Kiến Trúc

Nhà dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

232 views

Với kiến trúc nhà dòng Saint Paul, chúng ta tự hào rằng tại Sài Gòn năm 1864 đã có một công trình kiến trúc kiên cố đầu tiên lại do chính kiến trúc sư người Việt thiết kế và xây dựng.

Khi đi ngang ngôi nhà trắng tại số 4 Tôn Đức Thắng, quận 1 (trước là Cường Để) mọi người chỉ biết đây là một nữ tu viện. Tòa nhà này trước kia còn được gọi là “Nhà Trắng”, không phải vì sơn toàn màu trắng như tòa Bạch Ốc (White House) mà vì ngôi nhà này được xây dựng và làm chủ bởi những nữ tu dòng Saint Paul de Chartres (Thánh Phaolô thành Chartres) “trinh bạch từ linh hồn đến những chiếc áo dòng trắng toát”. Trước năm 1975, trong nhà dòng này có một trường tư thục với các lớp từ mẫu giáo tới tú tài với số lượng 1.600 học sinh (có ký túc xá cho học sinh nội trú).

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Kiến trúc ban đầu của Dòng Thánh Phao Lô Sài Gòn (1866)

Sau năm 1975, có một thời gian là trường sư phạm mầm non. Nếu ai có dịp vào đây sẽ choáng ngợp với không gian rộng rãi, khoáng đãng với kiến trúc ba khối nhà: cô nhi viện, nhà nữ tu ở và khu nhà nguyện. Khu nhà nguyện có thiết kế đặc biệt, nhìn từ trên cao xuống rất giống cây thánh giá, bên trong có thêm nhiều cột đỡ vững chãi, phía trước là một sân cỏ rộng với tượng thánh bổn mạng của dòng Phaolô.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Một thiết kế theo nhận định của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ: “Một giáo đường huy hoàng với đường nét thẩm mỹ lối Gothique. Các khu vòm hình liềm cung, đua nhau vượt lên tới 20 thước, không một chút chạm trổ hoa hòe… Làm cho khách tưởng nhớ đến giáo đường “Sainte Chapelle”… Cảm tưởng nhẹ nhàng vì sự thành công của vị kiến trúc sư làm cho ai vào đó cũng cảm thấy thoát tục”.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Kiến trúc sư “thầy Học”

Theo các tài liệu lịch sử truyền giáo, vào ngày 20-5-1860, các nữ tu dòng Thánh Phaolô gốc ở thành Chartres (Soeurs de Saint Paul de Chartres) từ Hong Kong đặt chân đến Sài Gòn. Họ cùng tạm định cư tại một căn nhà nhỏ vùng chợ cũ cùng các nữ tu dòng kín (đến Sài gòn năm 1861). Vào tháng 9-1862, mẹ bề trên dòng thánh Phaolô Benjamin khởi công xây cất nhà giám tỉnh tại khu đất Đường Thành (Rue de la Citadelle). Toàn bộ công trình này hoàn thành vào ngày 10-8-1864. Và trong bản thảo viết tay của mẹ Benjamin chỉ ghi lại tên kiến trúc sư là Thầy Học.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Không ảnh Dòng Thánh Phaolô năm 1929

Lúc ấy các bà phước chẳng biết kiến trúc sư “Thầy Học” là ai. Không biết trước đây đã có tài liệu nào xác minh Thầy Học là ai chưa. Riêng cụ Vương Hồng Sển trong quyển Sài Gòn năm xưa in năm 1958 cho biết: “Tương truyền nhà lầu cao lớn nơi đây là do ông Nguyễn Trường Tộ năm xưa đứng coi xây cất”. Vậy Thầy Học hay ông Nguyễn Trường Tộ là người thiết kế, xây cất tòa nhà này? Trong tạp chí Văn Đàn (số 4-1961, Sài Gòn) ông Phạm Đình Khiêm đã công bố nhiều tài liệu trong thư khố tu viện đã chứng minh Thầy Học chính là ông Nguyễn Trường Tộ.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Không ảnh Dòng Thánh Phaolô năm 1929

