Hoàng Gia

Lễ tế Nam Giao của Vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 (Phần 3)

661 views

Các triều đại quân chủ Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của hệ tư tưởng Nho giáo, nhà vua được xem là Thiên tử, tuân theo mệnh trời để trị vì dân chúng. Chính vì vậy, việc làm lễ Tế Nam Giao (tế trời đất) luôn được các triều đại phong kiến coi trọng. Dưới triều Nguyễn, lễ tế Nam Giao là nghi lễ quan trọng hàng đầu, được xếp vào hàng Đại tự, được tổ chức long trọng dịp đầu xuân.

Sau đây là loạt ảnh quý về lễ tế đàn Nam Giao năm 1924 là lễ tế đàn Nam Giao cuối cùng trong sự nghiệp vua Khải Định.

Xin đọc phần 1
Xin đọc tiếp phần 2
Xin đọc tiếp phần 4

Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đội lễ nhạc của cung đình
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Ban nhạc của vua
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đội vệ binh danh dự trên sân sau điện Thái Hòa
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Vua Khải định chuẩn bị rời điện Kiến Trung
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn xe xích lô kéo chở quan bộ triều đình
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Cỗ xe hoàng gia
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Kiệu hoàng
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tập dượt cho buổi lễ tế Nam Giao
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Dựng các bàn thờ tại đàn Nam Giao. Trong hình là một án thờ trên Phương đàn.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Trên sân trước Đại Cung Môn trước giờ vua lên đường đi tế Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Kiệu hoàng đã được chuẩn bị để rước vua ở điện Cần Chánh.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Sân điện Cần Chánh trước lúc vua lên đường đi tế Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Quan lại đang đợi rước vua ở điện Cần Chánh.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn Ngự đạo rời Kinh thành Huế qua ngả cửa Thượng Tứ (Mirador VIII, theo cách gọi của Tây).

Lễ tế Nam Giao của Vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 (Phần 2)

592 views

Loạt ảnh quý về lễ tế đàn Nam Giao của vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 do nhiếp ảnh gia Đặng Châu thực hiện. Đây là lễ tế đàn Nam Giao cuối cùng trong thời gian trị vì ngắn ngủi của nhà vua.

Xin đọc phần 1
Xin đọc tiếp phần 3
Xin đọc tiếp phần 4

Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lối đi trung tâm sân của vòng thành thứ ba. Bàn thờ cho các Thiên tài và nhạc cụ cổ xưa được bầy xunh quanh sân. Chúng ta có thể thấy phía xa là Nhà Vàng và Nhà Azure.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Như ảnh trước, đây là góc chụp trái của sân của vòng thành thứ ba.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Ba bước thang dẫn đến sân trên có hình vuôn của vòng thành thứ hai, trên đó “Ngôi nhà màu vàng” được dựng lên. Phía sau, chúng ta có thể thấy mái nhà của “Maison Azurée” được dựng trên gò tròn của vòng thành thứ nhất.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Các bàn thờ sử dụng trong lễ tế đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Mỗi bàn thờ được phụ trách bởi một viên quan do triều đình phân công.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn vũ công bước ra sân tế.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tòa Thanh Ốc, một khu nhà dạng lều trùm bằng vải xanh được dựng lên làm nơi đặt bàn thờ trời trong lễ tế đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Trâu, dê và lợn được xẻ thịt để phục vụ lễ tế ở khu vực Thần Trù, Đông Bắc đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đám rước vua Khải Định tiến về đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Kiệu vua tiến vào đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Cận cảnh kiệu vua. Có thể nhìn thấy khuôn mặt vua khải định sau ô cửa của kiệu.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định 28
Vệ binh hoàng gia cưỡi ngựa, cầm giáo, có nhiệm vụ bảo vệ trị an khi lễ tế được thực hiện.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đám rước của cung đình di chuyển từ Ngọ Môn vào điện Thái Hòa ở Hoàng thành Huế để đón rước vua Khải Định đi thực hiện lễ tế đàn Nam Giao năm 1924.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Kiệu của vua Khải Định được rước từ điện Thái Hòa qua Ngọ Môn để đến đàn Nam Giao ở phía Nam kinh thành Huế.

