Việt Nam Cộng hòa - Page 2

Phim “Như Giọt Sương Khuya” của đạo diễn Bùi Sơn Duân

1263 views

Phim chuyển thể từ tác phẩm Đừng Gọi Anh Bằng Chú của Nguyễn Đình Thiều.
Là bộ phim màu do Trần Quang, Bạch Tuyết, Đoàn Châu Mậu, Nguyễn Thị Tường Vy đóng chính.
Trong phim, Huấn (Trần Quang) là kỹ sư cơ khí du học từ Pháp về, nhưng không thích làm công chức hay làm công cho người ta, mà lên một tỉnh nhỏ vùng cao nguyên mở tiệm sửa xe hơi. Gặp lại người bạn cũ là anh của Dung (Bạch Tuyết), hai người này xúi Huấn đi buôn lậu quốc tế vùng Việt Miên Thái. Hạnh (Nguyễn Thị Tường Vy) em con cô của Dung gặp Huấn và yêu Huấn, nhưng Huấn lại yêu Dung. Trong cuộc Huấn đưa Dung sang Miên gặp Đạt, họ đụng độ bọn cướp. Dung bị bắn chết… Đây là loại phim hành động…
Đạo diễn Bùi Sơn Duân thành lập một hãng phim tư nhân mang tên Việt Ảnh, trong đó có đạo diễn Nguyễn Long, diễn viên Trần Quang và nhiều diễn viên khác kết hợp thành nhóm làm phim thể loại xã hội đen, buôn lậu. Ba phim Như Hạt Mưa SaNhư Giọt Sương KhuyaHải Vụ 709 đều là sản phẩm của hãng phim Việt Ảnh do ông làm Giám đốc.
Như Hạt Mưa Sa là bộ phim đen trắng, chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Ngọc Linh, do đạo diễn Bùi Sơn Duân dàn dựng năm 1971. Hợp diễn với Thẩm Thúy Hằng là Trần Quang, Bạch Tuyết, Đoàn Châu Mậu, Diễm Kiều… Người nữ nghệ sĩ khả ái này đảm nhận hai vai diễn là hai chị em sinh đôi với hai tính cách hoàn toàn trái ngược, cô chị thì dịu dàng và nữ tính, còn cô em thì trẻ trung, hiện đại. Bộ phim này cũng có doanh thu rất cao, riêng tiền lãi đã giúp cho nhà sản xuất đủ tiền làm tiếp phần 2 là Như Giọt Sương Khuya bằng phim màu, in tráng phim tại Hồng Kông. Nhưng ở bộ phim Như Giọt Sương Khuya quay vào năm 1972, nữ nghệ sĩ Bạch Tuyết vào vai chính bên cạnh nam diễn viên Trần Quang. Như Giọt Sương Khuya được chuyển thể từ tác phẩm Đừng Gọi Anh Bằng Chú của Nguyễn Đình Thiều, do đạo diễn Bùi Sơn Duân chỉ đạo diễn xuất.

Nhớ lại đạo diễn điện ảnh Bùi Sơn Duân

759 views

Đạo diễn điện ảnh Bùi Sơn Duân vừa là tên nghề nghiệp vừa là tên thật. Ông sinh năm 1932 tại Phú Yên và mất vào tháng 2 năm 2001 tại Hoa Kỳ. Trước 30/4/1975, đạo diễn Bùi Sơn Duân cộng tác với Trung tâm Quốc Gia điện ảnh (trực thuộc bộ Thông Tin) thực hiện phim tài liệu sau đạo diễn phim truyện, và 1969 ông ra lập hãng phim riêng lấy Việt Ảnh đặt văn phòng góc Pasteur – Hiền Vương Q3.
Trong quá trình nghề nghiệp, từ năm 1969 khi còn làm đạo diễn cho Trung tâm Quốc Gia điện Ảnh, đạo diễn Bùi Sơn Duân đã làm một cuộc “cách mạng” bằng cách sắp đặt tất cả tài tử diễn viên là người của điện ảnh mới và cũ cùng xây dựng phim, đặc biệt vai chính ông thường chọn một nam hay nữ nghệ sĩ cải lương nổi tiếng thời đó như Thanh Tú hoặc Bạch Tuyết đóng vai chính. Trong Ba Cô Gái Suối Châu do Thanh Tú thủ vai chính; còn trong phim Như Hạt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya cũng chỉ chọn nữ nghệ sĩ cải lương Bạch Tuyết góp mặt, cùng những khuôn mặt mới gồm Như Loan, Tony Hiếu, Trần Hoàng Ngữ…. Thấy đường lối trên làm ăn khá, khán giả hoan nghênh, đạt kết quả tốt đẹp về tài chánh, nhiều hãng phim khác đã đi theo, và nhờ đó mà một số nghệ sĩ cải lương được dịp chuyển sang lãnh vực điện ảnh và trở nên nổi tiếng hơn, như Hùng Cường, Thành Được, Thanh Nga, Bạch Tuyết v.v…
Khi đạo diễn Bùi Sơn Duân thành lập hãng Việt Ảnh, nhiều diễn viên trở thành “khuôn mặt tủ” của hãng như Trần Quang, Tâm Phan, Đoàn Châu Mậu, Lý Huỳnh, Bạch Tuyết, Như Loan, Trần Hoàng Ngữ, Tony Hiếu, quay phim Trần Đình Mưu cùng nhiều diễn viên trẻ khác kết hợp thành nhóm, làm phim thể loại xã hội đen, buôn lậu, như ba phim Như Hạt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya, Hải Vụ 709.
Như Hạt Mưa Sa là bộ phim đen trắng của hãng Việt Ảnh, chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Ngọc Linh, do Bùi Sơn Duân dàn dựng năm 1971 diễn xuất cùng Thẩm Thúy Hằng là Trần Quang, Bạch Tuyết, Đoàn Châu Mậu, Diễm Kiều… “Người đẹp Bình Dương” này đảm nhận hai vai diễn là hai chị em sinh đôi với hai tính cách hoàn toàn trái ngược, cô chị thì dịu dàng và nữ tính, còn cô em thì trẻ trung, hiện đại. Bộ phim có doanh thu rất cao, riêng tiền lãi đã giúp cho nhà sản xuất đủ tiền làm tiếp phần 2 là Như Giọt Sương Khuya bằng phim màu, in tráng phim tại Hồng Kông. Nhưng ở bộ phim Như Giọt Sương Khuya quay vào năm 1972, nữ nghệ sĩ Bạch Tuyết vào vai chính bên cạnh nam diễn viên Trần Quang. Như Giọt Sương Khuya được chuyển thể từ tác phẩm Đừng Gọi Anh Bằng Chú của nhà văn Nguyễn Đình Thiều.
Đạo diễn Bùi Sơn Duân còn thực hiện bộ phim Hải Vụ 709 vào năm 1974, do hãng phim Việt Ảnh hợp tác với hãng phim Dan Thai của Thái Lan. Truyện phim và đạo diễn do Bùi Sơn Duân đảm trách. Các diễn viên trong phim phía Thái Lan có Apinya và Duang Jai. Về diễn viên Việt Nam có Đoàn Châu Mậu, Trần Quang, Tony Hiếu, Tâm Phan, Trần Hoàng Ngữ… Quay phim Trần Đình Mưu. Phim đã quay nhiều cảnh đẹp ở Thái Lan cũng như những phong tục cổ truyền của nước này. Các cảnh quay trong nước được thực hiện tại Sài Gòn, Vũng Tàu, Phú Quốc. Một bộ phim màu hoành tráng và công phu, thuộc thể loại xã hội đen, buôn lậu.  Phim Hải Vụ 709 hoàn thành trước ngày 30/4/1975 nhưng chưa kịp chiếu ra mắt công chúng Sài Gòn.
Năm 1973, Liên hoan điện ảnh châu Á được tổ chức tại Sài Gòn. Nam tài tử Trần Quang được phân công đón tiếp phái đoàn điện ảnh các nước. Nhờ vậy, Trần Quang gặp Juisue Horikoshi, nữ diễn viên của Nhật Bản. Năm ấy cô 23 tuổi. Một tuần trôi qua nhanh, liên hoan kết thúc cũng là khi mối tình nảy nở nhưng chưa ai nói với ai lời nào. Khi tiễn đoàn ra phi trường, diễn viên sân khấu điện ảnh Mộng Tuyền (lúc còn hát cải lương có tên Kim Loan) đưa cho Trần Quang một chiếc bông tai : “Có người gửi cho anh cái này, mong có ngày đôi bông tai sẽ được tái ngộ”. Trần Quang chạy như tên bắn lên máy bay, ôm lấy cô ấy như một lời ngầm hẹn ước. Mối tình kéo dài đến năm 1974.
Năm đó đạo diễn Bùi Sơn Duân quyết định hợp tác với một hãng phim của Nhật làm phim Đôi Bông Tai dựa theo câu chuyện của Trần Quang, dự định hai diễn viên cũng chính là người thật : Trần Quang và Horikoshi. Còn cả hai tài tử dự định tháng 7 năm 1975 sẽ làm đám cưới và thực hiện bộ phim nhưng sau đó mọi chuyện đổi khác. Mối tình lãng mạn kéo dài trong ba năm đã kết thúc với những lời hẹn ước còn dang dở.  Trần Quang tâm sự  : “Sau này, nhiều lần tôi muốn qua Nhật tìm cô ấy, nhưng có cái gì níu bước chân tôi. Tôi muốn giữ lại trong nhau những hình ảnh đẹp nhất. Có thể cô ấy đã có chồng, đã có một cuộc sống hạnh phúc, tôi cũng đã có một cuộc sống khác.”
Bùi Sơn Duân vốn là một đạo diễn tâm huyết và rất yêu nghề. Sau năm 1975, với tên mới là đạo diễn Lam Sơn (như Lê Hoàng Hoa đổi tên Khôi Nguyên), ông đã thực hiện các bộ phim như : Giữa Hai Làn Nước, Bản Nhạc Người Tù, Đám Cưới Chạy Tang, Đường Dây Côn Đảo, Tiếng Đàn, Chiếc Vòng Bạc, Ông Hai Cũ, Con Gái Ông Thứ Trưởng, Biển Bờ, Chiều Sâu Tội Ác, Ba Biên Giới.
Năm 1977, trong vòng mấy tháng, đạo diễn Bùi Sơn Duân và nhà quay phim Nguyễn Đông Hồng cùng với đoàn làm phim của Xưởng phim Tổng hợp Thành phố đã làm xong phim Giữa Hai Làn Nước và cho ra mắt khán giả, bộ phim được đánh giá cao.
Năm 1989, đạo diễn Bùi Sơn Duân còn hỗ trợ cố vấn chỉ đạo nghệ thuật cho bộ phim vidéo Ba Biên Giới do Trần Quang (đang còn ở lại VN) muốn thử sức với vai trò đạo diễn.
Năm 1990, đạo diễn Bùi Sơn Duân xuất cảnh đi Mỹ. Năm 1993, ông nhận lời đạo diễn phim Gia Đình Cô Tư, một bộ phim hài với nghệ sĩ sân khấu điện ảnh Túy Hồng, và đây cũng là cuốn phim cuối cùng của ông.
Sống tại hải ngoại, Bùi Sơn Duân thành lập Hội Ðiện ảnh Việt Nam hải ngoại, tổ chức hằng năm các Ngày Điện Ảnh Việt Nam, ông từng tổ chức cuộc thi viết truyện phim với hy vọng khôi phục nền điện ảnh Việt Nam tại hải ngoại, nhưng chưa làm được gì đáng kể thì ông đã vĩnh viễn ra đi vào năm 2001 tại Pomona.
Đạo diễn Bùi Sơn Duân và cố nhạc sĩ Y Vân rất tâm đầu ý hợp nên bất cứ phim nào do đạo diễn Bùi Sơn Duân thực hiện đều mời nhạc sĩ Y Vân làm nhạc đệm cho phim của mình trước 1975 và sau 1975.
Đạo diễn Bùi Sơn Duân còn là bác ruột của diễn viên điện ảnh Thương Tín, hầu như các phim do ông làm đạo diễn sau 1975 đều luôn mời cháu ruột mình tham gia vai chính hoặc vai thứ ở các phim như Tiếng Đàn, Chiếc Vòng Bạc, Ông Hai Cũ, Biển Bờ, Chiều Sâu Tội Ác.

