tại bàn làm việc của mình
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975 - Hoàng Thị Lệ Hợp,
oàng Thị Lệ Hợp, một trong những phát thanh viên hàng đầu của truyền hình Sài Gòn xem lại bản tin trước buổi ghi hình
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Trưởng ban hình ảnh, người viết bản tin và thư ký thực hiện các công việc theo sự phân công trong phòng tin tức
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Hai nữ dẫn chương trình sẵn sàng cho buổi ghi hình chương trình thời sự hàng ngày tại phim trường trong lúc một người quay phim kiểm tra lại thiết bị lần cuối
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Cố vấn người Mỹ hướng dẫn kỹ thuật viên trong trường quay chính
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Một kỹ sư kiểm tra máy ghi băng Amplex khi buổi ghi hình cho bản tin hàng đêm sắp kết thúc
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Ông Robert C. Gassert, cố vấn truyền hình Mỹ giám sát kỹ thuật viên Việt Nam khi vận hành máy ghi băng Ampex
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
ột kỹ thuật viên xử lý phim 35mm Houston Peerless trong phòng tối để chuẩn bị cho công đoạn biên tập
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Chuyên gia sản xuất chương trình truyền hình người Mỹ Wyndham P. Duncan điều chỉnh chiếc microphone trên cao trong lúc hai diễn viên người Việt mặc đồ cổ trang ngồi trước phông cảnh, trước khi buổi ghi hình bắt đầu
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Biên tập viên âm thanh, đạo diễn hình ảnh và người phụ trách thông tin đang xử lý một bản tin cho buổi phát sắp tới
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Người nữ thủ trong thư viện chứa hàng nghìn phim tư liệu đủ mọi thể loại
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Người nữ thủ trong thư viện chứa hàng nghìn phim tư liệu đủ mọi thể loại
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Ông Hoàng Thái – người phụ trách trường quay – kiểm tra một máy ghi băng Ampex 1100 trước buổi ghi hình của các bản tin sắp tới
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Dân Sài Gòn xem truyền hình công cộng tại một chiếc ti-vi nhỏ ở Bến Bạch Đằng

Lý giải tên gọi “Hòn ngọc Viễn Đông” của Sài Gòn xưa

925 views

Trước tiên thử xét đến cụm từ “Hòn ngọc Viễn Đông”. Trong quyển sách France in Indochina: Colonial Encounters (Nước Pháp ở Đông Dương: các cuộc đụng đầu thuộc địa), xuất bản năm 2001, tiến sĩ Nikki Cooper, Đại học Bristol, giải thích quá trình Pháp chiếm Đông Dương làm thuộc địa như sau:
Quá trình thực dân hóa nhiều vùng lãnh thổ khác nhau mà sau này tạo nên xứ Đông Dương thuộc Pháp diễn ra trong nhiều năm. Người Pháp trước tiên chinh phục ở phần đất phía nam tại Nam kỳ trong thập niên 1860. Suốt 30 năm tiếp theo, nước Pháp đã vững vàng tiến lên phía bắc, chiếm thêm Trung kỳ, Bắc kỳ và cả Campuchia lẫn Lào. Các vùng đất này đã được chính thức gộp chung lại dưới tên gọi “Đông Dương thuộc Pháp” vào năm 1885.
Mong muốn tạo lập một đế chế thuộc Pháp tại Đông Nam châu Á ấy, đã phần nào tạo động lực ganh đua với đế quốc Anh. Đông Dương thuộc Pháp được dự kiến sẽ cạnh tranh với Ấn Độ thuộc Anh. Pháp tạo ra “Hòn ngọc Viễn Đông” để đối ứng với Ấn Độ mà Anh “tấn phong” là “viên châu báu trên vương miện”.
Như vậy cụm từ “Hòn ngọc Viễn Đông” đầu tiên sử dụng cho toàn cõi vùng đất Đông Dương, sau này không ít người ghép nó với danh xưng Sài Gòn là vùng đất đầu tiên người Pháp chiếm được ở Đông Dương giữa thế kỷ 19.
Danh xưng có lẽ muốn vừa nói đến thực chất tươi đẹp và thịnh vượng của Sài Gòn, cũng vừa mang tính chất tượng trưng lẫn định hướng phát triển.
Ý đồ ban đầu của thực dân Pháp là đầu tư mạnh mẽ vào Sài Gòn, có quy hoạch xây dựng phù hợp để thành phố này trở thành thủ phủ của Đông Dương; nhưng thật sự là không có căn cứ nào để nói Sài Gòn từng là thành phố được đánh giá số 1 của cả khu vực Đông Nam Á vào thời điểm đó.

Logo Huy Hiệu Saigon
Huy hiệu của Sài Gòn từ năm 1870, thời Pháp thuộc

Bừng sáng giữa vùng rừng ngập nhiệt đới

Xưng tụng Sài Gòn là “Hòn ngọc Viễn Đông” còn mang nhiều yếu tố tâm lý của khách lữ hành phương Tây.
Anh bạn kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn có lối lý giải khá độc đáo: “Sau chuyến hải hành kéo dài cả tháng trời, từ hải cảng Marseille miền nam nước Pháp qua Địa Trung Hải, xuyên kênh đào Suez vượt Ấn Độ Dương sóng to gió lớn, lách qua eo biển Malacca vào vịnh Ghềnh Rái, không khó để suy ra tâm trạng mệt nhọc, buồn chán của khách lữ hành, cả tháng ròng chỉ thấy trời và nước.
Cung cuối chặng đường khi trạng thái rã rời đã lên đến đỉnh điểm, chuyến hải trình theo sông Lòng Tàu xuyên qua rừng đước Cần Giờ, một thứ rừng ngập mặn nhiệt đới mà nhiều người châu Âu chưa gặp bao giờ, cảm giác xa lạ tưởng như càng đi càng xa thế giới văn minh phương Tây quen thuộc.
Trong tâm trạng cùng cực của cô đơn ấy, bỗng một chiều bừng sáng một thành phố mang nét phương Tây ngay khi tàu cập cảng Sài Gòn.
Ngủ khách sạn Continental, khách sạn Majestic, ăn thịt bò beefsteak, uống rượu chát vùng Bordeaux, thưởng thức xì gà La Habana, săn bò rừng, lấy da cọp, hút thuốc phiện và chơi gái xuân thì, với thủy thủ tàu viễn dương và đám thực dân đến từ Viễn Tây, Sài Gòn được ngợi ca là “Hòn ngọc Viễn Đông” đâu có gì lạ…

Như vùng đất hứa

Huy hiệu Sài Gòn đã nói lên ý hướng phát triển của thành phố thời thuộc địa Pháp. Huy hiệu (logo) đó khắc hình con cọp và cây cảnh Sài Gòn, dưới ghi câu tiếng Latin “Paulatim Crescam” (“Từ từ tôi sẽ phát triển lên”) do Hội đồng thành phố Sài Gòn duyệt năm 1870, làm phù điêu treo ở phòng khánh tiết Dinh xã Tây (Tòa thị chính Sài Gòn) vào năm sau đó. Từ ấy, Sài Gòn không chỉ phát triển từ từ, mà còn phát triển vượt bậc vào hàng nhất nhì trong số các thương cảng thuộc địa Pháp.
Thời gian này nước Pháp đang kinh qua đế chế Napoleon III với nhiều tham vọng thi đua cùng các cường quốc châu Âu khác như Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan, Bỉ… chiếm lĩnh thuộc địa.
Ý đồ này càng mạnh mẽ hơn với sự trỗi dậy của tầng lớp tư sản công nghiệp thời cộng hòa khát khao các nguồn nguyên liệu, thị trường các năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
Một khi đã chiếm lĩnh toàn bộ Đông Dương, người Pháp xây dựng Sài Gòn thành thủ phủ phía Nam, chủ yếu nhằm khai thác nguồn tài nguyên, nhân lực và thị trường rộng lớn một vùng đất gồm Đông Dương, Đông Nam Á và cả miền Hoa Nam của Trung Quốc. Sài Gòn đón nhận những con người năng động nhất đến từ khắp nơi, tìm cách làm giàu ở thương cảng lớn này.
Vết tích kiến trúc nhà cửa của họ hiển hiện khắp nơi: từ mạng lưới ngõ xóm của người Việt, nhà dãy dạng “shophouse” (nửa ở nửa buôn bán) của Hoa kiều Hong Kong, Singapore, Hoa Nam, phố “bazaar” (cửa hàng buôn và ở) của người Chà Chetty (Nam Ấn Độ), rồi người Java, Mã Lai, người Tagal (Philippines), phố Tây, đặc biệt là dạng villa vườn của người Pháp, người Bỉ, người Đức…
Sài Gòn từ thuở ban đầu đã được thể hiện như một khát vọng, một ý chí vươn lên của đế quốc Pháp.