Lễ tế Nam Giao của Vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 (Phần 1)

549 views

Loạt ảnh quý về lễ tế đàn Nam Giao của vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 do nhiếp ảnh gia Đặng Châu thực hiện. Đây là lễ tế đàn Nam Giao cuối cùng trong thời gian trị vì ngắn ngủi của nhà vua.

Xin đọc tiếp phần 2
Xin đọc tiếp phần 3
Xin đọc tiếp phần 4

Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tại đàn tế : bức bình phong nơi cửa phía nam được trang trí bên trên bằng hai con rồng giấy.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Bộ Lễ rước tượng “đồng nhân” vào hoàng cung.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tượng người bằng đồng, dùng trong lễ tế Nam Giao của triều Nguyễn.
Tượng người “đồng nhân” có cầm thẻ bài có khắc 3 chữ. Hai chữ phía trên là “trai giới”, chữ dưới cùng là chữ “bài”: 牌, chữ bài có nghĩa cái biển hay bảng. “Trai giới bài” 齋 戒 牌
Theo điển lệ nhà Nguyễn, bốn ngày trước ngày tế, Bộ Lễ rước tượng đồng nhân vào hoàng cung hoặc trai cung (nhà tại đàn Nam Giao để vua tạm trú chờ cử hành tế lễ) để vua bắt đầu một cuộc trai giới ba ngày, giữ mình trong sạch, chuẩn bị cho lễ tế thiêng liêng. Tượng là hình người mặc lễ phục, đứng thẳng, hai tay chắp lại, cầm thẻ bài có khắc hai chữ “trai giới” . Trong thời gian trai giới, tượng được để trước mặt vua, có công dụng giúp cho vua tập trung nghĩ tưởng điều trong sạch.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Trai cung: sau 24 giờ trai tịnh và hoàn tất nghi lễ tế giao, nhà vua rời Viên đàn trở lại trai cung, tại đây các quan chúc mừng nhà vua đã hoàn thành nghi lễ tế giao và vua lên đường trở về điện riêng của mình (là điện Kiến Trung, trong trường hợp của vua Khải Định và vua Bảo Đại).
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Vua Khải định rời điện Kiến Trung
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tại trai cung, các quan trong lúc chờ để chúc mừng vua đã hoàn tất lễ tế giao. Bìa trái là ông Nguyễn Hữu Bài, thứ ba từ trái qua là ông Hồ Đắc Trung.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Các quan trong lúc chờ vua xuất phát lên đường từ điện Cần Chánh để đến đàn lễ giao.
Bên trái là Tả Vu, bên phải là Tả Dược Lang nối vào Đại Cung Môn nằm ngoài ảnh.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn rước vua Khải Định tử cổng Ngô Môn về phía cung điện Thái Hòa.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn rước vua Khải Định qua đoạn đường Đông Ba dọc theo bờ sông Hương.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đội lính bảo vệ hoàng gia, trong bộ đồng phục đầy màu sắc, đang dừng lại trên một đoạn đường trong thành cổ. Đoàn rước sau khi vượt qua cổng Ngô Môn, đi đến cổng Đông Nam (Mirador VIII) qua đó sẽ ra khỏi Thành cổ. Phía bên trái của hình, chúng ta có thể thấy một nhíp ảnh gia.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đông Nam Môn – Cửa Thượng Tứ (Mirador VIII)
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn Ngự đạo rời Kinh thành Huế qua cửa Thượng Tứ (tức cửa Đông Nam, Mirador VIII theo tên gọi của người Pháp).
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Những người đánh trống trong đội lễ nhạc.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Cổng đàn Nam Giao trước khi đám rước tới nơi.

Hình ảnh : Association des amis du vieux Huê

Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định, tháng 9 năm 1924 (Phần 2)

787 views

Trong 9 năm trị vì ngắn ngủi của mình (1916-1925), vua Khải Định cũng làm được một số việc được người đời nhắc đến, trong đó có chuyến Bắc tuần năm 1918 và cuộc Pháp du rầm rộ năm 1922. Trong những năm còn lại của đời mình, nhà vua cũng còn kịp tổ chức một lễ tứ tuần đại khánh với những nghi thức long trọng nhất.