(Theo Nguyễn Việt viết và tổng hợp từ nhiều nguồn)

Vài hình ảnh bên trong thương xá TAX trước 1975

817 views

Vài hình ảnh bên trong thương xá TAXSài Gòn chụp trước 1975.


Quelques photos prises à l’intérieur des Grand Magasins TAX, anciennement appelé Grands Magasins Charner de Saigon, avant 1975.


Some pictures taken before 1975 inside the Grand Stores TAX, formerly known as Grands Magasins Charner de Saigon.

Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax

Thương xá TAX – nạn nhân của hành xử “giới hạn tầm nhìn”

424 views

Thương xá Tax, suy cho cùng cũng chỉ là nạn nhân của một tầm nhìn hạn hẹp về các giá trị văn hóa – lịch sử. Không ai biết nó hữu dụng như thế nào về giá trị giáo dục, kinh tế cho đến khi mất đi.

Phá bỏ hay giữ lại?
Sài Gòn – một trong những địa chính của Pháp thời kỳ chiếm đóng và đô hộ Việt Nam. Ngày nay được biết đến như một trung tâm chính của nền kinh tế Việt Nam.
Lượng khách du lịch đến với Sài Gòn ngày một tăng, không chỉ bởi Sài Gòn mang trong mình nét văn hóa tứ xứ vùng miền, mà cả những giá trị hiện vật về mặt lịch sử còn tồn tại đến ngày nay, nhất là các kiến trúc Pháp.

Thương xá TAX

Nhắc đến vùng đất này, người ta nghĩ ngay đến nhà thờ Đức Bà, bưu điện trung tâm hay thương xá Tax… Tất cả trở thành dấu ấn, linh hồn, giá trị thời gian biểu trưng từ tranh ảnh, đến tâm khảm người dân. Đùng một cái, tuyến Metro phục vụ cho nền kinh tế sôi động này xuất hiện. Và thương xá Tax, một biểu tượng của thời gian sẽ bị phá bỏ. Vì lý do kinh tế, vì sự phát triển của thành phố 10 triệu dân và là đầu tàu của cả nước.
Khi ông Lê Khắc Huỳnh, Phó trưởng Ban quản lý Đường sắt đô thị thành phố, tỏ ra tiếc nuối, xót xa, hẳn đó là cảm xúc thực của ông, nhưng nó sẽ không bồi đắp được sự mất mát trước về một biểu tượng về lịch sử. Nhất là khi thành phố ngày càng một vắng bóng các giá trị cổ xưa.
Dù vì lý do chính trị hay kinh tế, thì suy cho cùng, thương xá Tax hay hàng trăm ngàn hiện vật văn hóa – lịch sử còn sót lại trên mảnh đất hình chữ S cũng chỉ là nạn nhân của cách hành xử và ít nhiều biểu hiện của tầm nhìn.
Cách hành xử lẫn tầm nhìn đó đã khiến không ít di tích, hiện vật lịch sử – văn hóa cấp tỉnh đến quốc gia bị xâm hại nghiêm trọng đến xóa bỏ bằng cách đập nát, trùng tu bằng tư duy hiện đại với xi măng, cốt thép và độ lớn hoành tráng với các dị vật lân kì, rồng phượng như đã từng xảy ra với đình cổ Quang Húc, chùa Sổ, chùa Một Cột, chùa Dơi, làng cổ Đường lâm, di tích Lam Kinh, đền Đô, thành nhà Mạc, Đàn Nam Giao, thành nhà Hồ, chùa Phật Tích, chùa Trăm Gian, đình Ngu Nhuế, hệ thống biệt thự Pháp ở Đà Lạt, Hà Nội, di tích thánh địa Mỹ Sơn…
Hoặc rơi vào tình trạng đào lên – vứt đó một cách thê thảm như hoàng thành Thăng Long, một di tích đặc biệt quan trọng, và là di sản văn hóa thế giới (năm 2010). Nhưng từ khi phát tích cho đến nay (2014) lại được ưu ái ngâm mưa, ngâm nắng, đến nỗi nhiều người phải xót xa mà thốt lên: Nếu không làm được thì đừng đào lên, hãy lấp cát và giữ lại cho thế hệ sau.

Thương xá TAX

Học tầm nhìn và cách ứng xử
Các giá trị hiện vật lịch sử – văn hóa được xem như một thông điệp của quá khứ (Imbued with a message from the past, the historic monuments of generations of people remain to the present day as living witnesses of their age-old traditions, Hiến chương Venice 1964). Nhưng tại Việt Nam, chúng dần bị biến mất dưới nhiều hình thức, tỉ lệ nghịch với thái độ xông xáo khi xin cấp chứng nhận di tích/ di sản.
Biến mất không phải vì độ bào mòn về mặt thời gian, mà vì ý thức của những người làm trong công tác tìm kiếm, bảo tồn, quản lý văn hóa, lịch sử.
Ý thức đó khiến không biết bao nhiêu hiện vật bị đưa bán ra nước ngoài, bị phá bỏ cho mục đích kinh tế hay thậm chí bị xóa sổ từ cung cách đào lên – để đó – lấp lại.
Cách ứng xử đó không khác lắm về mặt bản chất như việc tượng Phật ở Afghanistan khi bị quân Taliban đánh sập (2001), hay các đình chùa, miếu mạo bị phá bỏ không thương tiếc trong thời kỳ đả thực bài phong ở Việt Nam.

Thương xá TAX

Rồi đây, kinh tế có “lên” hay không thì chưa biết. Nhưng các giá trị văn hóa – lịch sử dần dần mất đi, các biểu tượng sẽ xếp hàng chờ ngày “hành quyết”. Hiếm có ai nghĩ đến các giá trị mà nó mang lại trong hiện tại lẫn tương lai.
Bởi ít có nhà quản lý nào ở nước ta có được cái tầm nhìn sâu rộng để đưa đến cách ứng xử trân trọng với các giá trị đó nhằm tìm thấy sự hữu dụng trong giáo dục và kinh tế.
Hội An có lẽ may mắn hơn so với thương xá Tax và nhiều những hiện vật, di tích lịch sử – văn hóa khác ở Việt Nam. Vì nó được một người ra sức bảo vệ, bảo tồn. Người đó là ông Nguyễn Sự – Bí thư thành ủy Hội An. Ông là người vượt lên trên cái nhìn hạn hẹp trong bối cảnh lịch sử lúc đó, để giữ được một đô thị cổ Hội An và là di sản thế giới như ngày hôm nay.
Hành trình để cứu lấy các di sản văn hóa đó là cuộc hành trình đơn độc nhưng đầy quyết tâm giữ gìn cho bằng được của ông Nguyễn Sự thời kỳ đầu. Vượt ra khỏi cái quy luật “vì lý do kinh tế”.
Để rồi, Hội An giờ đây trở thành nơi hút khách du lịch, cũng bởi cái chất cổ xưa của nó, bởi giá trị văn hóa – lịch sử còn được bảo tồn và chính cái phố cổ ấy đã đóng góp không nhỏ cho ngân sách thành phố.