Thế còn… vị thế của “Hòn Ngọc Viễn Đông” trong khu vực ?

Theo các hồ sơ lưu trữ cũng như các nghiên cứu kinh tế Châu Á suốt thế kỷ 20, GDP Việt Nam đều có vị trí rất thấp. Ví dụ, theo thống kê của hai giáo sư kinh tế học Jean-Pascal Bassino và Pierre van der Eng, từ 1913 đến 1970 kinh tế Việt Nam (cả miền bắc và miền nam) hầu như luôn thấp hơn Malaya (tiền thân của Malaysia với Singapore là thủ đô kinh tế), Philippines, Thái Lan (không có số liệu trước 1950).
Tùy thời điểm, GDP Malaya thường gấp đôi đến gấp 3 lần Việt Nam, thì lẽ nào thủ phủ kinh tế của nó chỉ là một làng chài nhỏ và mơ được như Sài Gòn!
Không phải cách đây 50 năm, mà là gần 90 năm (1922), một học giả Việt Nam nổi tiếng là ngài Phạm Quỳnh đã viết trong quyển “Pháp du hành nhật ký” về Singapore thế này:
Mặt trời mới mọc, trông vào bến Singapore, không cảnh gì đẹp bằng, như một bức tranh sơn thủy vậy. Lần này mới được trông thấy một nơi hải cảng là lần thứ nhất, thật là một cái cảnh tượng to tát. Cửa Hải Phòng, cửa Sài Gòn của ta kể cũng khá to, nhưng sánh với cửa Singapore này còn kém xa nhiều. Bến liền nhau với bể, chạy dài đến mấy nghìn thước, tàu đỗ không biết cơ man nào mà kể, tàu của khắp các nước đi tự Á Đông sang Ấn Độ và Âu Tây đều phải qua đấy…
Vào đến trong phố thời nghiễm nhiên là một nơi đô hội của người Tàu, chẳng kém gì thành phố Chợ Lớn. Phố xá đông đúc, san sát những hiệu Khách cả, có mấy dãy phố toàn những nhà tửu lâu khách sạn, ngày đêm tấp nập những khách ăn chơi, người đi lại…
Singapore có thể chia ra hai phần: một phần là phố Khách, một phần là phố Tây; phố Tây cũng sầm uất bằng phố Khách mà lại có cái vẻ nguy nga hơn. Phố Tây ở Singapore này có khác phố Tây ở các nơi khác, nhất là khác các phố Tây của người Pháp ở, như trong các thành phố ta; người Pháp ở đâu thì những nhà lầu to lớn phần nhiều là các dinh thự công sở của Nhà nước; người Anh ở đâu thì những nhà lầu to lớn là các cửa hàng, các hội buôn, các công ty, các ngân hàng. Những hàng buôn của người Anh ở Singapore thật là những lâu đài vĩ đại, có khi chiếm từng dãy phố dài. Ngoài các phố phường buôn bán, đến những nơi nhà ở riêng, làm theo lối “biệt thự” (villas) của người Anh, nhà xây ở chỗ đất cao, chung quanh vườn rộng, xe hơi chạy lùng khắp được. Những nhà ấy phần nhiều của người Anh, nhưng cũng có nhà của các chủ hiệu Khách lớn; ban ngày xuống phố làm việc, chiều tối về nhà riêng nghỉ. Xe hơi ở Singapore, thật không biết cơ man nào mà kể, nào xe riêng, nào xe thuê, cả ngày chạy như mắc cửi. Vào đến Sài Gòn, thấy xe hơi chạy đường Catinat đã lấy làm nhiều, nhưng xe hơi ở Singapore lại còn nhiều hơn nữa, và ở Singapore đường phố nào cũng như đường Catinat hết thảy.
Và rất may, chúng ta vẫn còn lời văn của một học giả khác, nổi tiếng hơn cả Phạm Quỳnh, đã mô tả Bangkok vào giữa thế chiến thứ 2. Ngài Trần Trọng Kim viết trong hồi ký “Một cơn gió bụi” của mình như sau:
Thành Băng Cốc, xưa kia thường gọi là thành Vọng-Các là kinh đô của nước Xiêm, một thành thị rất lớn, có thể lớn gấp năm gấp bảy lần Hà Nội, dân cư rất trù mật có đủ các thứ người, nhưng phần nhiều là người Tàu ở lâu đã nhập tịch nước Xiêm. Hạng người ấy rất hoạt động về đường kinh tế và chính trị. Trừ khu nhà vua, các cung điện làm theo lối cổ, nhà một tầng, mái dốc, nóc nhọn, có các kiểu trang sức đặc biệt của Xiêm. Còn phố xá ở ngoài thành nhà vua trông giống như thành Quảng Châu hay thành Thượng Hải bên Tàu.”
Những số liệu cũng như trích dẫn ở trên chứng tỏ rằng Sài Gòn chưa bao giờ là số một ở Đông Nam Á và danh xưng “hòn ngọc Viễn Đông” vô thực chất của nó hiện nay chủ yếu chỉ để quảng cáo du lịch.

@ Tổng hợp

Vài hình ảnh hiếm của đường Catinat thời Pháp thuộc

653 views

Bức ảnh được chụp cuối thế kỷ 19 này ghi lại đoạn đầu đường Catinat. Vị trí ngôi nhà bên trái có người đàn ông đứng tựa cửa, cũng là số 1 đường Catinat, sau này sẽ là khách sạn Majestic.

Để cảm nhận lại hơi thở Sài Gòn xưa trên Rue Catinat, ta có thể đi từ đầu đường, phía bờ sông Sài Gòn, đến phía cuối đường có dốc lên thoai thoải đến Nhà thờ Đức Bà (xưa kia vị trí này là trung tâm của thành Phiên An, tức thành Quy, thời vua Gia Long).

Đường Catinat

Trong một bức ảnh của nhiếp ảnh gia Ludovic Crespin (có cửa tiệm “Photo Studio” ở số 136 đường Catinat) được cho là chụp vào khoảng cuối thập niên 1910 và đầu 1920, phía trái hình là hai tiệm đổi tiền của ba người Ấn (mà người Pháp gọi là “malabar”), số 1 đường Catinat của ông Mougamadou Abdoullah (1909), ông Mougamadou Oussaine (1910) và số 1bis của ông Mougamade Abdoullah (3) (theo niên giám Đông Dương 1909, 1910)

Majestic Hotel

Trong một bức ảnh được chụp sau đó, vị trí bên trái đầu đường Catinat là khách sạn “Hôtel d’Annam” (Nam Việt khách lầu) của ông Huỳnh Huệ Ký

Đường Catinat - Café de la Rotonde

Ở phía đối diện là quán Cafe de la Rotonde nằm ở địa chỉ số 2 Catinat. Bên phải bức ảnh là đường Quai de Belgique (đường Tôn Đức Thắng ngày nay) với hai hàng cây ở một bên hè. Bức ảnh được chụp vào năm 1901, lúc này Sài Gòn vẫn dùng loại đèn thắp dầu để chiếu sáng.

Đường Catinat

Ngôi nhà số 1 Catinat sau đó bị phá bỏ để xây dựng khách sạn Majestic

Majestic Hotel

Khách sạn Majestic được xây dựng bởi công ty thuộc quyền sở hữu của thương gia người Việt gốc Hoa giàu có bậc nhất miền Nam Việt Nam thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (hay còn gọi là Chú Hỏa). Khách sạn Majestic thuở ban đầu có 3 tầng lầu, 44 phòng ngủ do một kiến trúc sư người Pháp thiết kế.