Đọc phần 1

Tháng 6 Âm lịch năm 1924, Bộ Lại và Bộ Binh dâng lên nhà vua danh sách các Tổng đốc, Tuần vũ, Đề đốc, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh, Quản đạo tại tất cả các tỉnh. Nhà vua áp dấu son lên tên những người được đại diện các tỉnh về dự lễ, thông thường mỗi tỉnh ông chọn một người. Mặt khác, Bộ Lễ chỉ thị cho tỉnh Thừa Thiên mời các quan văn võ đã nghỉ hưu hay đang nghỉ phép có phẩm trật từ hàng ngũ phẩm trở lên cùng những bô lão từ 70 tuổi trở lên dự buổi lễ sẽ diễn ra trong vòng 10 ngày cuối tháng 8 Âm lịch năm 1924. Ở các tỉnh, những thành phần trên sẽ đi theo các quan tỉnh đến vọng cung chúc thọ vua. Phủ tôn nhơn (cơ quan phụ trách các vấn đề trong hoàng tộc) lập danh sách các hoàng thân, tôn tước, công tử, công tôn và tôn thất tham dự buổi lễ.

Trước đó, bộ Lễ cũng đã thông tri cho quan lại thuộc các tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, yêu cầu chọn những người có khả năng ca hát và tổ chức các trò chơi truyền thống, báo về bộ để tấu trình nhà vua biết. Hai tháng sau, bộ Lễ tập trung các viên chức của bộ, các nhạc công, ca công, tập luyện để biểu diễn trong buổi lễ tổ chức tại điện Thái Hòa và buổi đại yến tại điện Cần Chánh. Năm ngày trước chính lễ, Bộ Lễ hướng dẫn những người này đến Duyệt Thị đường (nhà hát trong cung điện) để tổng dượt trước sự chứng kiến của nhà vua.

Tháng 8 Âm lịch, Bộ Lễ ra thông báo cho các tòa án bản xứ biết là không được tuyên án trong 15 ngày, gồm 10 ngày trước buổi lễ, ngày lễ chính và 4 ngày sau buổi lễ. Các công sở và nhà dân treo cờ và thắp đèn suốt 5 ngày kể từ hai ngày trước buổi lễ. Bộ này cũng yêu cầu Khâm Thiên giám chọn hai ngày tốt trong tháng 8 để các hoàng thân, tôn tước thay mặt nhà vua làm lễ Kỳ cáo (công bố lễ sẽ diễn ra) ở Nam giao, Triệu miếu, Thái miếu, Hưng miếu. Riêng vua Khải Định sẽ đích thân hành lễ tại Thế miếu (nơi thờ các vua triều Nguyễn). Sau đó, vào một ngày không định trước, nhà vua sẽ thân hành đến chào các bà thái hậu.

Lễ vật do các quan lại ở Huế và các tỉnh dâng lên vua được bộ Lễ tập trung, kiểm soát trước khi chuyển đến địa điểm hành lễ. Trước cửa Ngọ môn, người ta dựng lên một “chánh lâu” (khán đài chính) là nơi để lễ vật của hoàng thái hậu, phủ tôn nhơn, văn võ đại thần, các cung phi, công chúa, Phụ lộc phu nhơn (bà ngoại vua Khải Định), vợ và con các hoàng thân, thích lý (bà con của mẹ vua) và phu nhơn các văn võ đại thần. Ngoài chánh lâu, còn có:

– Sáu đắc lâu (khán đài phụ) chứa lễ vật của Tả trực, Hữu trực, Tả kỳ, Hữu kỳ, Bắc kỳ và Thừa Thiên.
– Hai trường bằng (khán đài rộng) là nơi tập hợp các thành viên của phủ Tôn nhơn, các quan lại trong triều.
– Một khán đài trước Phu Văn Lâu được dựng lên cho công chúng đứng xem lễ
– Một thủy lâu và thủy bằng (khán đài nổi trên sông) trước Nghinh hương đình (bến thuyền của vua)

Mười ngày trước lễ, lúc 6 giờ sáng, người ta bắn 9 phát súng thần công, cờ treo khắp nơi, và đèn đuốc thắp sáng. Một ngày trước lễ, nhà vua cùng các hoàng thân, văn võ đại thần đi xem các khán đài.