Thương xá TAX

Rõ ràng, cái cách hành xử với các giá trị văn hóa – lịch sử của ngày hôm nay thể hiện cái tầm nhìn xa về giá trị trong tương lai.
Vì thế, nếu vì cái lợi trước mắt mà các nhà quản lý đối xử rẻ rúng với các hiện vật lịch sử như đã từng đối xử với đoàn tàu leo núi ở Đà Lạt. Để rồi, phải ôm hận vì cách hành xử đó.
Thương xá Tax hay Hội An, cũng chỉ là cách biểu hiện ngắn hay dài, thiển cận hay xa về tầm nhìn mà thôi.

Theo Lê Tuấn

Nhớ về Thương xá TAX !

664 views

Thương xá Tax có một lịch sử lâu đời và được bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ 19, là một phần của Sài Gòn xưa hoa lệ. Tòa nhà cùng với những công trình kiến trúc thời Pháp thuộc khác như Chợ Bến Thành, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố, Nhà hát lớn thành phố, Dinh toàn quyền (nay là Hội trường Thống Nhất), Dinh Xã Tây (này là Ủy ban nhân dân thành phố) góp phần tạo nên một “Hòn ngọc Viễn Đông”, một “Ville de Sai Gon” tao nhã và sôi động bậc nhất Châu Á thời bấy giờ.
Thương xá Tax ngày ấy được mang tên Les Grands Magazins Charner (GMC) được xây dựng theo phong cách kiến trúc Pháp với những nét chấm phá mang đậm đường nét văn hóa Á Đông. Les Grands Magazins Charner tọa lạc tại vị trí đẹp nhất của trung tâm Sài Gòn, kinh doanh các mặt hàng bazar sang trọng được nhập khẩu chủ yếu từ Anh, Pháp và các nước phương tây nhằm phục vụ cho giới thượng lưu Sài thành và các đại điền chủ Lục tỉnh Nam kỳ vào thời kỳ đó.
Cùng với việc kinh doanh tại GMC rất hưng thịnh, để tận dụng tối đa công năng và hiệu quả sử dụng tòa nhà, người chủ GMC đã quyết định đập bỏ tháp đồng hồ và xây thêm một tầng nữa, đồng thời chữ GMC được đặt trên nóc tòa nhà, quan khách có thể nhìn thấy từ rất xa.

Thương xá TAX

Đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, tòa nhà GMC được Hội Mậu Dịch đổi tên thành Thương xá Tax, mặt bằng được chia nhỏ và cho các tiểu thương thuê vị trí để buôn bán. Vào thời kỳ này, việc mua bán vẫn rất nhộn nhịp, hàng hóa không khác mấy so với trước, đồng thời các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới bắt đầu được du nhập nhiều hơn vào Việt Nam.
Sau ngày 30/4/1975 tòa nhà Thương xá Tax được giao lại cho UBNDTP, Tòa nhà không còn là địa điểm kinh doanh sầm uất; mặt bằng thỉnh thoảng được tận dụng làm không gian trưng bày các mặt hàng, máy móc công nghiệp do các đơn vị quốc doanh của thành phố sản xuất.
Đúng ngày Quốc tế Thiếu nhi 01/6/1978, một lần nữa Thương xá Tax được đổi tên thành Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi Thành phố, với đội ngũ mậu dịch viên khăn quàng đỏ, đánh dấu sự náo nhiệt trở lại của tòa nhà tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh sau một thời gian trầm lắng.
Đến năm 1981, trên cơ sở sáp nhập Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi và các quầy hàng chuyên doanh trong tòa nhà trước đó, UBNDTP quyết định thành lập Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Thành phố trực thuộc Sở Thương Nghiệp để nâng tầm hoạt động, đáp ứng việc phục vụ rộng rãi nhu cầu người tiêu dùng và tòa nhà là một trong những cửa hàng lớn nhất Việt Nam thời bấy giờ.
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử cùng biến động của thành phố, tòa nhà vẫn tiếp tục tồn tại một cách bền vững và lặng lẽ. Tuy nhiên, dấu ấn thời gian ngày một in hằn trên từng cây cột và từng mảng tường… bản thân tòa nhà cần được đầu tư sửa chữa một cách tổng thể.
Những năm cuối thập niên 90 của Thế kỷ 20, tòa nhà một lần nữa được cải tạo và chuẩn bị cho giai đoạn buôn bán tấp nập, thịnh vượng mới. Thời điểm này, tòa nhà trở thành một trung tâm giao dịch thực sự, hàng hóa tại đây vô cùng phong phú, từ hàng may mặc, mỹ nghệ đến những mặt hàng xa xỉ đều xuất hiện. Việc giao thương với người Nga rất được chú trọng nên thời kỳ này tòa nhà còn có một tên gọi khác là “chợ Nga”.

Thương xá TAX

Ngày 18/10/1997, Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Thành phố được đổi tên thành Công ty Bán lẻ Tổng hợp Sài Gòn, trực thuộc Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA).
Ngày 19/01/1998, dòng chữ THƯƠNG XÁ TAX chính thức được đặt trên nóc tòa nhà thay thế dòng chữ Cửa Hàng Bách Hóa Tổng Hợp Thành Phố, đánh đấu sự trở lại của một thương hiệu đã tồn tại và ăn sâu vào nếp nghĩ của người Saigon xưa.
Bước vào thời kỳ đổi mới, trước sự cạnh tranh từ các trung tâm thương mại do người nước ngoài đầu tư và quản lý, một lần nữa áp lực cạnh tranh đã buộc Thương xá Tax phải tự làm mới mình.
Ngày 26/4/2003, một Trung tâm Thương mại hiện đại mang tên THƯƠNG XÁ TAX được khánh thành.
Tòa nhà với câu chuyện hơn “100 năm lịch sử” đã và đang là một trung tâm thương mại sầm uất, lâu đời nhất tại Việt Nam; một địa điểm tham quan du lịch nổi tiếng của Thành Phố Hồ Chí Minh, kết nối với những di tích vang bóng một thời như: Bưu điện Trung tâm Thành phố, Nhà thờ Đức Bà, Nhà hát lớn Thành phố, Chợ Bến Thành, Dinh Độc lập và các Bảo tàng đã và đang cùng nhau góp phần quảng bá hình ảnh và con người Việt Nam nói chung và Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng đến với bạn bè thế giới.

Theo Thương Xá Tax website

Đôi điều về bánh Trung Thu Đông Hưng Viên ở Saigon trước 1975

910 views

Đông Hưng Viên là thương hiệu quen thuộc với người Saigon từ rất lâu trước năm 1975 cùng với các thương hiệu nay đã không còn nữa như Tân Tân (có một chi nhánh ở Paris), Long Xương, Đại Chúng, Vĩnh Hưng Tường…

Trước 1945, trục đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) nối liền Saigon-Chợ Lớn, là trung tâm buôn bán sầm uất. Dọc trục đường này mọc lên dãy phố cao lầu, tửu điếm, hiệu buôn nhộn nhịp người mua kẻ bán, ăn uống, đàn ca hát xướng. Vào mùa trung thu, các loại bánh nướng, bánh dẻo được làm thủ công, bày bán nhưng còn rất thưa thớt. Tới những năm 50 của thế kỷ trước, các quầy bánh trung thu mới bắt đầu xuất hiện nhiều nhưng cũng chỉ quanh quẩn khu vực Chợ Lớn. Đến những năm 60, bánh trung thu mới được tiêu thụ rộng rãi hơn ở Saigon – Chợ Lớn, và bắt đầu được người dân các tỉnh miền Nam bộ và Trung bộ ưa chuộng. Lúc này, những cái tên Đồng Khánh, Long Xương, Tân Tân, Đại Chúng, Đông Hưng Viên… đã trở thành những thương hiệu quen thuộc với người dân nơi đây.
Ở Sài Gòn ngày trước có một thương hiệu bánh trung thu mà ai cũng biết và đến ngày nay thương hiệu này vẫn còn. Bánh trung thu Ðông Hưng Viên đã danh tiếng hơn một thế kỷ nay, bắt đầu từ phố hàng Buồm Hà Nội (Escalier D’or Hà Nội cũ), sau đó năm 1954 thương hiệu bánh trung thu Đông Hưng Viên theo dòng người di cư đến Saigon và trở thành 1 thương hiệu bánh trung thu gia truyền nổi tiếng của người Việt tại địa chỉ 23, Phan Chu Trinh, cửa Tây chợ Bến Thành và giữ vững cho đến năm 1975.
Tuy nhiên, sau năm 1975, người chủ tiệm của Đông Hưng Viên đã sang Mỹ. Hai thợ làm bánh chính của tiệm này, một người là ông Bốc Mỹ Nguyên đã ra nước ngoài sinh sống, một người ở Saigon (đã mất). Thợ bánh chính của Đông Hưng Viên ở Saigon (hoạt động từ 1975) hiện nay là anh Nguyễn Văn Hùng, học nghề từ ông Bốc Mỹ Nguyên, cũng như tiệm Đông Hưng Viên ở Saigon không còn liên quan đến người chủ của thương hiệu Đông Hưng Viên bên Mỹ.
Bà Hoàng Kim Loan chủ tiệm bánh Đông Hưng Viên tại Hoa Kỳ, là người kế thừa bí quyết làm bánh trung thu gia truyền từ người cha. Ba của bà là thợ chính của tiệm bánh Đông Hưng Viên tại Hà Nội kể cả khi Đông Hưng Viên “di cư” vào Saigon. Ông đã để lại cuốn sổ ghi công thức bánh trung thu Đông Hưng Viên cho bà, cô con gái thứ 7 của gia đình 10 người con. Bà Kim Loan và em gái đã sang Hoa Kỳ định cư cùng với cuốn sổ ghi bí quyết làm bánh của Đông Hưng Viên và bà mở tiệm tại đây.
Ở Hoa Kỳ có duy nhất 1 tiệm bánh trung thu Đông Hưng Viên tại địa chỉ: 8536 Westminster Blvd. Westminster, CA 92683. Lúc đầu tiệm bánh Đông Hưng Viên ở Hoa Kỳ nằm tại quận Cam, ra đời năm 1992 toạ lạc tại đường Bolsa. Sau đó đến cuối năm 1995 tiệm bánh Đông Hưng Viên được dời về Westminster.
Ngoài ra ở Saigon hiện nay cũng có một cơ sở bánh trung thu Đông Hưng Viên hiện có ở địa điểm số 176-177, Bãi Sậy, Q6. Nhưng cơ sở này không liên quan đến cơ sở của Đông Hưng Viên tại Mỹ có thể cũng là do gia truyền từ một người thợ chính của lò bánh trung thu Đông Hưng Viên từ trước năm 1975 để lại.