Đường Catinat

Một chiếc xe kéo đoạn đầu đường Catinat. Theo nhiều tài liệu thì xe kéo xuất hiện đầu tiên tại Hà Nội vào năm 1883 do Toàn quyền Bonnal cho đem từ Nhật qua. Gần 15 năm sau Sài Gòn mới biết tới loại xe kéo này (trước đó đây phương tiện di chuyển duy nhất ở đây là xe ngựa)

Đường Catinat

Tòa nhà ngay góc ngã tư Catinat – Vannier (Ngô Đức Kế ngày nay). Đây cũng là ngã tư đầu tiên của đường Catinat

Đường Catinat - Le Grand Hotel

Ngày 24.10.1930, ông Henry Edouard Charigny de Lachevrotière – Tổng biên tập của một tờ báo Pháp có được giấy phép chính thức mở Grand Hotel Saigon. Khi đó nó chỉ là một cửa hàng nước giải khát nhỏ nằm ở góc đường Catinat và Vannier (Ngô Đức Kế)

Đường Catinat - Saigon Palace

Năm 1937 Grand Hotel đổi tên thành Saigon Palace

Đường Catinat - Café de la Terrasse

Nằm ở số 130 Catinat là quán cà phê kiêm khách sạn Café de la Terrasse, bên cạnh quảng trường Francis Garnier (quảng trường Nhà hát Lớn, tức Nhà hát Thành phố ngày nay). Cạnh khách sạn và quán Café de la Terrace nổi tiếng, ở số 128 Catinat là tiệm tạp hóa của bà Wirth. Ngoài bán hàng, bà Wirth còn sản xuất và thương mại hóa các ảnh “cartes postales” từ cuối thế kỷ 19 với các ảnh xưa ở Sài Gòn, quý hiếm trong giai đoạn đó cho đến đầu thế kỷ 20.

Đường Catinat - Patisserie

Cạnh ngôi nhà đầu đường, ở số 157bis Catinat là một tiệm bánh ngọt (patisserie) của ông Marius Rousseng

Đường Catinat - Tramway

Năm 1923 Sài Gòn khai thác tuyến xe điện đầu tiên (trước đó, từ năm 1881, người Sài Gòn đã gọi các tramways là tàu điện dù thực chất đó là tàu hỏa chạy bằng dầu và than). Café de la Terrase trong bức ảnh này đã đổi thành L’information d’Extreme-Orient

Đường Catinat - Aspirine Usines du Rhone

Sài Gòn những năm 1950s. Lúc này, L’information d’Extreme-Orient (vị trí cũ của Café de la Terrase) đã đổi thành tên thương hiệu thuốc Aspirine – Usines du Rhône

Nhịp sống trên đường Catinat thời Pháp thuộc

714 views

Sinh hoạt của đường Catinat vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX được tác giả Nguyễn Liên Phong miêu tả sinh động trong Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca xuất bản tại Sài Gòn năm 1906:

Nhứt là đường Ca-ti-na,
Hai bên lầu các, phố nhà phân minh
Bực thềm lót đá sạch tinh
Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều
Máy may mấy chỗ quá nhiều,
Các tiệm tủ ghế dập dều (sic) phô trương
Đồ sành, đồ cẩn, đồ đương
Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi
… Nhà in, nhà thuộc, nhà chà,
Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son (xoong) ~
… Phong lưu cách điệu ai bằng
Đường đi trơn láng, đền giăng sáng lòa
Thứ năm, thứ bảy, thứ ba
Với đêm chúa nhựt hát nhà hát Tây…

Vào thời kỳ này, đường Catinat là bộ mặt sinh hoạt của cả Sài Gòn, thành phố thuộc địa đầu tiên ở vùng Viễn Đông với sự hiện diện của khoảng 3.000 người Pháp, hơn 3/4 trong số này là sĩ quan và viên chức. Lính Pháp ở trong các bungalow (loại nhà gỗ có hiên rộng) nằm khuất trong những vườn cây xanh. Để tiết kiệm chi phí và tìm sự đông vui hai, ba anh chung nhau tiền mướn một chỗ ở, có sự giúp việc của một anh bồi (boy) bản xứ, đi chợ, giặt giũ, nấu ăn… Sinh hoạt dân sự trên đường Catinat cũng được những người Pháp đương thời miêu tả đúng như Nguyễn Liên Phong. Hai bên đường, các thợ may, thợ đóng giầy người Hoa hoạt động khá đông, sau đó đến các cửa hiệu tạp hóa, nơi du khách có thể tìm thấy thức ăn khô, mũ nón hay yên cương… Từ ngày 24-2-1897, đoạn đường Catinat từ phía sau nhà thờ Đức Bà đến tháp nước (nay là Hồ Con Rùa) mang một tên mới là đường Blancsubé. Về sau nữa, khi thành phố được mở rộng hơn, con đường được tiếp tục nối dài đến đường Mayer (sau là Hiền Vương, nay là Võ Thị Sáu) và khúc cuối này có tên là đường Garcerie.

Đường Catinat

Tiêu biểu cho sinh hoạt trên đường Catinat vào thời kỳ đầu Pháp thuộc là nhiều cơ sở dịch vụ thương mại được thành lập từ rất sớm. Sớm nhất có thể không đâu hơn Hãng Denis Frère mọc lên ở đầu đường, phía bờ sông, nay là khu vực của Grand Hotel, đối diện với Nhà hàng Majestic phía bên kia đường. Sau Denis Frère là hiệu thuốc Tây đầu tiên của cả Sài Gòn nằm ở góc Catinat và Bonard (Lê Lợi), khai trương năm 1865, chủ nhân là Lourdeau, sau làm Xã trưởng Sài Gòn (1870). Ít lâu sau, hiệu thuốc được giao lại cho Holbé, tiến sĩ dược khoa, một nhân vật khá nổi tiếng của đất Sài Gòn xưa, từng làm Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Sài Gòn, Phó Chủ tịch Hội đồng quản hạt Nam kỳ (Conseil colonial de la Cochinchine). Holbé từng điều chế ra một loai biệt dược có tên “Gouttes Holbé” dành cho những tay nghiện á phiện cai nghiện. Về sau, nhà thuốc Tây về tay Renoux, rồi Solirène và mang tên vị chủ nhân này trong một thời gian dài, trước khi bị thay thế bởi nhà hàng Givral còn hoạt động đến ngày nay.