Cuối cùng thì buổi lễ cũng đã diễn ra long trọng tại điện Thái Hòa. Nhân dịp này, vua Khải Định ban các ân chiếu phong thưởng những người có công và mở tiệc khoản đãi Toàn quyền Đông Dương, Khâm sứ Huế cùng các viên chức Pháp khác. Tối đến, vua Khải Định cùng các hoàng thân và văn võ đại thần ra Ngọ môn xem các trò chơi và đốt pháo bông.

Tham dự bữa tiệc ở điện Cần chánh có các hoàng thân, văn võ đại thần cùng tôn tước có phẩm trật từ tam phẩm trở lên. Các cung phi đời trước, cung phi tại triều, vợ và con gái các hoàng thân, vợ các đại thần dự yến phía sau điện Cần chánh, trong các bộ thành phục (áo dài có tay rộng). Buổi chiều, tiệc lại được dọn ra ở Duyệt thị đường dành cho các tôn tước từ tứ phẩm trở xuống, các công tôn, công tử, tôn thất, thích lý và quan lại đang làm việc tại Huế có phẩm trật từ tứ phẩm đến thất phẩm, cùng các quan đã về hưu từ ngũ phẩm trở lên. Ba ngày sau buổi lễ, các bô lão từ 70 tuổi trở lên được mời dự tiệc tại Thừa Thiên phủ.

Cũng cần nhắc lại là khoảng nửa năm trước cuộc lễ, Khâm sứ Huế Pasquier đã gửi cho Cơ mật viện một văn thư loan báo việc Toàn quyền Đông Dương Merlin quyết định gửi tặng vua Khải Định một con bạch tượng (voi trắng) do các thợ săn bắt được ở Đắc Lắc. Trong thư, có đoạn viết: “Quan Toàn quyền Đông Dương rất sung sướng được tặng hoàng đế kỷ vật này khi Ngài bắt đầu vào tuổi 40, và đối với ông, việc bắt được trên đất An Nam và chuyển giao lại cho triều đình một con bạch tượng trong năm nay chỉ có thể là một điều hạnh phúc đối với hoàng đế và nhân dân của ngài…”.

Tại buổi lễ chính, toàn quyền Merlin đích thân tham dự, hai bên trao đổi với nhau những bài diễn văn đầy tính ngoại giao. Trong sớ tấu, chỉ dụ về buổi lễ, người ta nói nhiều đến sự giản dị, tiết kiệm, song nếu những gì thật sự diễn ra đúng với chương trình đã vạch thì kinh phí bỏ ra không phải là nhỏ.

Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Cung đình Huế bên dòng sông Hương
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Khải Hoàn Môn và khán đài
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Một đoàn hát tuồn Nam Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Vũ công từ một nhóm dân tộc thiểu số
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Nhóm vũ công và hát của vùng Vinh và Thanh Hóa
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Cổng Ngọ Môn
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Các quan lại đang chờ ở điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Các quan lại đang quỳ ở điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Các quan lại đang quỳ ở điện Thái Hòa
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Vua Khải Định dùng bửa ăn trưa ở điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Tiệc dành cho các quan ở điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Điện Thái Hòa
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Thuyền của các Thái Hậu và Hoàng Hậu
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Thái tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại tương lai)

Tác giã bài : Lê Nguyễn
Hình của ông Ngô Văn Đức Vincent de Bordeaux

Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định, tháng 9 năm 1924 (Phần 1)

471 views

Vua Khải Định sinh năm 1885, tính đến năm 1924 là đủ 40 tuổi (ta). Song trước đó một năm, triều đình đã chuẩn bị dần lễ mừng tứ tuần đại khánh của ông

Ngày 17/5/1923, các thành viên Phủ Tôn nhơn (đúng ra là Phủ Tông nhơn) cùng văn võ đại thần dâng lên nhà vua một sớ tấu nhắc lại những đại lễ tứ tuần khánh tiết (mừng 40 tuổi) được tổ chức trọng thể vào các đời vua Minh Mạng (năm 1830), Thiệu Trị (năm 1846), Tự Đức (năm 1868), và ân cần “lưu ý” nhà vua rằng ông đang ở tuổi 39, chỉ còn một năm nữa để tổ chức lễ mừng 40 tuổi.