Tổng hợp từ Hòn Ngọc Viễn Đông & những nguồn khác

Thẩm Thúy Hằng – Sắc đẹp một thời Saigon

1156 views

Trước năm 1975, Thẩm Thúy Hằng là “minh tinh màn bạc” bởi không chỉ đóng nhiều phim trong nước mà còn tham gia nhiều phim trong khu vực Đông Nam Á. Nổi lên từ vai diễn Tam Nương trong phim Người đẹp Bình Dương, Thẩm Thúy Hằng mang luôn biệt danh này nhờ sự ái mộ của công chúng, và trở thành biểu tượng nhan sắc phụ nữ một thời ở Sài Gòn nói riêng, miền Nam nói chung.
Thẩm Thúy Hằng không chỉ đóng phim mà còn đóng kịch và cũng khá nổi tiếng trên sân khấu kể cả trước và sau giải phóng. Là một mỹ nhân, lại là người nổi tiếng suốt mấy thập niên, nhưng Thẩm Thúy Hằng ở tuổi xế chiều có cuộc sống hoàn toàn khép kín. Bà tu tại gia, nghiên cứu Thiền học, làm từ thiện, hầu như ít tiếp xúc bên ngoài. Cuộc đời của một phụ nữ sắc nước hương trời,9 Th Thuy Hang 1C sự nghiệp nghệ thuật lẫy lừng đã đi đến những ngày tàn tạ.

Thẩm Thúy Hằng

Tiền cát-xê mua được 1 kg vàng

Cô gái sinh năm 1941 tại Hải Phòng có cái tên giản dị Nguyễn Kim Phụng cùng gia đình di cư vào Nam và ngụ tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Lúc nhỏ, Kim Phụng học tại trường tiểu học Huỳnh Văn Nhứt, Long Xuyên. Hết bậc Tiểu học, Kim Phụng lên Sài Gòn ở với người chị theo học Trung học tại trường Huỳnh Thị Ngà, Tân Định. Năm Kim Phụng lên 16 tuổi học lớp Đệ tứ (lớp 9 bây giờ) đã nức tiếng là một hoa khôi trong giới học sinh.
Cũng chính năm ấy, hãng phim Mỹ Vân – một hãng phim lớn tổ chức cuộc thi tuyển diễn viên điện ảnh. Cô gái vừa chớm tuổi trăng tròn đã lén gia đình và vượt qua 2.000 cô gái đẹp khác trên khắp miền Nam tham dự tuyển. Ông bà chủ hãng phim Mỹ Vân đã đặt cho Kim Phụng nghệ danh Thẩm Thúy Hằng, và gửi cô đi Hong Kong dự lớp đào tạo diễn xuất ngắn ngày.
Từ đây, cô gái Kim Phụng đã có cơ hội vàng bước vào lĩnh vực “nghệ thuật thứ bảy”. Chỉ một bước ngắn thôi, nhưng điều này đã khiến Kim Phụng nhảy vọt rất xa lên tuyệt đỉnh vinh quang.

Thẩm Thúy Hằng

Với vai diễn đầu tiên Tam Nương trong phim Người đẹp Bình Dương – một phim đen trắng của hãng phim Mỹ Vân do nghệ sĩ Năm Châu đạo diễn, ra mắt công chúng năm 1958, Thẩm Thúy Hằng đã nổi lên như một ngôi sao điện ảnh và chinh phục khán giả màn ảnh rộng lúc bấy giờ. Cái tên “Người đẹp Bình Dương” đã theo Thúy Hằng đi suốt cuộc hành trình nghệ thuật thập niên 50 – 60… cho đến ngày 30-04-1975.
Sau khi trở thành ngôi sao tỏa sáng làng điện ảnh, Thẩm Thúy Hằng được các hãng phim lúc bấy giờ mời vào vai chính liên tục. Bà đóng rất nhiều phim (khoảng 60 phim) và trở thành minh tinh số một với tiền cát-xê một triệu đồng cho một vai diễn (tương đương một kg vàng 9999 thời bấy giờ).
Ngoài vai diễn đầu tiên Tam Nương trong phim Người đẹp Bình Dương, một vai diễn khác cũng rất đẹp của Thẩm Thúy Hằng từng gây được tiếng vang góp phần đưa tên tuổi của bà lên nấc thang danh vọng, đó là vai Chức Nữ trong bộ phim Ngưu Lang Chức Nữ cũng do hãng phim Mỹ Vân sản xuất, NSND Năm Châu đạo diễn. Khán giả không thể quên nàng Chức Nữ đẹp lộng lẫy, sương khói đang bay về trời trong tiếng hát thánh thót như ngân lên từ những áng mây huyền ảo, thần tiên trong nhạc cảnh Chức Nữ về trời do Phạm Duy soạn nhạc.
Trong số lượng phim đồ sộ do Thẩm Thúy Hằng tham gia đóng vai chính, có thể kể đến một số bộ phim nổi tiếng như: Trà Hoa Nữ, Tấm Cám, Sự tích Trầu Cau, Bạch Viên – Tôn Cát, Nửa hồn thương đau, Đôi mắt huyền, Dang dở, Tơ tình, Oan ơi Ông Địa, Bóng người đi, Ngậm ngùi, Sóng tình, 10 năm giông tố, Xin đừng bỏ em… Những phim đó, Thẩm Thúy Hằng đóng chung với các tên tuổi “gạo cội” trong làng diễn viên điện ảnh cũng như sân khấu cải lương lúc bấy giờ như: La Thoại Tân, Kim Cương, Trần Quang, Thanh Thúy, Thành Được, Út Bạch Lan, Túy Hoa.

Trên đỉnh cao danh vọng

Thẩm Thúy Hằng
Giai đoạn rực rỡ nhất của Thẩm Thúy Hằng là khoảng thời gian 1965-1972, phim nào có bà đóng cũng đạt doanh thu rất cao. Năm 1969, Thẩm Thúy Hằng đứng ra thành lập hãng phim riêng mang chính tên của bà là hãng phim Thẩm Thúy Hằng (tiền thân của hãng phim Vilifilms sau này).
Không chỉ hợp tác làm phim, đóng phim ở nước ngoài mà đi đâu, dự bất cứ cuộc liên hoan phim nào, Thẩm Thúy Hằng cũng đều được trọng vọng, sánh ngang hàng với các diễn viên nổi tiếng nước ngoài. Đây là một trường hợp đặc biệt, hiếm có. Đồng thời những năm đó, không chỉ tham gia đóng phim tình cảm tâm lý xã hội, Thẩm Thúy Hằng cũng bước sang lĩnh vực phim hài và phim kinh dị như: Chàng ngốc gặp hên, Giỡn mặt tử thần… Ở lĩnh vực nào, bà cũng thành công.
Chính nhờ vào tài năng và nhan sắc, Thẩm Thúy Hằng đạt được đỉnh cao danh vọng khi liên tục nhận được những giải thưởng cao của điện ảnh Châu Á và quốc tế: Hai lần đoạt giải diễn viên xuất sắc Á Châu tại LHP Đài Bắc, Ảnh hậu Á Châu trong LHP Á Châu tổ chức tại Hong Kong và Đài Loan năm 1972 – 1974, Nữ diễn viên khả ái nhất tại LHP Mátxcơva và Tasken tại Liên Xô năm 1982, vượt qua những nữ diễn viên xinh đẹp đến từ Đông Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, Mông Cổ…
Thành công và nổi tiếng trên lĩnh vực điện ảnh, Thẩm Thúy Hằng cũng nổi tiếng và thành công cả trên lĩnh vực kịch nói, cải lương, tân nhạc. Ban kịch Thẩm Thúy Hằng sánh ngang vai với những ban kịch nổi tiếng thời bấy giờ như: Kim Cương, Mộng Tuyền, Dân Nam, Tân Dân Nam, Túy Hoa – Túy Phượng, Duy Lân, La Thoại Tân… và được xếp vào “top ten” những ban kịch nổi tiếng, đồng thời, bà cũng được xếp vào danh sách 12 diễn viên sáng giá của kịch nghệ miền Nam.