Trước hết, các soeur gọi ông Nguyễn Trường Tộ là Thầy Học vì ông đã từng làm thầy dạy học cho nhà chung. Cách gọi này đã được ghi một cách chính thức trong một tập tài liệu viết tay tên là La Création des Établisements des Soeurs de Saint Paul de Chartres en Extrême-Orient (Ký sự về việc thành lập các cơ sở dòng Nữ tu thánh Phaolô thành Chartres tại Viễn Đông) do mẹ Benjamin, người sáng lập “Nhà Trắng” soạn thảo.

“… Được khu đất tốt đẹp như vậy lại chán cảnh tạm bợ nhiều khi còn tốn kém hơn, bà bề trên bèn quyết định xây nhà vững chắc. Bà bàn tính công việc xây cất ấy với Đức cha Gauthier và cha Croc, các vị ấy đồng ý rằng khi trở về đàng ngoài, sẽ để Thầy Học ở lại điều khiển các công tác”.

Trong ký sự còn xác định: “Ông là một giáo hữu Đàng-Ngoài”. Điều này đã xác nhận thời gian sau khi thôi học, ông Nguyễn Trường Tộ mở trường dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ Hán trong nhà chung Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Tại đây, năm 1846 ông được giám mục người Pháp tên là Gauthier dạy học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu biết về các môn khoa học thường thức của phương Tây. Cuối năm 1858, ông đi cùng Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn “phân sáp” (sáp nhập hai, ba gia đình Công giáo vào trong một làng không Công giáo, chứ không cho ở tập trung như trước). Đầu năm 1859, Giám mục Gauthier đưa ông sang Hương Cảng (Hong Kong) và Pháp. Trong tập Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ do con ông là Nguyễn Trường Cửu ghi chép giai đoạn ông Nguyễn Trường Tộ đi Pháp như sau: “Rồi sang nước đại Pháp, ở kinh thành Ba Lê, là kinh đô, đi du lịch xem chính trị, học hành, kỹ nghệ, phong tục nước đại Pháp. Khi nghe “lặng sáp” rồi (ý nói chấm dứt tình trạng phân sáp như nói ở trên – LVN) thì Đức cha Hậu lại đem ông Tộ và các cụ về nhà chung”.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Vẫn theo ông Cửu thì chính mẹ bề trên phải thỏa thuận với Đức cha Hậu để xây cất Nhà Trắng. Câu hỏi đặt ra là tại sao mẹ Bejamin lại chọn Nguyễn Trường Tộ mà không chọn những kiến trúc sư Pháp vì chính Nguyễn Trường Tộ đã chứng minh được với mẹ bề trên và Đức cha là một người có khả năng về kiến trúc khi về nhà chung (Xã Đoài) đã “làm lại nhà hai tầng cho Cố giữ việc ở và nhà Tràng Latin ba tầng hình chữ thập gọi là “nhà tây” cho học trò Latin ở và học cùng làm nhà thờ Đức Bà riêng cho học trò, theo mẫu nhà thờ Đức Bà hiện ra thành Lộ Đức (Lourdes) đẹp lắm và ở ngoài xây tường cải hoa lộng, giống các sắc hoa tây nam rực rỡ xanh tươi vui mắt, rầy (bây giờ) hư rồi. Đoạn tậu vườn làm nhà ở phía bắc nhà chung, rồi vào Gia Định làm sở nhà bà phước cho các người nhà mụ Tây ở…”.

Theo tác giả Trương Bá Cần, trong các công trình do Nguyễn Trường Tộ xây cất ở Xã Đoài, nay chỉ còn lại nhà tràng Latin (tức tiểu chủng viện) ba tầng, hình chữ thập gọi là “nhà Tây”, chứ tòa giám mục và các nhà phụ thuộc đều đã bị bom Mỹ đánh sập.