Tất nhiên là tờ tấu này được nhà vua hoan hỉ chấp nhận. Ông ban hành một chỉ dụ nêu lên sự cần thiết phải thực hiện việc này vì từ 50 năm qua, chưa từng có một lễ tứ tuần đại khánh nào được tổ chức (vì lẽ dễ hiểu là các vua sau vua Tự Đức, không có ai ở ngôi đến 40 tuổi cả). Tuy nhiên nhà vua cũng lưu ý là ngân quỹ năm 1924 không dồi dào như trước (do Pháp khống chế mọi khoản chi của triều đình), mặt khác nhiều lăng miếu đang xuống cấp, đang cần tiền tu sửa, nên phải tiết kiệm kinh phí trong buổi lễ.

Ngày 1/6/1923, Cơ mật viện chuyển qua tòa Khâm sứ Huế một bản sao tờ sớ tấu về lễ tứ tuần đại khánh của vua Khải Định để xin ý kiến. Trong thư phúc đáp, Khâm sứ Pasquier tỏ ý tán thành việc tổ chức lễ, nhưng cũng nhắc khéo với Cơ mật viện những lời lẽ của vua Khải Định muốn cho buổi lễ diễn ra trong sự giản dị và trang trọng, phù hợp với nghi thức của tổ tiên xưa. Mặc dầu lễ tứ tuần đại khánh sẽ diễn ra vào năm 1924, nhưng chương trình chi tiết buổi lễ đã được triều thần soạn thảo từ tháng 10/1923, căn cứ vào những gì đã diễn ra trong lễ tứ tuần của vua Tự Đức tổ chức vào năm 1868.

Xin xem phần 2 tiếp theo

Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Trên sân điện Thái hòa
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Điện Thái hòa
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Sân điện Cần Chánh trang hoàng trong dịp lễ mừng
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Gian nhà trưng bày các lễ vật của các quan tỉnh dâng tặng vua Khải Định vào dịp lễ mừng thọ vua 40 tuổi (Tứ Tuần Đại Khánh)
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924

Tác giã bài viết : Lê Nguyễn

Phương Tiện Di Chuyển Của Người Việt Xưa: Kiệu

3466 views

Bắt đầu từ thời phong kiến triều Nguyễn (1802-1945) vua chúa mỗi lần xuất cung đều dùng kiệu để đi lại. Sách Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ, do Nội các triều Nguyễn biên soạn, đã dành hẳn chương Nghi vệ (quyển 79) để miêu tả các loại kiệu dùng cho vua quan triều Nguyễn, với những quy định rất cụ thể về tên gọi, số lượng kiệu cùng các nghi trượng đi kèm, tùy thuộc vào thời thế, địa vị và thứ bậc của người sử dụng.
Dưới triều vua Gia Long (1802 – 1820), xe kiệu của vua có 4 chiếc, gồm 1 chiếc Ngọc lộ, 1 chiếc Kim lộ và 2 chiếc Kim bảo dư. Sang triều Minh Mạng (1820 – 1841), vua có 5 chiếc, được đặt tên là Cách lộ, Kim lộ, Ngọc lộ, Tượng lộMộc lộ. Tùy mục đích chuyến đi, nhà vua quyết định dùng loại “xe” nào.
Sách cũng cho biết khi vua đi chơi thì không thực hiện đầy đủ nghi thức như khi vua đi cúng tế ở các đàn miếu. Lúc này nhà vua chỉ sử dụng 1 chiếc lọng vàng thêu hình rồng để che mưa nắng, có đội quân tiền đạo và hậu hổ đi theo hộ tống. Dưới triều Minh Mạng, nhà vua quy định: ngự giá đi trong phạm vi Hoàng Thành thì phải giảm bớt một nửa số cờ quạt và không cần voi ngựa hộ tống để tránh… “kẹt đường”.