Thẩm Thúy Hằng
Thẩm Thúy Hằng không chỉ đóng vai trò Trưởng ban kịch mà còn viết kịch bản, thủ vai chính. Một số vở kịch phát trên sóng truyền thanh hay trên màn ảnh nhỏ thời đó có sự góp mặt của Thẩm Thúy Hằng được khán giả ghi nhớ như: Sông dài, Vũ điệu trong bóng mờ, Người mẹ già, Đôi mắt bằng sứ, Suối tình, Dạt sóng
Trước năm 1975, Thẩm Thúy Hằng thường xuyên xuất hiện trên sân khấu “Đại nhạc hội”, nhưng không phải diễn kịch, đóng cải lương mà là hát tân nhạc. Một số ca khúc do Thẩm Thúy Hằng thể hiện trên lĩnh vực này tương đối thành công là Hai chuyến tàu đêm của Trúc Phương và Tình lỡ của Thanh Bình. Ngoài ra, hình ảnh của Thẩm Thúy Hằng đi liền với Thanh Nga thường xuyên xuất hiện trên bìa các báo xuân và lịch tết với biểu tượng một người là “Nữ hoàng điện ảnh”, người kia là “Nữ hoàng sân khấu cải lương”. Cả hai đều đại diện cho nhan sắc phụ nữ được nhiều người ái mộ.

Một bông hồng và nhân duyên trời định
Sau 30-04-1975, trong lúc một số nghệ sĩ chạy ra nước ngoài định cư thì Thẩm Thúy Hằng cùng chồng là Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh từ chối những cơ hội ra đi mà chọn con đường ở lại quê nhà. Ông Nguyễn Xuân Oánh từng làm phó thủ tướng kiêm thống đốc ngân hàng chế độ cũ, sau đó là quyền thủ tướng trong 2 năm: 1964 – 1965. 9 Th Thuy Hang 5Sau năm 1975, có thời gian ông làm cố vấn kinh tế cho tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Ông Nguyễn Xuân Oánh mất vào ngày 29/8/2003 vì bệnh tim, thọ 82 tuổi. Mọi người đều nhìn nhận chính ông Nguyễn Xuân Oánh (lớn hơn Thẩm Thúy Hằng 20 tuổi) đã ảnh hưởng rất nhiều tới tên tuổi, cuộc đời và sự nghiệp của bà qua hai giai đoạn biến cố của lịch sử. Do đó nói về Thẩm Thúy Hằng mà không nhắc tới ông Nguyễn Xuân Oánh là điều thiếu sót.
Ông Nguyễn Xuân Oánh sinh năm 1921 tại Bắc Giang, từng theo học ngành kinh tế Đại học Harvard. Ông tốt nghiệp Tiến sĩ kinh tế vào năm 1954 và làm việc tại Ngân hàng Thế giới một thời gian trước khi về nước đảm nhận vai trò thống đốc ngân hàng quốc gia vào năm 1963 (sau khi Ngô Đình Diệm bị đảo chính).

Thẩm Thúy Hằng
Có giai thoại kể rằng năm GS-TS Nguyễn Xuân Oánh về nước, vừa bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất có một hàng rào người đẹp Sài Gòn đón chào và tặng hoa. Chính “Người đẹp Bình Dương” nổi tiếng đã gắn lên ve áo vest của ông Nguyễn Xuân Oánh một bông hồng đỏ thắm. Đóa hồng định mệnh này đã tạo cơ hội cho cả hai quen nhau, một chính khách đang nổi lên trên chính trường và nữ minh tinh khả ái. Sau đó, họ thành vợ chồng, vượt qua tất cả những xì xào, bàn tán của dư luận một thời.
Trong giai đoạn GS-TS Nguyễn Xuân Oánh tham gia chính trường chế độ cũ, trong những buổi tiếp tân, chiêu đãi chính khách, quan khách trong ngoài nước, nhiều “mệnh phụ phu nhân” vợ của chính khách, tướng tá đã tỏ vẻ khó chịu khi phải sánh ngang hàng với Thẩm Thúy Hằng – phu nhân của phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh. Họ cho rằng bà không xứng đáng để ngồi cùng bàn, ăn cùng mâm, đi đứng ngang hàng với họ vì bà thuộc đẳng cấp khác, hay nói thẳng ra là “phường xướng ca vô loài”.
Có lẽ nhận thấy điều này và tránh cho chồng phải khó xử nên những lần sau, Thẩm Thúy Hằng từ chối, không tham gia những bữa tiệc sặc mùi chính trị và phân chia giai cấp ấy nữa.
Sau 30/4/1975, ông Nguyễn Xuân Oánh được tin tưởng trong vai trò cố vấn kinh tế của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông cũng được bầu vào Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Còn nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng tiếp tục đóng phim, diễn kịch. Nhiều vai của bà trong các vở kịch nói như: Cho tình yêu mai sau, Đôi bông tai,Hoa sim gai trắng… đã làm sáng thêm tên tuổi Thẩm Thúy Hằng. Bà được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú.

Thẩm Thúy Hằng

Thảm họa dao kéo
Sau vai diễn Phồn Y trong vở Lôi vũ trên sân khấu kịch nói của đoàn Kim Cương, NSƯT Thẩm Thúy Hằng chính thức từ giã sân khấu, màn ảnh và các hoạt động nghệ thuật khác để lui về cuộc sống khép kín ở ngôi nhà riêng trên đường Cách mạng Tháng Tám. Ở đây, vợ chồng ông Nguyễn Xuân Oánh nghỉ hưu, xa rời chốn quan trường, còn Thẩm Thúy Hằng muốn che giấu mọi người thời kỳ nhan sắc tàn tạ của mình trong giai đoạn biến chứng cuối cùng của chất silicon.
Những năm tháng này đối với “Nữ hoàng nhan sắc” quả thật là tột cùng của sự đau khổ. Bà đã trải qua nhiều cuộc giải phẫu lớn nhỏ và sử dụng phương pháp tiêm botox thường xuyên để chống chọi với sự tàn phá của hóa chất trong cơ thể. Nhưng dù cố gắng hết sức, bằng mọi phương pháp kéo dài thời gian nhưng rồi “Người đẹp Bình Dương” lộng lẫy một thời cũng phải chấp nhận sự thật: tất cả những gì đẹp đẽ trước đây đã bị đào thải, gương mặt bà biến dạng từng ngày.
Căn nhà ở đường Cách mạng Tháng Tám cũng được bán đi, vợ chồng ông Nguyễn Xuân Oánh – Thẩm Thúy Hằng mua một ngôi nhà khác ở vùng Bình Quới quận Bình Thạnh và lui về ẩn dật theo đúng cả hai nghĩa đen và nghĩa bóng. Ông và Thẩm Thúy Hằng không tiếp xúc với bên ngoài, sống gần như trong bóng tối, ăn chay trường, tu tại gia, nghe kinh và làm việc từ thiện.
Nghe nói sau khi nghe một nhà sư đến thuyết pháp, đeo vào cổ một tượng Phật bằng vàng, ông Nguyễn Xuân Oánh dường như ngộ ra vẻ vô thường nên sống ung dung tự tại cho đến khi chết vì một cơn đau tim vào năm 2003. Từ ngày chồng chết, Thẩm Thúy Hằng càng lẻ loi, cô độc trong căn phòng ẩn kín tràn ngập bóng tối. Bà mặc áo nâu sòng, lấy pháp danh nhà Phật, che giấu gương mặt biến dạng để đi làm việc từ thiện với nhà chùa.

Thẩm Thúy Hằng
Có lẽ, bà sẽ sống yên ổn với huyền thoại và hào quang cũ, và hình ảnh “Người đẹp Bình Dương” vẫn tồn tại trong tâm tưởng mọi người nếu Thẩm Thúy Hằng không xuất hiện tại đám tang của NSND Phùng Há và trực suốt đêm bên quan tài của “Má Bảy”, theo đúng nghi lễ thầy trò. Tuy mặc áo tang đen và che giấu mặt, nhưng chân dung hiện tại của “Người đẹp Bình Dương” sau biến chứng silicon đã lộ ra và mấy tấm ảnh sau đó đã bị tung lên mạng.
Không có gì tồn tại mãi trên cõi đời này, mà điều phù du nhất chính là nhan sắc. Nhưng với một người quá nổi tiếng trên lĩnh vực nghệ thuật, giải trí như Thẩm Thúy Hằng, lại đẹp lộng lẫy như biểu tượng đã biến thành chuẩn mực của bất cứ người phụ nữ nào và trước sự ngưỡng mộ của công chúng, nhan sắc đó không thể bị tàn tạ với bất cứ lý do gì. Người ta hiểu được tâm lý ấy và chính vì thế nên hoàn toàn chia sẻ nỗi khổ đau của Thẩm Thúy Hằng trong hiện tại,9 Th Thuy hang 7 bởi không có gì buồn thảm hơn một người sống mà phải luôn luôn giấu kín gương mặt sau lớp vải ngụy trang.