Vài dòng về tiểu sử và tác phẩm của Nhạc Sĩ Hoàng Quý

418 views

Hoàng Quý sinh ngày 31.10.1920 tại Hải Phòng, là anh trai của Hoàng Phú, tức nhạc sĩ Tô Vũ. Theo Phạm Duy, Hoàng Quý từng là học trò của Lê Thương tại trường Trung học Lê Lợi ở Hải Phòng vào cuối thập niên 1930. Hoàng Quý theo học nữ giáo sư âm nhạc Leperète dạy nhạc ở các trường trung học ở Hải Phòng. Nhờ có năng khiếu và ham học, Hoàng Quý tiếp thu âm nhạc khá tốt, chỉ một thời gian sau trở thành giáo viên dạy nhạc của trường Bonnal.
Và vào năm 1939, đúng lúc phong trào Nhạc cải cách vừa ra đời, cùng với các ca nhạc sĩ tài tử ở đất Cảng lúc đó là Phạm Ngữ,Canh Thân và em trai Hoàng Phú, Hoàng Quý là người đầu tiên trình diễn nhạc Lê Thương tại Nhà hát Lớn Hải Phòng.
Suốt trong một thời gian từ năm 1943 cho tới 1945, Hoàng Quý đã quy tụ được một số bạn bè như Phạm Ngữ, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, và Hoàng Phú lập thành nhóm Đồng Vọng cùng nhau sáng tác. Nhóm Đồng Vọng được nhà xuất bản Lửa Hồng rồi tạp chí Tri Tân ở Hà Nội giúp đỡ. Lửa Hồng đã ấn hành 12 tập nhạc, mỗi tập có từ 8 đến 12 bài như các tập: Bên sông Bạch Đằng, Nước non Lam Sơn, Tiếng chim gọi đàn, Bóng cờ lau, Nắng tươi, Chiều quê của Hoàng Quý, Về đồng quê của Văn Cao, Ngày xưa của Hoàng Phú… Tổng cộng Đồng Vọng đã sáng tác và ấn hành khoảng trên 60 ca khúc chủ yếu theo xu hướng nhạc hùng có nội dung ca ngợi đất nước, ca ngợi truyền thống anh hùng của dân tộc. Riêng về phần Hoàng Quý, đã soạn ra những bài ca giá tri như Trên sông Bạch Đằng, Gọi bạn lên đường, Tiếng chim gọi đàn, Bóng cờ lau, Nước non Lam Sơn, Lời vọng ngàn xưa, Dưới bóng thông xanh, Chiều xuân, Nắng tươi
Trước khi trở thành người soạn nhạc tiền đạo của xu hướng nhạc hùng, Hoàng Quý cũng đã đi vào lãnh vực nhạc tình, với những bài nhạc tình yêu như Tú Uyên, hay những bài nhạc tình quê như Chiều quê, Đêm trăng trên vịnh Hạ Long, Chùa Hương… mà nổi tiếng hơn cả là ca khúc bất hủ Cô láng giềng.
Cô láng giềng ra đời khoảng năm 1942-1943. Lúc đó Hoàng Quý rời Hải Phòng lên Sơn Tây để đến làm thư ký cho một trang trại nuôi bò. Chuyến ra đi đó anh đã phải chia tay với “bóng hồng” của mình. Khoảng 6 tháng sau, anh không làm việc ở Sơn Tây nữa và trước khi trở về Hải Phòng anh ghé thăm người em Hoàng Phú đang ở tại Hà Nội. Chính trong dịp này nhạc sĩ Hoàng Quý đã cho người em mình xem bài hát Cô láng giềng của ông.

Hôm nay trời xuân bao tươi thắm
Dừng gót phiêu linh về thăm nhà
Chân bước trên đường đầy hoa đào rơi
Tôi đã hình dung nét ai đang cười
Tôi mơ trời xuân bao tươi thắm
Đôi mắt trong đen màu hạt huyền
Làn tóc mây chiều cùng gió ngàn dâng sóng
Xao xuyến nỗi niềm yêu…

Nhạc sĩ Tô Vũ kể lại: “Với Cô láng giềng, anh tôi chỉ sáng tác lời 1. Đó là những vần thơ đầy lạc quan, phấn khởi khi chia tay người yêu và hy vọng một ngày trở về gặp nhau trong vui mừng. Còn lời 2 là do tôi sáng tác thêm, đó là cảnh chàng trở về, ngày có một đám cưới làng quê tưng bừng rộn rã của chính người yêu, và chàng buồn tình lặng lẽ ra đi… Thật ra lời 2 này không phải là tâm tư của Hoàng Quý mà do tôi hư cấu và Hoàng Quý đã đồng ý, xem như là một tác phẩm nghệ thuật chứ không phải là sự miêu tả một mối tình có thật, vì thực tế Hoàng Quý không có một bi kịch về tình yêu như nội dung của lời 2

Trước ngõ vào thôn vang tiếng pháo
Chân bước phân vân lòng ngập ngừng
Tai lắng nghe tiếng người nói cười xôn xao
Tôi biết người ta đón em tưng bừng…
Đành lòng nay tôi bước chân ra đi
Giơ tay buồn hái bông hồng tường vi
Ghi chút tình em nói chờ đợi tôi
Đừng nói tới phân ly.
Cô láng giềng ơi
Nay mối duyên thơ đành đã lỡ rồi
Chân bước xa xa dần miền quê
Ai biết cho bao giờ tôi về.

Về Hoàng Quý, Phạm Duy đã nhận xét: “Đánh giá Hoàng Quý không nên chỉ thu hẹp vào những sáng tác của ông, bởi vì sự hoạt động cho nền nhạc hùng còn là một điều khiến chúng ta phải ghi nhớ và ghi ơn. Ông là linh hồn của đám nhạc sĩ trẻ ở Hải Phòng, thúc đẩy mọi người sáng tác và ông làm cho những sáng tác đó có một đời sống hẳn hoi, nghĩa là in ra, hát lên trong những sinh hoạt hướng đạo hay học sinh của ông“. Văn Cao cũng thường nhắc tới Lê Thương và Hoàng Quý là hai nhạc sĩ có ảnh hưởng tới con đường âm nhạc của anh.
Hoàng Quý tham gia Việt Minh sớm, trong cao trào kháng Nhật cứu nước, nhà Hoàng Quý là cơ sở của một số người Việt Minh hoạt động bí mật ở Kiến An, Hải Phòng. Tháng 5-1944 Hoàng Quý viết bài Cảm tử quân, Sa trường hành khúc và tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Tháng 10-1945, Tiếng gọi non sông ra đời, mặc dù lúc này sức khỏe đã giảm sút nhiều. Đầu năm 1946, bệnh tình của anh ngày một nặng, nhưng Hoàng Quý vẫn tham gia các cuộc biểu tình, mít tinh ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh, phản đối Việt Quốc, Việt Cách.
Hoàng Quý qua đời ngày 26 tháng 6, 1946 vì một chứng bệnh nan y tại Hải Phòng, lúc 26 tuổi, khi tài năng của anh đang độ phát triển.

Một số tác phẩm tiêu biểu:

– Bóng cờ lau
– Cảm tử quân
– Chiều quê
– Chiều xuân
– Chùa Hương
– Cô lái đò
– Cô láng giềng
– Đêm trăng trên vịnh Hạ Long
– Đêm trong rừng
– Đợi chờ
– Dưới bóng thông xanh
– Gọi bạn lên đường
– Hương quê
– Lời vọng ngàn xưa
– Nắng tươi
– Nước non Lam Sơn
– Tiếng chim gọi đàn
– Trên sông Bạch Đằng
– Tú Uyên
– Xuân về

Đường Catinat, con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn thời Pháp thuộc

1040 views

Trong số hàng trăm con đường của Sài Gòn, đường Catinat (xưa là đường Đồng Khởi) là một trong số rất ít những con đường kỳ cựu nhất. Nó hiện diện từ trước khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn và tầm quan trọng của nó trải dài từ thời Pháp thuộc cho đến bây giờ.

Trong quyển “Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca” (NXB. Đinh Thái Sơn, Sài Gòn, 1909), nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam thời Pháp thuộc Nguyễn Liên Phong đã mô tả đoạn đầu đường Catinat vào đầu thế kỷ 20 như sau:

Nhứt là đường Ca-ti-na,
Hai bên lầu các, phố nhà phân minh
..Máy may mấy chỗ quá nhiều,
Các tiệm tủ ghế dập dều phô trương
Đồ sành, đồ cẩn, đồ đương [đan]
Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi
..Nhà in, nhà thuộc, nhà chà,
Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son

Theo nhiều tư liệu thì “Rue Catinat” được xem là con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn. Đây cũng là con đường đầu tiên được thiết lập khi Pháp quy hoạch lại thành phố sau khi chiếm được và phá thành Sài Gòn. Còn được gọi là “Rue no. 16” lúc ban đầu cho đến khi là con đường được tráng nhựa đầu tiên, “Rue Catinat” nhanh chóng trở thành trung tâm sinh hoạt thương mại của thành phố.