Kiệu Vua Duy Tân
Kiệu Vua Duy Tân

Kiệu của hoàng thái hậu, gọi là Từ giá, cũng hoành tráng không kém, gồm 1 Phượng dư và 1 Phượng liễn. Lỗ bộ tháp tùng Từ giá có 2 lá cờ rồng, 2 lá cờ phượng, 2 lá cờ thanh đạo, 8 lá cờ phướn, 2 quạt thêu hình rồng phượng màu vàng, 4 quạt thêu hình rồng phượng màu đỏ, 4 quạt thêu hình loan phượng màu xanh và thêm 20 thứ binh khí hộ vệ.
Kiệu của thái tử chỉ có 1 chiếc, gọi là xe Bộ liễn. Lỗ bộ tháp tùng xe này chỉ có 1 cờ lệnh, 2 cờ xanh, 2 cờ đỏ, 2 cờ vàng, 2 cờ trắng, 2 cờ đen, 8 lá cờ phướn, 1 chiếc tán hình tròn thêu hình 7 con rồng, 4 chiếc tán hình vuông, 4 chiếc lọng màu đỏ, 6 lọng màu xanh vẽ rồng mây…

Cựu hoàng Hàm Nghi trên chiếc xe ngựa với ý trung nhân, Bà Laloe
Cựu hoàng Hàm Nghi trên chiếc xe ngựa với ý trung nhân, Bà Laloe

Sang triều Khải Định (1916-1925), nhà vua được người Pháp tặng cho một chiếc xe hơi nhân lễ Tứ tuần Đại khánh (mừng thọ vua 40 tuổi). Từ đó, ngoài việc dùng ngự giá truyền thống trong các dịp tế lễ, đôi khi vua Khải Định còn dùng xe hơi để du ngoạn hay đi săn bắn ở bên ngoài Hoàng Thành.
Trước đó, triều đình có cho dựng ở phía trước Ngọ Môn 2 tấm bia đá, trên bia có ghi 4 chữ Hán: Khuynh cái hạ mã, nghĩa là khi đi ngang qua đây thì mọi người phải nghiêng lọng và xuống ngựa. Kể từ khi vua Khải Định dùng xe hơi, thì 2 tấm bia này không còn thích hợp nữa. Vì thế, triều đình đã cho nhổ 2 tấm bia này đưa vào cất giữ trong kho của Bảo tàng Khải Định (nay là Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế).
Đây cũng là nơi đang trưng bày chiếc kiệu sơn son thếp vàng của vua Bảo Đại, dùng để đi lại trong phạm vi Hoàng Thành Huế. Ngoài ra, trong kho của Bảo tàng này đang lưu giữ chiếc kiệu mà vua Bảo Đại đã từng dùng khi đi tế Nam Giao vào năm 1935.

Kiệu dành cho người Pháp du lịch bãi biển Đồ Sơn
Kiệu dành cho người Pháp du lịch bãi biển Đồ Sơn

Sang đến thời kỳ Pháp thuộc, kiệu vẫn được sử dụng nhưng đối tượng dùng kiệu được mở rộng. Vào thời này, kiệu còn dành cho các quan thuộc địa người Pháp cùng gia đình và những chức sắc người bản xứ trong việc đi kinh lý hoặc ngoạn cảnh. Trong những bức hình du ngoạn bãi biển Đồ Sơn dưới đây, người khiêng kiệu đều là phụ nữ bản xứ, họ gánh kiệu trên 2 thanh gỗ ngang và kiệu được đặt trên 2 thanh dọc dài hơn.

Kiệu dành cho… “Ông Tây, Bà Đầm”
Kiệu dành cho… “Ông Tây, Bà Đầm”

Vào thời phong kiến, quan lại triều Nguyễn không được phép dùng kiệu mà chỉ ngồi võng có mui che, được khiêng bởi 4 người lính. Đòn ngang của võng sơn son thếp vàng, khắc hình con giao long, đòn dọc của võng khắc hình con thú ứng với phẩm trật của vị quan ngồi trên võng.