Bi kịch cuối đời
Vợ chồng Thẩm Thúy Hằng có 4 người con trai hiện ở nước ngoài và đều thành đạt. Họ lại là những đứa con hiếu thảo, luôn về thăm viếng cha mẹ và bao bọc bà trong lúc tuổi già. Nhưng ở đời không ai được hưởng trọn vẹn may mắn, hạnh phúc luôn tiềm ẩn sự rủi ro, thậm chí cả bi kịch. Thẩm Thúy Hằng cũng thế, nếu thông tin mới đây là sự thật thì đúng là một cú sốc lớn cho bà vào cuối đời.
Người ta nói rằng Thẩm Thúy Hằng đã công khai với một vài tờ báo vào chiều ngày 8/7/2011 rằng bà có một đứa con gái bị bỏ rơi vào lúc đang ở tột đỉnh vinh quang. Đứa bé gái này bà đặt tên là Nguyễn Thụy Thi Hằng để đánh dấu thời kỳ vinh quang ấy. Do hoàn cảnh ngang trái, bà đã gửi cho một gia đình quen nuôi dưỡng. Sau năm 1975, gia đình này sang Mỹ và đứa con gái của Thẩm Thúy Hằng cũng theo cha mẹ nuôi đi mất từ lúc đó.
Sau những khổ đau day dứt, hối hận dày vò, Thẩm Thúy Hằng đã tìm ra manh mối đứa con gái lạc loài của mình và mong sẽ có ngày đoàn tụ. Nhưng cô gái ấy, theo hình ảnh có được hiện nay là một cô gái trưởng thành, rất đẹp, giống Thẩm Thúy Hằng thời trẻ như hai giọt nước, bằng những lời lẽ mềm mỏng, lễ độ đã lên tiếng phủ nhận mối quan hệ này trên màn ảnh truyền hình Mỹ mới đây qua một cuộc phỏng vấn.

Theo VN Express

Nắng Chiều (1971) Phim Saigon trước 1975 của đạo diễn Lê Mộng Hoàng

1592 views

Nắng Chiều” là bộ phim màu do Hãng phim Lido sản xuất, đạo diễn Lê Mộng Hoàng thực hiện năm 1971, với sự tham gia của các diễn viên như: Thanh Nga, Hùng Cường, ca sĩ Phương Hồng Ngọc, Ngọc Phu…
Nội dung của “Nắng Chiều” nói về mối tình đầy trắc trở của một cô thôn nữ (Thanh Nga) và anh chàng lính ngụy (Hùng Cường). Hai người yêu nhau, nhưng đã bị cô em họ (Phương Hồng Ngọc) ganh ghét, tìm cách chinh phục anh lính. Vì không được anh lính đoái hoài tới, cô đã thuê mướn bọn lưu manh chặn đường cô thôn nữ để hãm hiếp tập thể. Tủi nhục, cô thôn nữ bỏ vào chùa đi tu để quên đi nỗi thương đau. Nhiều lần người yêu của cô tìm tới chùa để thuyết phục cô trở về cuộc sống đời thường, song cô đều tránh mặt, không dám gặp lại người yêu vì thấy mình không còn xứng đáng nữa. Nhưng rồi cuối cùng bằng sự kiên nhẫn của anh lính, sự giúp đỡ của gia đình cô thôn nữ và sự hối hận của cô gái hàng xóm hại người, đã đưa cô thôn nữ xa rời cửa Phật để trở về với người yêu của mình, hạnh phúc bên nhau. Trong phim này, có cảnh anh lính chơi đàn ghita và hát bài “Nắng chiều” của nhạc sĩ Lư Trọng Nguyễn, do chính nghệ sĩ Hùng Cường hát.

Những giờ Việt văn – Du Yên

437 views

Lên trung học, năm 1963, tôi được vào Trường Nữ Trung Học Gia Long.

I. Đôi dòng lịch sử:

Trường được khởi công xây cất từ năm 1913 và khánh thành vào năm 1915. Lớp học đầu tiên khai giảng có 42 nữ sinh, phần nhiều cư ngụ ở vùng Sài Gòn. Trường có nhiều cấp lớp, từ lớp mẫu giáo đến những lớp cao hơn. Áo dài màu tím được chọn làm đồng phục cho nữ sinh, cho nên trường được gọi là “Trường Nữ Sinh Áo Tím”.
Năm 1918, một tòa nhà thứ hai được xây song song với tòa nhà thứ nhất. Từng dưới của tòa nhà mới này được dùng làm nơi nội trú cho các nữ sinh ở xa nhà. Phía sau là một ngôi nhà trệt trong đó có bệnh xá, phòng giặt và nhà bếp. Các lớp nữ công gia chánh cũng được giảng dạy ở nơi này.
Tôi nhớ Má tôi thường hay kể chuyện Dì Hai tôi, lúc thiếu thời Dì cũng là học sinh của Trường Nữ Sinh Áo Tím. Dì Hai tôi là chị cả trong các anh chị em của Má tôi. Nhà Ông Bà Ngoại tôi ở làng An Nhơn, quận Gò Vắp, cách Sài Gòn lối 9 cây số. Thời đó đường sá chưa được mở mang, giao thông không dễ dàng nên Dì phải ở nội trú. Các học sinh nội trú phải sắm sửa rất nhiều, các vật dụng cá nhân như áo quần đồng phục mặc lúc ở lớp học, đồng phục mát mặc lúc ở khu cư xá, khăn trải giường, khăn mặt, … mỗi thứ trên mười bộ; ngoài ra học sinh nội trú phải đóng tiền ăn ở rất tốn kém.
Vào tháng 9 năm 1922, lớp đầu tiên của bậc Trung Học Ðệ Nhất Cấp được khai giảng. Học sinh bắt đầu học Pháp văn từ cấp lớp căn bản. Pháp ngữ là ngôn ngữ chính thức được dùng trong việc giảng dạy các lớp bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp. Nữ sinh chỉ được dùng Pháp ngữ để đàm thoại trong trường. Tiếng Việt chỉ được dạy mỗi tuần hai giờ trong giờ Việt văn.
Trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến, trường bị hư hại nhiều nên vị Hiệu Trưởng đương nhiệm phải kêu gọi các vị hảo tâm đóng góp tài chánh để sửa sang trường.
Vào năm 1949, trường lại được nới rộng hơn. Một tòa nhà hai từng được xây trên đường Bà Huyện Thanh Quan, nối liền hai tòa nhà sẵn có để đáp ứng sĩ số nữ sinh theo học ngày một gia tăng.
Kể từ năm 1952, chương trình giảng huấn được thay đổi: chương trình Pháp được đổi dần dần qua chương trình Việt, Pháp và Anh ngữ là những ngoại ngữ được giảng dạy và là môn học bắt buộc cho các nữ sinh.

Trường Nữ Gia Long

Năm 1953, đồng phục áo dài tím được thay thế bằng chiếc áo dài trắng và tiếng Việt được chọn làm ngôn ngữ giảng dạy chính thức. Sau đó trường được đổi tên là Trường Nữ Trung Học Gia Long, lấy niên hiệu của vị vua đầu tiên triều Nguyễn. Có lẽ ở thời điểm này, trường bãi bỏ các cấp lớp thấp và chỉ giảng dạy chương trình trung học.
Ngoài trường Gia Long, đô thành Sài Gòn còn một trường nữ trung học khác là trường Trưng Vương. Không rõ thông lệ bắt đầu từ hồi nào và bãi bỏ vào năm nào, mà khi tôi còn là học sinh bậc tiểu học, mỗi năm vào dịp lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng, đô thành Sài Gòn có tổ chức diễn hành xe hoa của các hội đoàn, các trường học, và các cơ sở thương mại.
Dẫn đầu đoàn xe hoa diễn hành là một đám rước, gồm hai hàng quân lính chỉnh tề, mặc trang phục thời nước Nam lập quốc, cầm cờ nhiều màu tung bay phất phới. Tiếp đến là hai con voi lớn mình phủ khăn màu sặc sỡ, chở trên lưng hai nữ tướng trong trang phục thời cổ: áo dài màu vàng, đầu vấn khăn vành, dáng điệu trông rất oai nghiêm. Đó là hai nữ sinh của trường Gia Long và Trưng Vương đóng vai hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị.
Năm đó Má tôi dẫn mấy chị em tôi đi xem diễn hành. Lúc đó tôi học lớp ba hay lớp nhì chi đó, tôi vẫn còn thấp bé, đứng chưa quá hàng rào cản dọc theo lộ trình diễn hành. Tôi bám lên hàng rào nhón chân nhìn đám rước, chiêm ngưỡng Bà Trưng Trắc ngồi trên lưng voi cao ngất ngưởng mà lòng nao nao kính phục. Trang sử Việt oai hùng học được ở trường đang diễn ra trước mắt tôi, cảm xúc bồi hồi không sao tả được. Yêu mến Bà Trưng Trắc, tôi thương luôn cả trường Gia Long dù chỉ thương qua tên gọi, vì tôi đâu đã thấy trường ra sao. Từ đó, tôi luôn nhủ lòng cố gắng chăm học để được trúng tuyển vào trường Gia Long.