Đường Catinat

Năm 1861, khi Sài Gòn lọt vào tay quân Pháp thì con đường này đã có một quá trình dài góp mặt vào sinh hoạt của cư dân địa phương. Nó được biết đến nhiều vì ở đầu con đường, nơi giáp với bờ sông (sông Sài Gòn), từng là nơi vua nhà Nguyễn đến nghỉ ngơi và … tắm (Bến Ngự). Tuy nhiên, từ trước năm 1865, nó cùng 25 con đường khác chỉ mang số thứ tự kế tiếp nhau, từ 1 đến 26. Phải chờ đến ngày 1.2.1865, Đề đốc De La Grandière mới đặt tên cho từng con đường một và con đường số 16 lần đầu tiên mang tên Catinat. Nhiều người không rõ xuất xứ của tên này. Theo một số sử liệu, Catinat là tên một thống chế Pháp sinh năm 1637 và mất năm 1712, phục vụ dưới thời vua Louis XIV. Giữa thế kỷ XIX, Pháp lấy tên Catinat đặt cho một chiếc tàu chiến từng tham gia trận đánh Sài Gòn năm 1859 và dựa vào chi tiết này, De La Grandière đặt cho con đường số 16 tên Catinat (trường hợp tương tự cũng xảy ra với rạch Thị Nghè, được Pháp gọi là Arroyo d’Avalanche).
Một trong những tác giả Pháp đầu tiên là Pallu de la Barrière đã miêu tả con đường số 16 này vào năm 1861 như sau: “Du khách đến Sài Gòn nhìn thấy bên hữu ngạn con sông một loại đường phố mà hai bên bị đứt quãng bởi những khoảng trống lớn. Phần lớn nhà cửa làm bằng cây lợp lá cọ ngắn; số khác ít hơn, làm bằng đá. Mái nhà lợp bằng ngói đỏ làm vui mắt và tạo được cảm giác yên bình…”. Tính cách quan trọng của con đường Catinat thể hiện ở chỗ nó được thực dân Pháp sử dụng làm trung tâm của bộ máy thuộc địa. Đầu tiên, vào năm 1863, ở vạt đất nằm giữa hai con đường Mossard (nay là Nguyễn Du) và Gouverneur (sau là De La Grandlière, Gia Long, nay là Lý Tự Trọng), họ dựng lên dinh Thủy sư Đề đốc, cơ quan đầu não của thực dân Pháp tại Viễn Đông, gần chiếc đồng hồ lên cái tháp trước dinh, từ đó, quảng đất trống phía trước (nay là khu đất trước mặt tiền Nhà thờ Đức Bà) được gọi là “Quảng trường Đồng hồ” (Place de l’Horloge). Ngày 15-8-1865, tại quảng trường này đã diễn ra một buổi lễ trong thể có duyệt binh do chính De La Grandière chủ trì nhằm tôn vinh Hoàng đế Pháp Napoléon III và Hoàng hậu.
Năm 1864, Nha Giám đốc Nội vụ (Direction de I’ Intérieur), người dân đương thời gọi là “Dinh Thượng thơ”, được xây dựng, nhìn ra đường Catinat, ở phía đối diện dinh Thủy sư Đề đốc. Viên chức lãnh đạo cơ quan này, xét về mặt cai trị, chỉ xếp sau Thống đốc Nam Kỳ, trực tiếp chỉ huy các tham biện Pháp và quan lại Việt Nam hàng Huyện, Phủ, Đốc phủ sứ. Đầu thập niên 1880, ngay trên lộ trình con đường chạy qua, mọc lên ngôi nhà thờ Notre Dame, về sau được cư dân Sài Gòn gọi là Nhà thờ Đức Bà hay Vương cung Thánh đường. Sau lưng nhà thờ là đường Norodom (nay là Lê Duẩn), lấy tên ông hoàng xứ Cambodge (Campuchia) đến thăm Sài Gòn vào đầu năm 1867, nhân cuộc đấu xảo canh nông đầu tiên tổ chức tại đây.
Năm 1886, Pháp khởi công xây trụ sở chính Sở Bưu chính và Viễn thông (nay là Bưu điện ) trên khu đất đối diện với mặt tiền nhà thờ, nằm giữa con đường Catinat và đường Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng). Cuối đường Catinat, người ta nhìn thấy một tháp nước cao được xây dựng năm 1878 nhằm cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng. Tuy nhiên, đến năm 1921, với sự phát triển của dân cư, tháp nước này không còn đáp ứng được yêu cầu nên bị đập bỏ. Ngày 1.1.1900, nhà hát Tây (nay là Nhà hát thành phố) được khánh thành trên giao lộ đường Bonard (nay là Lê Lợi) và Catinat, trở thành nơi biểu diễn thường xuyên của những đoàn hát từ phương Tây đến.
Sau khi các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, xe lửa), công sở, cơ quan hành chánh và thương mại được thống đốc dân sự Le Myre de Vilers (1879 – 1883) năng động khởi công và thúc đẩy hoàn thành, Sài Gòn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sau hơn 35 năm bị Pháp chiếm đóng, đã trở thành một thành phố có cảnh quan được quy hoạch hài hòa, kiến trúc khu trung tâm có nhiều nét tương đồng các thành phố ở châu Âu. Thậm chí, các du khách đến từ Âu châu và Viễn Đông (chỉ các nước Đông Á) đã có cảm nhận chung Sài Gòn là “Perle de l’Orient” đối với người Pháp, hay “Paris of the East” đối với các du khách từ các quốc gia hay thuộc địa nói tiếng Anh trong vùng Viễn Đông.

@ Tập hợp

Vài dòng về tiểu sử và tác phẩm của Nhạc Sĩ Lê Thương

639 views

Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1914, tại phố Hàm Long, Hà Nội, trong một gia đình bố mẹ là những nghệ sĩ cổ nhạc. Một bài viết khác cho rằng Lê Thương sinh tại Nam Định. Chi tiết về cuộc đời ông rất ít được nhắc tới. Theo hồi ký của Phạm Duy, Lê Thương sinh năm 1913 và là một thầy tu nhà dòng hoàn tục.

Năm 1935, Lê Thương hành nghề dạy học ở Hà Nội, sau đó ông chuyển về dạy ở Hải Phòng. Lê Thương cùng Hoàng Quý, Hoàng Phú (tức nhạc sĩ Tô Vũ), Phạm Ngữ, Canh Thân tụ họp thành một nhóm ca nhạc sĩ trẻ để bắt đầu sáng tác và hát phụ diễn cho những buổi diễn kịch nói của nhóm kịch Thế Lữ tại Hải Phòng, hay theo ban kịch đi hát tại Hà Nội, Vĩnh Yên. Họ cũng là những hướng đạo sinh và hay tổ chức đi cắm trại hay đi hát tại các tỉnh lân cận bằng xe đạp.
Năm 1941, Lê Thương vào miền Nam. Ban đầu ông ở An Hóa, tỉnh Bến Tre, sau đó Lê Thương chuyển về sống tại Sài Gòn. Tuy là một nhạc sĩ tài danh, nhưng nghề chính của ông là dạy học. Ông từng là giáo sư Sử Địa, có một thời gian giảng dạy tại một số trường trung học tư ở Sài Gòn. Ông cũng từng là giáo sư Pháp ngữ tại trường trung học Pétrus – Ký vào thập niên 60. Lê Thương cũng từng làm công chức ở Trung tâm Học liệu, bộ Quốc gia Giáo dục và là giảng viên Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ thời Việt Nam Cộng hòa.
Lê Thương là một trong những nhạc sĩ Việt Nam tiên phong viết tân nhạc với bài Bản đàn xuân. Ngoài Bản đàn xuân, trong thời kỳ ở miền Bắc, Lê Thương còn sáng tác những tác phẩm khác như Tiếng đàn đêm khuya, Một ngày xanh, Trên sông Dương Tử, Thu trên đảo Kinh Châu
Từ khi vào miền Nam năm 1941, Lê Thương phổ thơ nhiều bài như Lời kỹ nữ (thơ Xuân Diệu), Lời vũ nữ (thơ Nguyễn Hoàng Tư), Bông hoa rừng (thơ Thế Lữ), Tiếng thùy dương(tức Ngậm ngùi thơ Huy Cận) và Tiếng thu (thơ Lưu Trọng Lư)…
Lê Thương là nhạc sĩ tiên phong của nhiều thể loại âm nhạc. Thời kỳ kháng chiến, ông có soạn một ca khúc rất nổi tiếng Lòng mẹ Việt Nam hay Bà Tư bán hàng nói về một bà mẹ thành phố có các con tham gia kháng chiến. Và bài hát đó là một trong những lý do Lê Thương bị Pháp bắt giam vào khám Catinat cùng Phạm Duy và Trần Văn Trạch vào năm 1951.
Lê Thương thuộc những người đầu tiên viết truyện ca và đã để lại những bản truyện ca hay nhất như Nàng Hà Tiên, Lịch sử loài người, Hoa thủy tiên… Đặc biệt hơn cả là bộ ba Hòn vọng phu, được xem như một trong những tác phẩm lớn nhất của tân nhạc Việt Nam. Văn Cao cũng từng thừa nhận ảnh hưởng bởi Lê Thương với phong cách âm nhạc bắt nguồn từ âm nhạc cổ truyền Việt Nam.
Lê Thương cũng là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết nhạc hài hước với những bản Hoà bình 48 (phê phán sự mỵ dân đội lốt hoà bình), Làng báo Sài Gòn (đả kích báo giới bồi bút, bất tài và ham tiền), Đốt hay không đốt (châm biếm máu Hoạn Thư), Liên Hiệp Quốc… Những bản này được nghệ sĩ Trần Văn Trạch trình diễn nhiều lần vào thập niên 1940. Lê Thương còn đặt lời cho những bản nhạc ngoại quốc ngắn như Nhớ Lào (nhạc Lào), Bông hoa dại tức Ô Đuồng Chăm Pá (nhạc Lào), Lòng trẻ trai (nhạc Hoa Kỳ), Hoa anh đào tức Sakura (cổ nhạc Nhật Bản), Màn Brúc đánh giặc (dân ca Pháp)…
Một thời gian, Lê Thương có cùng nhạc sĩ Lê Cao Phan phụ trách ban nhạc Măng Non cho trẻ em, phát thanh các truyện cổ tích, khúc dân ca, bài ca nhi đồng. Và cùng Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương được xem như những nhạc sĩ mở đầu của dòng nhạc dành cho thiếu nhi với những bản Tuổi thơ, Cô bán bánh, Con mèo trèo cây cau, Thằng bé tí non, Ông Nhang bà Nhang, Truyền kỳ Việt sử, Học sinh hành khúc… Nổi tiếng hơn cả là bài Thằng Cuội thường được trẻ em hát trong mỗi dịp tết Trung Thu, mặc dù nhiều người không biết đó là một ca khúc của nhạc sĩ Lê Thương:

Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mơ
Lặng yên ta nói Cuội nghe
Ở cung trăng mãi làm chi
Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mợ…

Ngoài âm nhạc, Lê Thương còn gia nhập vào ban kịch của Thế Lữ vào những năm thập niên 1930, và ban kịch Sầm Giang của Trần Văn Trạch khi ông sống ở Sài Gòn. Lê Thương đã sáng tác ca khúc cho nhiều kịch bản, và viết nhạc phim cho hãng phim Mỹ Vân.
Lê Thương lập gia đình cùng một phụ nữ học ở Pháp về và họ có 9 người con. Ông cũng có hai người tình, người tình đầu là một cô hát ả đào nổi tiếng ở Hà Nội. Người thứ hai là một vũ nữ tại Chợ Vườn Chuối Sài Gòn.
Sau 1975, ông không tham gia hoạt động văn nghệ. Vào thập niên 1990, ông bị mất hẳn trí nhớ và qua đời ngày 17 tháng 9 năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Một số tác phẩm tiêu biểu:
Bản đàn xuân, Bông hoa rừng, Cô bán bánh, Con mèo trèo cây cau. Đàn bao tuổi rồi, Đàn tình xưa, Đốt hay không đốt, Hoa thủy tiên, Học sinh hành khúc, Hòn vọng phu, Làng báo Sài Gòn, Lịch sử loài người 1 – 2, Lời kỹ nữ, Lời vũ nữ, Lòng mẹ Việt Nam, Một ngày xanh, Nàng Hà Tiên, Người chơi độc huyền, Nhớ Lào, Nhớ thày xưa, Ông Nhang bà Nhang, Ông Nỉnh, Ông Nang, Tâm sự ca nhân, Thằng bé tí non, Thu trên đảo Kinh Châu, Tiếng đàn đêm khuya, Tiếng thu, Tiếng thùy dương, Trên sông Dương Tử, Truyền kỳ Việt sử, Tuổi thơ, Xuân yêu đương

70 năm tình ca Việt Nam – Kỳ 2 (Hoàng Quý và Lê Thương)

262 views

Phần 2 của chương trình « 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam » do Hoài Nam phụ trách và được phát trên đài phát thanh SBS ở Úc sẽ nói về hai nhạc sĩ: Hoàng Quý và Lê Thương.

Hoàng Quý sinh năm 1920 tại Hải Phòng, anh là anh trai của Hoàng Phú, tức nhạc sĩ Tô Vũ. Theo Phạm Duy, Hoàng Quý từng là học trò của Lê Thương tại trường Trung học Lê Lợi ở Hải Phòng vào cuối thập niên 1930. Hoàng Quý theo học nữ giáo sư âm nhạc Leperète dạy nhạc ở các trường trung học ở Hải Phòng. Nhờ có năng khiếu và ham học, Hoàng Quý tiếp thu âm nhạc khá tốt, chỉ một thời gian sau trở thành giáo viên dạy nhạc của trường Bonnal…

Còn Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1914, tại phố Hàm Long, Hà Nội, trong một gia đình bố mẹ là những nghệ sĩ cổ nhạc. Một bài viết khác cho rằng Lê Thương sinh tại Nam Định. Chi tiết về cuộc đời ông rất ít được nhắc tới. Theo hồi ký của Phạm Duy, Lê Thương sinh năm 1913 và là một thầy tu nhà dòng hoàn tục…

Không khí tết người Bắc ở Sài Gòn trước 1975

2112 views

Không khí Tết ở Sài Gòn hồi đó bắt đầu được cảm thấy từ sau Giáng Sinh. Những sạp bán đồ Giáng Sinh dọc các đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ thật ra vẫn ngồi nguyên chỗ và chỉ thay đổi thiệp mừng Giáng Sinh sang thiệp chúc Tết mà thôi. Không khí hội hè “bắc qua” này kéo dài cho đến gần Tết, khi những khu vực bán hàng Tết thật sự được tổ chức.
Hai khu vực vui nhất là chợ hoa ở đường Nguyễn Huệ và khu vực chợ Bến Thành. Người Sài Gòn hồi đó chỉ chuộng có vài loại hoa có truyền thống lâu đời cho ngày Tết mà thôi. Và các chủng loại cũng đơn giản, vì các loại hoa hợp với khí hậu miền Nam cũng không nhiều lắm. Đứng đầu luôn là mai vàng. Sau đó là các loại cúc như đại đóa, vạn thọ, rồi thược dược các mầu, mào gà, phong lan, địa lan…
Dĩ nhiên cũng còn vài loại khác nhưng số lượng rất ít. Cây trái thì nổi bật và chính thống nhất vẫn là quất (tắc). Hoa Đà Lạt chuyển về cũng phần nhiều là phong lan, cúc, thược dược, đồng tiền và họa hoằn một ít mâm xôi và phù dung. Hoa cắm cành ngày đầu Xuân thì có lay-ơn, hoa hồng. Cũng từ Đà Lạt về nhưng các chủng loại hoa hồng hồi đó còn hơi nghèo nàn.

Khu vực trước chợ Tết Bến Thành
Khu vực trước chợ Tết Bến Thành – Saigon những năm 1960

Dân chơi Sài Gòn hồi những năm đầu của thập niên 1960 vẫn còn chơi trội bằng cách ra bãi biển Thủy Triều gần Cam Ranh để tìm cành mai rừng, cũng tương tự như lên Sapa tìm cành đào thế ở ngoài Bắc. Dọc bãi biển Thủy Triều trước đây là hàng cây số rừng mai vàng hoang dã rất đẹp. Thường người ta đốn nguyên cây đem về cắm mấy ngày Tết. Những người hiếu cổ thì vào Chợ Lớn tìm mua mấy giò thủy tiên. Hồi đó người ta chơi rễ cây thiết mộc lan chứ không ai chơi rễ thủy tiên. Thủy tiên chỉ chơi hoa, đơn hoặc kép. Những cái thú chơi thủy tiên là gọt, hãm và thúc. Mẹ tôi chăm sóc thủy tiên với sự trìu mến đặc biệt. Trước hết là phải chọn giò có số củ và hình dáng chuẩn. Sau đó gọt củ để lá và chồi hoa sẽ mọc ra theo những dạng, thế mình muốn, thí dụ như long, ly, quy, phụng, v.v. Và phải biết thúc hay hãm để kiểm soát thời điểm hoa nở theo đúng ý mình, tốt nhất là ngay (bỏ chữ sau) giờ Giao thừa.