Dấu ấn kiến trúc tại Sài Gòn

Riêng Giám mục Gauthier thường gọi Nguyễn Trường Tộ bằng danh hiệu “kiến trúc sư”, mặc dù ông Tộ chưa một ngày học qua ngành kiến trúc như trong thư gửi Hội Truyền giáo nước ngoài ở Paris (đề ngày 1-1-1870), Giám mục Gauthier viết: “… Người ta quen gọi là kiến trúc sư vì ông ta (chỉ ông Tộ) đã xây ngôi nhà ba tầng của các nữ tu Sài Gòn, một nhà nguyện và một ngọn tháp cao nổi bật…” (dẫn lại theo Nguyễn Bá Cần). Có lẽ do thiên bẩm, óc quan sát, thực nghiệm khi được ra nước ngoài trước kia, ông có ở Hong Kong ít lâu và trong thời gian ngắn ngủi tại thuộc địa này của người Anh, ông đã thấy được cách thức và thể loại kiến trúc của châu Âu. Trước đó, ông đã được ngợi ca là một kiến trúc sư tài năng trong quyển II, trang 731 của tạp chí La Semaine religieuse (Paris, năm 1867):

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Người Đông phương ở trong phái ủy thì có hai ông quan và một người kiến trúc sư Công giáo, có trí nhớ lạ lùng, tài năng lỗi lạc và chính là người đã xây giáo đường của ta ở Sài Gòn”. Hai ông quan là Nguyễn Tăng Doãn và Trần Văn Đạo, còn người kiến trúc sư tài năng lỗi lạc ấy chính là ông Nguyễn Trường Tộ. Linh mục Le Mée (thừa sai Paris) trong một bức thư đăng trên tập san Missions Catholiques năm 1876 có nói về công việc ấy như sau: “Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc đã đem theo một nho sĩ Bắc Kỳ, tên là Lân (tức Nguyễn Trường Tộ). Với trí thông minh hiếm có, lại được gợi ý và được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và tận tụy của Giám mục Gauthier, nho sĩ Bắc Kỳ này, vì tình yêu Thiên Chúa, đã nhận đứng ra đốc suất công việc. Thời đó ở Sài Gòn chưa có một công trình nào làm kiểu mẫu. Với đề án của tu viện và nhà nguyện do nữ tu Benjamin cung cấp, ông ta đã phác họa được một họa đồ phối cảnh chung và thực hiện công trình nhờ sự cộng tác của các công nhân người Việt. Chính ông đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom công việc một cách rất cẩn thận và chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ cũng như chưa có nhà thầu…”.

Tác Giã : Lê Văn Nghĩa

Dinh Thượng Thơ: Giá trị không chỉ ở kiến trúc

196 views

Ngay khi phương án phá bỏ tòa nhà xưa, vốn có tên gọi “Dinh Thượng Thơ” được công bố ở một cuộc triển lãm vào cuối tháng 4.2018, nhiều ý kiến trên báo đài đã cảnh báo khả năng đánh mất một di sản quý mặc dầu tòa nhà chưa được xếp hạng di tích. Trên internet, hơn 7.000 người trong và ngoài nước đã nhanh chóng ký thỉnh nguyện thư online yêu cầu dừng việc phá bỏ.
Bài viết dưới đây tiếp tục đóng góp các tư liệu nghiên cứu mới về giá trị nhiều mặt của Dinh Thượng Thơ.