II. Ngôi trường thân yêu:

Năm đầu tiên tôi vào trường thì trường đã được tu bổ khá khang trang. Trường nằm trên một khu vực rất rộng giới hạn bởi bốn con đường lớn thuộc quận Ba đô thành Sài Gòn. Cổng chính trên đường Phan Thanh Giản, cổng sau rất ít khi được mở, vì trổ ra đường Ngô Thời Nhiệm hơi vắng vẻ. Cổng bên trái (nếu nhìn từ đường Phan Thanh Giản vào) trổ ra đường Đoàn Thị Điểm. Tôi không tìm ra tài liệu ghi vào năm nào thì dãy nhà trệt trên đường Đoàn Thị Điểm được xây. Cổng bên phải nằm sát đường Bà Huyện Thanh Quan, bên kia đường là chùa Xá Lợi.
Chỉ có cổng Bà Huyện Thanh Quan là nơi tụ tập nhiều hàng quà vặt. Đây là nơi học trò con gái chúng tôi chiếu cố tận tình nhất. Cổng trường chỉ mở khoảng vài mươi phút trước giờ học, mà thường thì trước đó nhiều giờ, các nữ sinh đồng phục áo trắng đã bu nghẹt các gánh hàng bên đường, lao xao ồn ào như hội chợ, và xả rác ngay trước cổng chùa trang nghiêm thanh tịnh.
Sơ đồ của trường giống như một cổ thành: văn phòng và các lớp học là những dãy nhà chạy dọc theo bốn con đường như đã kể trên, chính giữa là một khuôn viên rất đẹp, thảm cỏ xanh hai bên ngăn chia bởi con đường tráng nhựa đi từ cổng Phan Thanh Giản đến cổng Ngô Thời Nhiệm. Hai bên đường là hai hàng cây có bóng mát, tôi không nhớ là loại cây gì. Giờ ra chơi, chúng tôi đi lên đi xuống dạo trên con đường này mà tưởng tượng như đang dạo chơi trên đường phố Tự Do hay Nguyễn Huệ vậy.
Con đường này cũng chuyên chở một kỷ niệm khó quên trong đời tôi. Mỗi năm khi niên học chấm dứt, vào độ tháng Năm, trường hay tổ chức lễ phát thưởng cho học sinh xuất sắc. Năm nào Má tôi cũng cùng tôi đến trường dự lễ phát thưởng. Hai má con tôi thủng thẳng đi bộ trên con đường nhựa này, nắng nhẹ trời trong rất êm ả. Cuối đường là các hàng ghế xếp sẵn dành cho giáo sư, phụ huynh và học sinh. Tiếp sau dãy ghế là sân khấu ngoài trời, nơi trình diễn phần văn nghệ giúp vui. Phần văn nghệ rất đặc sắc gồm các màn như múa trống cơm, múa quạt, hoạt cảnh Ông Ninh Ông Nang, đơn ca, hợp ca, … do học sinh của trường trình diễn. Tôi thấy Má tôi rất vui và rất thích phần văn nghệ; có lẽ đây là những giây phút giải trí thoải mái hiếm có trong cuộc đời buồn tẻ của Má tôi. Bảy năm trung học, bảy lần tôi đến trường nhận phần thưởng, nhưng đáng quý nhất là bảy dịp tôi được cùng Má tôi đi bộ trên con đường tráng nhựa của trường.
Dãy nhà trên đường Phan Thanh Giản gồm có phòng cô Hiệu Trưởng, phòng họp giáo sư, phòng cô Giám Học, phòng cô Giám Thị và các phòng nhân viên, phòng kế toán. Các lớp học nằm ở từng trệt sát tiếp với các văn phòng, và ở từng hai.
Ba dãy nhà còn lại là lớp học: dãy nhà Đoàn Thị Điểm chỉ là từng trệt, còn dãy nhà Bà Huyện Thanh Quan có hai từng và dãy nhà Ngô Thời Nhiệm có ba từng.
Trường được mở mang thêm, thư viện được xây vào năm 1965 phía sau dãy nhà Ngô Thời Nhiệm, phòng thí nghiệm Vật lý và Hóa học được xây vào năm 1966, và hồ bơi năm 1968.
Cây cảnh ở sân trong thì có cây điệp (bông vàng, cho trái dài màu đen), mấy khóm trắc bá diệp mà học trò chúng tôi gọi là cây “lá thuộc bài”, rất cần thiết cho đời học trò chúng tôi!
Về sau bác làm vườn có trồng thêm một cây phượng vĩ con con, mọc cũng khá nhanh. Khi tôi rời trường thì cây cũng đã có tàn rộng, trổ bông đỏ rực vào mỗi tháng Năm.
Ngoài cây phượng vĩ con con trồng sau này ở sân trong, sân sau cổng Đoàn Thị Điểm có một cây phượng vĩ rất già, không biết được trồng từ bao giờ, mà khi tôi vào trường cây đã cao lắm, tàn rất rộng. Suốt bảy năm trung học, tôi đã chứng kiến bảy mùa hoa nở. Màu hoa đỏ rực đua chen với màu trắng của tà áo nữ sinh, tung bay như trăm ngàn cánh bướm, là một hình ảnh không thể quên được.
Nghe đâu sau khi tôi rời trường lâu lắm, cây phượng này bị sét đánh ngã sau một trận dông bão. May mà bác làm vườn đã trồng cây phượng con ở sân trong trước khi cây già bị ngã. Nếu không, sân trường thiếu cây phượng vĩ thì đời học trò chúng tôi sẽ quạnh hiu biết bao!
Sân sau cổng Đoàn Thị Điểm còn có hàng cây dây giun, leo chằng chịt trên hàng rào cổng, bông sắc đỏ, sắc trắng rất vui mắt. Cổng nhà Ông Nội tôi ở Bến Tre cũng có trồng cây này, cành lá sum sê rất đẹp. Sở dĩ tôi nhớ rất rõ hình dạng và màu sắc cây này là vì cổng trường và cổng nhà Ông Nội tôi là hai nơi tôi yêu mến nhất trong thời hoa niên, và cả hai nơi đều có cây dây giun.
Dãy nhà Bà Huyện Thanh Quan thì không có sân sau, vì nằm sát lề đường. Dãy nhà Ngô Thời Nhiệm thì chỉ có vài cây kiểng quanh bệnh xá và thư viện.

III. Chương trình giảng huấn:

Năm đầu trung học lúc đó là lớp đệ Thất, rồi tiếp tục đệ Lục, Ngũ, Tứ là xong Trung Học Đệ Nhất Cấp. Sau đó là Trung Học Đệ Nhị Cấp gồm đệ Tam, Nhị, Nhất. Tóm lại các lớp trung học đếm ngược từ số lớn tới số nhỏ. Về sau, chương trình học đổi cách chia lớp theo phương cách của Âu Mỹ mà đếm tới: lớp 6 (tương đương với đệ Thất), rồi lớp 7, 8, 9, 10, 11, và lớp 12 là tương đương với lớp đệ Nhất khi xưa.
Vì số phòng học giới hạn nên ba cấp lớp đầu học buổi chiều. Các cấp cao hơn học buổi sáng. Tôi còn nhớ lúc tôi vào trường, mỗi cấp lớp có tất cả 14 lớp: đệ Thất 1 cho tới đệ Thất 14, phân nửa số lớp theo sinh ngữ chính Anh văn, phân nửa còn lại theo sinh ngữ chính Pháp văn (tôi chọn sinh ngữ chính Pháp văn, vào học lớp đệ Thất 8). Các cấp đệ Lục và đệ Ngũ cũng được phân chia như trên. Tổng cộng buổi chiều có tất cả 42 lớp. Trung bình sĩ số mỗi lớp là 60 học sinh, như vậy chỉ riêng buổi chiều đã có tất cả khoảng 2,500 học sinh.
Năm đệ Thất, môn Việt văn, chúng tôi học Văn chương bình dân (hay Văn chương truyền khẩu) gồm ca dao và tục ngữ trong phần văn vần. Về văn xuôi, chúng tôi học vài bài của các tác giả trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn.
Năm đệ Lục, chúng tôi học thể thơ Đường luật, thất ngôn hay ngũ ngôn, các bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan, và truyện dài Bích Câu Kỳ Ngộ.
Năm đệ Ngũ, chúng tôi tiếp tục học thơ Đường luật thất ngôn bát cú, các bài thơ viết bằng chữ Nôm của vua Lê Thánh Tông và các vị thi nhân trong hội Tao Đàn do vua lập ra. Về truyện dài, văn vần chúng tôi học tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu; về văn xuôi chúng tôi học các tác phẩm của các văn sĩ trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn như Hồn Bướm Mơ Tiên, Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng, Đoạn Tuyệt và Lạnh Lùng của Nhất Linh.
Lên năm đệ Tứ, chúng tôi được học buổi sáng; điều này đã là một niềm hãnh diện cho chúng tôi rồi (vì được học cùng buổi với các chị lớn, nên tự nhiên cảm thấy mình lớn hơn, chững chạc hơn), lại thêm được học tác phẩm nổi tiếng Đoạn Trường Tân Thanh (gọi tắt là Truyện Kiều) của Nguyễn Du.
Năm đệ Tam chúng tôi chọn ban: ban A chủ về khoa học thực nghiệm, ban B nghiêng về Toán, và ban C chuyên về Việt văn và Triết học.
Sự thay đổi lớn đối với tôi khi lên đệ Tam là tôi không còn chung lớp chung thầy với tất cả các bạn học trong suốt bốn năm đệ Nhất Cấp. Một số bạn vì chọn ban khác với ban tôi chọn nên sang lớp khác học, buồn lắm! Nhưng bù lại, tôi được làm quen với các bạn mới cùng trường và các bạn từ các trường tư thục ở ngoài vào.
Sự thay đổi thứ nhì cũng khá quan trọng đối với tôi là giờ Việt văn giảm đi khá nhiều vì tôi chọn ban Toán. Tôi vốn ưa thích Toán, Vật lý, Hóa học, mà đồng thời cũng thích Việt văn, nên tôi rất bối rối khi phải chọn ban. Sau cùng tôi chọn ban Toán, và đành “hy sinh” một số giờ Việt văn. Cái gì càng hiếm thì càng quý: trong hai năm đệ Tam và đệ Nhị, dù đau ốm cảm cúm mà nhằm ngày có giờ Việt văn, tôi cũng cố lò dò tới trường, không nghĩ tới việc lây bệnh cho các bạn tôi, thiệt là bậy!
Tôi không nhớ hết năm đệ Tam học các thể loại nào, chỉ nhớ rõ về thể song thất lục bát và tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, do nữ sĩ Đoàn Thị Điểm dịch ra chữ Nôm từ nguyên bản Hán văn của tác giả Đặng Trần Côn. Tác phẩm này là một bài ngâm, kể tâm sự một chinh phụ có chồng đi chinh chiến miền xa.
Năm đệ Nhị là năm chuẩn bị thi Tú tài phần I và là năm cuối cùng học Việt văn (lên đệ Nhất không học Việt văn nữa mà học Triết học Tây phương), nên chương trình Việt văn khá nặng. Chúng tôi học thể thơ hát nói, các tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Trần Tế Xương, cùng sơ lược một vài tác phẩm của các thi sĩ thuộc phái thơ mới như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Thế Lữ, Xuân Diệu, v.v…
Ngày tựu học năm đệ Nhất, tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn, vui ít buồn nhiều: vui vì tôi vừa qua xong một kỳ thi và ít nhất có mảnh bằng “Tú đơn”[2] giắt túi; buồn vì xong năm nay tôi phải rời trường, nơi chứa đầy ắp những kỷ niệm êm đềm thời hoa niên với thầy cô bạn bè.
Lớp đệ Nhất ban Toán chúng tôi không học môn Việt văn, mà những giờ Việt văn được thay bằng những giờ Triết học Tây phương. Tôi nghĩ học sinh mười bảy tuổi như chúng tôi mà phải gặm nhấm triết lý của các bậc đại triết gia trong lịch sử nhân loại thì không còn gì đáng thương hơn! Cho đến bây giờ, tôi không còn nhớ một chút gì về mớ triết lý nhức đầu tôi học được trong năm đệ Nhất, trong khi thơ văn Việt đã theo ấp ủ và tưới mát tâm hồn tôi trong suốt thời gian tôi rời trường, trưởng thành và nên người.
Ôi, đời có những giờ Việt văn là một đời hạnh phúc!