Bông hồng Tết Saigon

Những ngày giáp Tết người ta dựng rạp bao quanh hai mặt phía công Trường Quách Thị Trang và đường Phan Bội Châu của chợ Bến Thành để bán hàng Tết. Đèn đuốc sáng trưng, trai thanh gái lịch dập dìu. Nhiều nhất là bánh, kẹo, rượu; và nhất là mứt các loại và hạt dưa. Hàng Tết ở đây phần nhiều là hàng sản xuất trong nước, thí dụ như khô nai, khô cá thiều Phú Quốc; rượu dâu, rượu Mận Đà Lạt; trái cây Lái Thiêu; bột gạo lức Bích Chi… Mỗi cửa hàng bắc loa với công suất cực mạnh để lấn át hàng xóm.
Ồn ào nhất bao giờ cũng là quầy bán thuốc đánh răng hiệu anh Bẩy Chà Hynos. Những câu rao hàng thường ngộ nghĩnh, như của quầy bán vải: “Trăm ba pô-pơ-lin, trăm sáu pô-pơ-lin, một trăm ba bán sáu chục”. Hay khi hàng đồ chơi ồn ào: “Xanh xanh đỏ đỏ em nhỏ nó chơi, em nhỏ nó mừng”, thì quầy dưa hấu bên cạnh tiếp luôn: “Xanh xanh, đỏ đỏ em nhỏ nó ăn, em nhỏ nó cười đi”.

@ Theo ongvove

Vài hình của Dinh Độc Lập vào năm 1955

772 views

Năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Tổng thống. Ông quyết định đổi tên Dinh Norodom thành Dinh Độc Lập. Từ đó Dinh Độc Lập trở thành nơi đại diện cho chính quyền cũng như nơi ở của tổng thống và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Thời kỳ này, Dinh Độc Lập còn được gọi là Dinh Tổng thống. Theo thuật phong thủy của Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng, nên Dinh cũng còn được gọi là Phủ đầu rồng.
Vài hình ảnh của Dinh Độc Lập vào năm 1955, năm Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống của VNCH:

Dinh Độc Lập 1955
Dinh Độc Lập 1955
Dinh Độc Lập 1955
Dinh Độc Lập 1955
Dinh Độc Lập 1955
Dinh Độc Lập 1955
Dinh Độc Lập 1955

Vài hình ảnh của hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Nhu sau khi ám xát

3424 views

Sau khi bị lật đổ bởi các tướng lĩnh dưới quyền ngày 1 tháng 11 năm 1963, Ngô Đình Diệm cùng em trai – cố vấn Ngô Đình Nhu lánh nạn tại nhà thờ Cha Tam, sáng ngày hôm sau Diệm cùng với Nhu gọi điện và ra hàng lực lượng đảo chính. Hai anh em Diệm Nhu bị đại úy Nguyễn Văn Nhung giết bằng lưỡi lê và súng lục trong chiếc xe bọc thép M113, theo lệnh của tướng Dương Văn Minh, khi chiếc xe đang trên đường tới Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Theo chứng nhận của bác sĩ Huỳnh Văn Hưỡn, là người đã tiến hành vụ khám nghiệm thì anh em Diệm – Nhu bị bắn từ sau gáy ra phía trước. Xác Ngô Đình Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị hành hung trước khi bị bắn. Xác Ngô Đình Nhu thì bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu.
Tài liệu của phía Hoa Kỳ cho biết ông Diệm và ông Nhu được chôn trong những ngôi mộ không tên trong một nghĩa trang bên cạnh ngôi nhà của đại sứ Hoa Kỳ.[146] Sau này tìm hiểu, thì ông Diệm và ông Nhu được chôn ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi (vị trí ở đường Điện Biên Phủ cắt với đường Hai Bà Trưng, ngày nay là Công viên Lê Văn Tám). Áo quan của Ngô Đình Diệm hình hộp, áo quan của Ngô Đình Nhu có nắp tròn. Một nhân chứng thời kỳ này giải thích vì người thân của hai ông đi mua vội quan tài nên chỉ mua được một chiếc hạng tốt dành cho ông Diệm, còn chiếc hạng vừa dành cho ông Nhu.
Trong khoảng thập niên 1980, do nhu cầu phát triển đô thị trong nội đô Sài Gòn, nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi được di dời về nghĩa trang Lái Thiêu (Nghĩa trang Nhân dân số 6B) ngày nay. Hiện tại, mộ ông Diệm và ông Nhu chính thức đặt tại nghĩa trang Lái Thiêu[147]. Mộ hai ông nằm hai bên mộ mẹ – bà Phạm Thị Thân. Ngoài ra, mộ ông Ngô Đình Cẩn cũng được dời về gần đó. Mộ hai ông ban đầu không có tên mà chỉ ghi tên thánh và “Huynh” (chỉ ông Diệm) hoặc “Đệ” (ông Nhu), sau đó, theo đề nghị của một số người, mộ đã được đề đích danh.

Cái chết của tổng thống Ngô Đình Diệm
Xác của TT Ngô Đình Diệm ở phía sau của chiếc M113

Cái chết của tổng thống Ngô Đình Diệm
Huyệt mộ của hai anh em Tổng Thống Diệm và ông Nhu tại Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi – @Douglas Pike Photograph Collection

Cái chết của tổng thống Ngô Đình Diệm
Huyệt mộ của hai anh em Tổng Thống Diệm và ông Nhu tại Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi – @Douglas Pike Photograph Collection

Cái chết của tổng thống Ngô Đình Diệm
Lễ an táng TT Diệm và ông Nhu

Cái chết của tổng thống Ngô Đình Diệm
Lính thuộc phe đảo chánh, vẻ mặt hớn hở, bên cạnh xác ông Nhu – Image by © Bettmann/Corbis

@ Theo Wikipedia

Vài hình ảnh của Sài Gòn sau cuộc đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963 (Phần 1)

1393 views

Cuộc đảo chính tại Nam Việt Nam năm 1963 là cuộc đảo chính Quân sự lật đổ Chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm do các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa thực hiện với sự làm ngơ của Hoa Kỳ vào ngày 1 tháng 11 năm 1963. Cuộc đảo chính đã giết chết anh em Tổng thống là Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu, Chính quyền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam ở Sài Gòn sụp đổ, chuyển vai trò lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa sang Hội đồng quân sự do Dương Văn Minh đứng đầu.

Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963 - Nhà hàng Quốc Tế
Nhà hàng Quốc Tế tan tành sau cuộc đổ chính – Douglas Pike Photograph Collection
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963 – Douglas Pike Photograph Collection
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963 – Douglas Pike Photograph Collection
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963 – Douglas Pike Photograph Collection
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963 – Douglas Pike Photograph Collection
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963 – Douglas Pike Photograph Collection
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963 – Douglas Pike Photograph Collection
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963 – Douglas Pike Photograph Collection
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963 – Douglas Pike Photograph Collection
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963 – Douglas Pike Photograph Collection
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963 – Douglas Pike Photograph Collection
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963
Đường phố Sài Gòn sau đảo chánh 1-11-1963 – Douglas Pike Photograph Collection