Kiệu dành cho gia đình quan chức người bản xứ
Kiệu dành cho gia đình quan chức người bản xứ
Phụ nữ bản xứ vát kiệu bà tây
Phụ nữ bản xứ vát kiệu bà tây

Võng bằng lụa màu hồng. Mui che võng được quang dầu màu xanh để che mưa nắng. Quan lại trên hàng nhất phẩm thì có 4 người lính vác 4 chiếc lọng theo hầu, quan nhất phẩm chỉ có 3 lọng, quan nhị phẩm chỉ có 2 lọng và quan từ tam phẩm xuống đến cửu phẩm chỉ có 1 người vác lọng theo hầu.
Ngoài ra, những tân khoa thi đỗ đều được dùng võng để về làng “Vinh quy, Bái tổ”. Trong ca dao xưa có câu “Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau” để mô tả sự vinh quang của người học trò thành đạt.

Võng được dùng để phục vụ các quan lại trong triều
Võng được dùng để phục vụ các quan lại trong triều

Tin người đỗ đạt được đưa về làng, hương chức, dân làng họp ở đình, cắt cử người ra gập Tân khoa để ấn định ngày vinh quy, rước về nguyên quán. Thường thì đỗ Tú tài chỉ làng xã rước, đỗ Cử nhân hàng huyện phải rước, đỗ Tiến sĩ thì hương lý, trai tráng hàng tổng đem đủ nghi lễ, cờ quạt đón từ tỉnh rước về làng. Tuy nhiên, những người trong họ quan Tân khoa được miễn làm phu phen đi rước.

Nam Phương Hoàng hậu cùng hai con

908 views

Nam Phương Hoàng hậu dạo chơi trong công viên cùng với Thái tử Bảo Long và công chúa Phương Liên.


Son Altesse Impériale Nam Phương (Parfum du Sud), née Jeanne Marie-Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan, se promenant dans un parc avec le Prince Bảo Long et la Princesse Phương Liên.


Her Imperial Highness Phương Nam (South Parfum), born Jeanne Marie-Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan, walking in a park with Prince Bảo Long and Princess Phương Liên.

Vua Bảo Đại trong một chuyến công du tại Maroc

639 views

Vua Bảo Đại, năm 1932 khi ông 19 tuổi, trong một chuyến công du tại Maroc và người em họ (hoàng thân Vĩnh Cẩn) cùng ông Si Abd Al Rahman Barjach, Tổng trấn Rabat (thủ đô Maroc).


Sa Majesté l’Empereur d’Annam Bảo Đại, en 1932 à l’âge de 19 ans lors d’un voyage officiel au Maroc, à sa droite se trouvait son excellence Si Abd Al Rahman Barjach, Pacha de Rabat, et à sa gauche, son cousin le prince Vĩnh Cẩn.


His Majesty the Emperor of Annam Bảo Đại, in 1932 at the age of 19 during an official trip to Morocco, to his right was his excellence Si Abd Al Rahman Barjach, Pasha of Rabat, and to his left, his cousin Prince Vĩnh Cẩn.

Vua Khải Định tại Marseille vào năm 1922

988 views

Vua Khải Định (Nguyễn Phúc Bửu Đảo), hoàng tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại sau này) và hoàng thân Vĩnh Cẩn (cầm nón) trong chuyến công du tại Pháp, Marseille, ngày 21 tháng 06 năm 1922. Người khoát tay lên vai hoàng tử Vĩnh Thuy là ông Albert Sarraut (Bộ trưởng Bộ thuộc địa).


L’Empereur Khải Định (de son vrai nom Nguyễn Phúc Bửu Đảo), le Prince Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (fils unique de l’empereur Khải Định et futur Empereur Bảo Đại) et le Prince Vĩnh Cẩn, cousin du Prince Vĩnh Thụy, qui tient le chapeau conique, lors d’une visite officielle en France – ici à Marseille le 21 juin 1922. Se tenant à côté du Prince Vĩnh Thụy est Albert Sarraut, gouverneur général de l’Indochine.


The Emperor Khải Định (born Nguyễn Phúc Bửu Đảo), Prince Vĩnh Thụy (born Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, only son of Emperor Khải Định and future Emperor Bảo Đại) and Prince Vĩnh Cẩn, cousin of Prince Vĩnh Thụy who holds the conical hat, during an official visit in France – Marseille by June 21st 1922. standing next to Prince Vĩnh Thụy is Albert Sarraut, Governor General of Indochina.