Giá trị ngay từ tên gọi Việt hóa

Có ý kiến cho rằng từ ngữ xưa “Dinh Thượng Thơ” có hơi hướm thực dân, đế quốc vì vậy không nên gọi (và từ đó không nên duy trì tòa nhà!). Nói như thế hoàn toàn “oan”, bởi tên gọi “Dinh Thượng Thơ” chính là từ dịch thuật Việt hóa của người Sài Gòn vào cuối thế kỷ 19. Nó dùng để chỉ một cơ quan chính quyền hoàn toàn còn mới mẻ với người Việt thông qua một từ ngữ dễ hiểu, dễ nhớ. Chúng tôi tìm thấy từ ngữ Việt hóa đó còn dấu tích trên Gia Định Báo – tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ra đời năm 1865. Thêm nữa, chúng được giải thích khá tường tận trong sách giáo khoa “Dư đồ thuyết lược” (Précis de Géographie, Kiến thức chính yếu về địa lý) của Trương Vĩnh Ký, in năm 1887.

Ngày 9.11.1864, cách đây 154 năm, Thống đốc Nam kỳ De La Grandière ký sắc lệnh thành lập cơ quan Direction de L’Intérieur. Đứng đầu cơ quan này là một Directeur, người đầu tiên giữ chức Directeur là ông Paulin Vial. Còn tòa nhà nơi đặt cơ quan được gọi là Hôtel de L’Intérieur. Ngày nay, chúng ta có thể dịch nhanh Direction de L’Intérieur là Bộ Nội vụ (cấp quốc gia) hay Nha Nội vụ (cấp khu vực) hoặc Sở Nội vụ (cấp tỉnh thành). Còn Directeur là giám đốc, và Hôtel de L’Intérieur là Dinh Nội vụ. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ 19, khi người Pháp thiết lập ở nước ta một cơ cấu kinh tế – chính trị hoàn toàn mới mẻ và xa lạ thì việc hiểu nghĩa và dịch thuật tên các cơ quan và chức vụ chính quyền mới, hoàn toàn không phải là chuyện dễ dàng.

Bản đồ Thành Gia Định 1935
Bản đồ Thành Gia Định đối chiếu với các đường phố ở trung tâm Sài Gòn được thiết kế sau 1864. Góc La Grandière – Catinat trong ô vuông xanh chính là địa điểm xây dựng Dinh Thượng Thơ và Dinh Xã Tây. Địa điểm này nằm trong khuôn viên pháo đài của cổng thành phía Nam (nguồn: Tạp chí Hội nghiên cứu Đông Dương – Sài Gòn 1935)

Trong bối cảnh đó, người Sài Gòn – có thể là Trương Vĩnh Ký, giáo sư trường Thông ngôn và Hậu bổ, đã dịch tên Direction de L’IntérieurHôtel de L’Intérieur là “Dinh Lại bộ Thượng Thơ”, gọi tắt là “Dinh Thượng Thơ”. Còn chức vụ Directeur người đứng đầu cơ quan này được dịch là “Quan Thượng Thơ”. Theo chúng tôi, cách dịch nêu trên vận dụng các tên gọi Việt Nam sẳn có, mang ý nghĩa gần giống để biểu đạt nội dung mới. Thật vậy, chữ “Dinh” trong tiếng Việt thế kỷ 19, thường dùng để chỉ cơ quan chính quyền, đồng thời cũng mang nghĩa là là trụ sở của cơ quan đó. Còn chữ “Lại bộ” hay Bộ Lại – từ Việt xưa có từ thời Lý Trần, để chỉ cơ quan trông coi về việc bổ nhiệm quan lại giúp Vua. Bộ Lại là một trong sáu bộ (lục bộ) của chính phủ trong thời phong kiến, bao gồm: Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình, Bộ Công, Bộ Lại và Bộ Lễ. Từ đời nhà Lý cho đến nhà Nguyễn, chức vụ đứng đầu các Bộ đều được gọi là Thượng Thư (phát âm miền Nam là Thượng Thơ). Sau Cách mạng tháng Tám, trong tiếng Việt hiện đại mới xuất hiện chữ Bộ trưởng – thay cho Thượng Thơ.