Good Bye Thương xá Tax

291 views

Có thể nói là Good Bye Forever (vĩnh biệt) Thương xá Tax vì hôm nay nhà đầu tư bắt đầu phá bỏ công trình 130 năm tuổi gắn bó với tên tuổi Sài Gòn. Mấy năm trước (2010) là Givral café nổi tiếng đi vào cát bụi bởi Vincom.
So với Sài Gòn 300 năm tuổi thì những gì có tuổi hàng thế kỷ như Thương xá Tax lẽ ra phải trở thành một trong những điểm dừng chân của du khách để nhớ về Hòn ngọc Viễn đông trải qua mấy đời vua quan phong kiến, Pháp thuộc, Mỹ chiếm đóng và bây giờ là dưới chế độ cộng sản.
Tới thăm New York city, một thành phố cùng tuổi với Sài Gòn, nếu thấy số nhà có mầu vàng thì nơi đó thuộc về di tích đã được xếp hạng. Chủ nhà muốn sửa phải xin phép thành phố. Không có tiền thì cứ ngồi đó mà đợi hoặc phải bán đi cho người có đủ tiền bảo trì cho dáng vẻ xưa.
Mấy năm trước tôi sang Vientiane để tìm nơi mới cho Văn phòng World Bank cạnh bờ sông Mekong. Khi đào móng thì phát hiện có bức tường của ngôi nhà cổ cách đây một thế kỷ cùng những cây sến cao vút có lẽ cùng tuổi.
Phải mất mấy năm xin đủ loại giấy phép, tòa nhà mới được xây nhưng phải trên nền kiến trúc Lào cổ và bức tường được giữ nguyên cho du khách tới thăm. Mấy cây trăm năm tuổi được quây kín và bảo vệ như một thứ gia bảo.
Thế mà các quyết định đập cũ, xây mới của Sài Gòn và cả ở Hà Nội được ra một cách dễ dàng.
Có 10 nhà tù nổi tiếng thế giới được kể tên thì số 1 chính là Hỏa Lò do người Pháp xây để giam giữ các nhà hoạt động cách mạng. Sau này là nơi các tù binh phi công Mỹ gọi là Hilton Hà Nội.
Du khách thăm Hỏa Lò bị choáng hoàn toàn vì chỉ còn 1/12 phần được giữ lại, những phần kia biến thành cao ốc cho thuê.
Người ta tự hỏi, chỗ nào là nơi ông Đỗ Mười bị giam, chỗ nào là John McCain từng nằm bóc lịch. Tất cả chỉ còn lại là những lời thuyết minh trống rỗng, những cuốn phim tài liệu chứa rất ít sự thực.
Tower of London là một nhà tù khác thời trung cổ cũng nằm giữa London. Hiện là một trong những điểm ưa thích của du khách khắp thế giới. Giá vé mấy chục đô la vào cửa, nhà tù cổ này vẫn làm ra hàng triệu đô mỗi ngày cho nước Anh mà không cần một chung cư như Hỏa Lò Hà nội.
Người yêu Sài Gòn vẫn nhớ Givral café như một nơi gặp gỡ của giới báo chí trong và ngoài nước thời chiến tranh Mỹ Việt. Không thể không nhắc tới Phạm Xuân Ẩn, Peter Arnett, Larry Burrows… từng lê la ở quán này và dự đoán sự thay đổi của thời cuộc.
Dường như nhiều trang viết của tiểu thuyết “Người Mỹ trầm lặng” cũng được tác giả suy ngẫm từ những ly café ở đây. Sau này các nhà làm phim đã quay một số cảnh ở Givral café. Chiến tranh không chỉ có trong trang sách, bài báo mà cả những điểm dừng chân của những chiến binh và người cầm bút.

THƯƠNG XÁ TAX

Hồi tháng 5-2016, tôi có dịp thăm Rome và một số thành phố cổ ở Bỉ, Hà Lan, Ba Lan, và Pháp. Châu Âu như một viện bảo tàng ngoài trời. Nhà nào cổ mới có giá, nhà mới thường giá rẻ. Đắt ở chỗ có tuổi.
Có câu nổi tiếng “Mọi con đường đều dẫn đến thành Rome” ý nói về kiến trúc La Mã và đế chế từng ngự trị thế giới. Mọi cuộc chinh phục và xâm lăng của La Mã đều phục vụ cho Rome tỏa sáng.
Nhưng rồi La Mã lụi tàn nhưng cái cách mà người Italia bảo tồn kiến trúc cổ làm cho du khách khắp thế giới đều đổ về Rome. Đông cũng như Hè, lúc nào cũng đông nghịt. Họ chiêm ngưỡng La Mã cổ đại và…tiêu tiền. Thử tưởng tượng Rome toàn các tòa nhà kính váy đụp như Lotte thì ai sẽ đến thăm.
Xa xưa Cesar mang kiếm đi chinh phục thế giới để xây dựng Rome. Ngày nay con cháu chỉ bán vé cho người xem kiến trúc cổ cũng đủ dựng nên nước Italia giầu mạnh. Mọi con đường đều dẫn đến thành Rome sẽ còn mãi với nhân loại bởi người Italia biết tôn trọng quá khứ.
Dù có cứu từng viên gạch cổ của Thương xá Tax thì shopping mall và khách sạn 40 tầng sắp xây chẳng nói được điều gì về quá khứ 300 năm của Sài Gòn. Đó chỉ là thứ kiến trúc nhôm kính tựa fast food – mỳ ăn liền.
Phá bỏ sự cổ kính không thể giữ tên tuổi Sài Gòn như Bí thư Đinh La Thăng từng mơ ước.
Mọi con đường đều dẫn đến tiền thì không thể có Hòn ngọc ở Viễn đông nổi tiếng cả thế kỷ.

Vĩnh biệt Thương xá Tax.

(Theo Hiệu Minh Blog)

Phim “Như Giọt Sương Khuya” của đạo diễn Bùi Sơn Duân

1281 views

Phim chuyển thể từ tác phẩm Đừng Gọi Anh Bằng Chú của Nguyễn Đình Thiều.
Là bộ phim màu do Trần Quang, Bạch Tuyết, Đoàn Châu Mậu, Nguyễn Thị Tường Vy đóng chính.
Trong phim, Huấn (Trần Quang) là kỹ sư cơ khí du học từ Pháp về, nhưng không thích làm công chức hay làm công cho người ta, mà lên một tỉnh nhỏ vùng cao nguyên mở tiệm sửa xe hơi. Gặp lại người bạn cũ là anh của Dung (Bạch Tuyết), hai người này xúi Huấn đi buôn lậu quốc tế vùng Việt Miên Thái. Hạnh (Nguyễn Thị Tường Vy) em con cô của Dung gặp Huấn và yêu Huấn, nhưng Huấn lại yêu Dung. Trong cuộc Huấn đưa Dung sang Miên gặp Đạt, họ đụng độ bọn cướp. Dung bị bắn chết… Đây là loại phim hành động…
Đạo diễn Bùi Sơn Duân thành lập một hãng phim tư nhân mang tên Việt Ảnh, trong đó có đạo diễn Nguyễn Long, diễn viên Trần Quang và nhiều diễn viên khác kết hợp thành nhóm làm phim thể loại xã hội đen, buôn lậu. Ba phim Như Hạt Mưa SaNhư Giọt Sương KhuyaHải Vụ 709 đều là sản phẩm của hãng phim Việt Ảnh do ông làm Giám đốc.
Như Hạt Mưa Sa là bộ phim đen trắng, chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Ngọc Linh, do đạo diễn Bùi Sơn Duân dàn dựng năm 1971. Hợp diễn với Thẩm Thúy Hằng là Trần Quang, Bạch Tuyết, Đoàn Châu Mậu, Diễm Kiều… Người nữ nghệ sĩ khả ái này đảm nhận hai vai diễn là hai chị em sinh đôi với hai tính cách hoàn toàn trái ngược, cô chị thì dịu dàng và nữ tính, còn cô em thì trẻ trung, hiện đại. Bộ phim này cũng có doanh thu rất cao, riêng tiền lãi đã giúp cho nhà sản xuất đủ tiền làm tiếp phần 2 là Như Giọt Sương Khuya bằng phim màu, in tráng phim tại Hồng Kông. Nhưng ở bộ phim Như Giọt Sương Khuya quay vào năm 1972, nữ nghệ sĩ Bạch Tuyết vào vai chính bên cạnh nam diễn viên Trần Quang. Như Giọt Sương Khuya được chuyển thể từ tác phẩm Đừng Gọi Anh Bằng Chú của Nguyễn Đình Thiều, do đạo diễn Bùi Sơn Duân chỉ đạo diễn xuất.