(Trích từ Tiếng Nước Tôi của Du Yên, 2009)

Sông Hương phố Huế mộng mơ !

527 views

Tà áo dài thơ mông của hai thiếu nữ bên bờ sông Hương,
(Huế, tháng 02 năm 1967)


Deux jeunes femmes en tunique traditionnelle (áo dài) se rafraîchissant au bord de la rivière de Parfum,
(Huế, Février 1967)


Two young women in traditional dress (áo dài) refreshing along the Perfume River,
(Huế, February 1967)

Khuôn viên Trường nữ trung học Gia Long

457 views

Trong khuôn viên Trường nữ trung học Gia Long, còn được gọi là trường nữ sinh Áo Tím, được thành lập từ năm 1913 (Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Kha ngày nay).
(Saigon, 1965)


Dans l’enceinte du lycée pour filles Gia Long, connue également sous le nom de Lycée de filles Áo Tím (en référence à l’uniforme tunique de couleur violet des filles). Le lycée fut fondé en 1913 et s’appelle de nos jours Lycée général Nguyễn Thị Minh Kha.
(Saigon, 1965)


Inside the high school for girls Gia Long, also known as Áo Tím all-girls school (referring to the color purple of the girl tunic uniform). The school was founded in 1913 and is called nowadays Nguyễn Thị Minh Khai.
(Saigon, 1965)

Tam ca Ba Trái Táo (1972)

910 views

Tam ca Ba Trái Táo (The Apple Three), do nhạc sĩ Lê Vũ Chấn của phòng trà Baccara thành lập vào đầu thập niên 70, gồm ba thành viên Tuyết Hương, Tuyết Dung và Vy Vân.
(Saigon, 1972)


Groupe Ba Trái Táo (The Apple Three), groupe de musique créé au début des années 70 par le musicien Lê Vũ Chấn, fondateur du nightclub Baccara. Groupe comprend trois membres: Tuyết Hương, Tuyết Dung et Vy Vân.
(Saigon, 1972)


Ba Trái Táo (The Three Apple), music group formed in the early 70s by the musician Lê Vũ Chấn, founder of the nightclub Baccarat. Group consists of three members: Tuyet Huong, Tuyet Dung and Vy Vân.
(Saigon, 1972)

Áo dài nữ sinh Trưng Vương

298 views

Tà áo dài nữ sinh Trưng Vương khi tan trường trên đường Thống Nhứt (Lê Duẩn ngày nay),
(Saigon, 1967)


Lycéennes en tuniques blanches traditionnelles áo dài, à la sortie d’école, sur la rue Thống Nhứt (Lê Duẩn de nos jours),
(Saigon, 1967)


Schoolgirls in white tunics traditional áo dài at the school exit, on the street Thống Nhứt (Lê Duẩn nowadays),
(Saigon, 1967)

Đường Duy Tân vào năm 1972

1973 views

Đường Duy Tân (Phạm Ngọc Thạch ngày nay), con đường được đưa vào huyền thoại qua bài hát lừng danh “Trả Lại Em Yêu” của Phạm Duy: “Trả lại em yêu khung trời đại học… Con đường Duy Tân cây dài bóng mát… Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát … Vết chân trên đường vẫn chưa phai nhạt…”
(Saigon, 1972)


La fameuse rue Duy Tân (Phạm Ngọc Thạch de nos jours). Elle est rendue célèbre à travers la chanson “Trả Lại Em Yêu” du compositeur Phạm Duy: “Trả lại em yêu khung trời đại học… Con đường Duy Tân cây dài bóng mát… Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát … Vết chân trên đường vẫn chưa phai nhạt…”
(Saigon, 1972)


The famous Duy Tan street (Phạm Ngọc Thạch today). It became famous through the song “Trả Lại Em Yêu” written by the Vietnamese songwriter Phạm Duy: “Trả lại em yêu khung trời đại học… Con đường Duy Tân cây dài bóng mát… Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát … Vết chân trên đường vẫn chưa phai nhạt…”
(Saigon, 1972)

Nhà ga xe lửa Saigon vào năm 1968

453 views

Nhà ga xe lửa Sài Gòn chụp từ trên cao, từ tầng 5 khách sạn Walling trên đường Phạm Ngũ Lão. Bên kia ga là đường Lê Lai và khách sạn Lê Lai, được cho thuê làm cư xá của lính Mỹ.
(Saigon, tháng 10 năm 1968)


Gare centrale de Saigon, vue prise depuis le cinquième étage de l’hôtel Walling située sur la rue Phạm Ngũ Lão. De l’autre côté des rails, se trouve la rue Lê Lai et l’hôtel Lê Lai loué par l’armée américaine pour en faire un dortoir pour ses soldats.
(Saigon, octobre 1968)


Saigon Central Station, view taken from the fifth floor of the hotel Walling located on Pham Ngu Lao Street. On the other side of the tracks, is the street Lê Lai and the hotel Lê Lai rented as a dormitory for the American army.
(Saigon, October 1968)

Khách sạn Continental Palace, 1961

509 views

Khách sạn Continental Palace chụp trên cao từ khách sạn Majestic nằm đối diện,
Saigon, 1961


Le célèbre hôtel Continental Palace, prise de vue depuis l’hôtel Majestic située juste en face,
Saigon, 1961


The famous Continental Palace hotel, view taken from the Majestic Hotel located just opposite,
Saigon, 1961

Nữ sinh áo dài trắng

284 views

Nữ sinh mặc áo dài trắng đi dạo trên đường Lê Lợi,
Saigon, 1970


Étudiante en tunique traditionnelle blanche (áo dài) se promenant sur la rue Lê Lợi,
Saigon, 1970


Student in traditional white dress (áo dài) walking on the street Lê Lợi,
Saigon, 1970

Nhớ lại Vòng Xoay Saigon

268 views

Nhớ lại Vòng Xoay của Saigon, giờ đã mất. Vòng xoay nằm ở giao lộ đường Bonnard và Charner ( Lê Lợi và Nguyễn Huệ sau 1955 ).
(Saigon năm 1952)


Souvenir de la petite fontaine de Saigon, aujourd’hui détruite pour laisser place à un boulevard à piéton. La fontaine fut située au carrefour de la rue Bonnard et Charner ( Lê Lợi et Nguyễn Huệ après 1955 ).
(Saigon, 1952)


Remembering the little fountain of Saigon, now destroyed to make way for a pedestrian boulevard. The fountain was located at the crossroads of Bonnard and Charner Streets (Lê Lợi and Nguyễn Huệ after 1955)
(Saigon, 1952)

Áo dài Việt Nam – Saigon 1953

437 views

Áo dài Việt Nam viếng thăm chiến hạm Mỹ USS Rochester (CA-124) tại bến Bạch Đằng, Sài Gòn năm 1953.


Femmes vietnamiennes en tunique Áo dài visitant le célèbre croiseur lourd américain USS Rochester (CA-124) amarré au port Bạch Đằng, Saigon 1953.


Vietnamese women dressed in tunic Áo dài visiting the famous American heavy cruiser USS Rochester (CA-124) docked at the port Bạch Đằng, Saigon, 1953.