Hai mươi ba năm sau, khi Liên bang Đông Dương được Pháp thành lập vào tháng 10 năm 1887, chính quyền Pháp vẫn duy trì cơ quan Direction de L’Intérieur với chức năng tương tự nhưng chức vụ Directeur được thay thế bằng chức vụ Secrétariat Général (Tổng thư ký – chức vụ thấp hơn Directeur). Theo sách Quan chế của Huỳnh Tịnh Của – in năm 1888, cơ quan Direction de L’Intérieur được dịch chính thức là “Thống Lý Nha Sở Nội bộ”, còn Secrétariat Général được dịch chính thức là Tá Lý hay Hiệp Lý.

Nếu so từ ngữ “Thống Lý Nha Sở Nội bộ” với “Dinh Lại Bộ Thượng Thơ”, hay Dinh Thượng Thơ thì từ “Thống Lý Nha Sở Nội bộ” chuyên chở được đầy đủ chức năng kiêm quản nhiều sở ngành của Direction de L’Intérieur. Tuy nhiên, nó lại là từ ngữ hoàn toàn bằngchữ Hán – Việt nên khó hiểu, khó nhớ. Cũng tương tự như thế, các từ Tá Lý hay Hiệp Lý đều dịch nghĩa chính xác người đứng đầu cơ quan Direction de L’Intérieur, song vẫn là từ ngữ Hán – Việt. Không dễ dàng sử dụng như từ Thượng Thơ. Cần lưu ý vào cuối thế kỷ 19, trên đất Nam Kỳ các trường lớp Nho học không nhiều như ở miền Trung và miền Bắc, mặt khác chữ quốc ngữ còn phôi thai. Có lẽ chính vì thế, người dân Sài Gòn và Nam Kỳ quen dùng tên gọi Dinh Thượng Thơ hơn Dinh Thống Lý Nha Sở Nội bộ và còn lưu truyền đến ngày nay.

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Có thể nêu một thí dụ tương đồng trong trường hợp này. Đó là từ Dinh Xã Tây (dịch thuật từ Hôtel de Ville), được người Sài Gòn và Nam Kỳ dùng phổ biến để chỉ cơ quan chính quyền thành phố và trụ sở của nó, thay vì “Dinh Đốc lý” hay “Tòa Thị chính (quen dùng ở miền Bắc, miền Trung ). Sau năm 1954 mới có từ “Tòa Đô sảnh” thay thế.

Xét về mặt ngôn ngữ học và sử học, việc gọi tên một địa danh hay một kiến trúc theo tên gọi ban đầu phổ biến của nó là chuyện bình thường và nên làm. Để gọi tên tòa nhà 59 – 61 Lý Tự Trọng, một kiến trúc may mắn tồn tại xuyên ba thế kỷ, chỉ thay đổi chức năng từ sau năm 1945 trở đi, không thể không dùng tên gọi lịch sử vốn có là Dinh Thượng Thơ.

Tên gọi Dinh Thượng Thơ chính là dấu tích ngôn ngữ của thời kỳ giao thời giữa cận đại và hiện đại trong lịch sử Sài Gòn và Việt Nam. Đặc biệt, nó là một thí dụ tiêu biểu về việc phát triển chữ quốc ngữ trở thành ngôn ngữ hành chính và ngôn ngữ toàn xã hội. Vả lại, đâycòn là một thí dụ tiêu biểu trong việc dịch thuật các từ ngữ hành chính sao cho dể hiểu, dễ nhớ trong điều kiện dân trí cụ thể. Điều ấy xứng đáng là một kinh nghiệm quý báu cho công cuộc cải cách hành chính hiện tại.

Dấu tích thời kỳ người Việt thành lập Sài Gòn từ thế kỷ 17

Qua nghiên cứu các bản đồ cổ và sách sử, chúng tôi thấy nền đất Dinh Thượng Thơ là một trong những dấu tích quan trọng của Thành Gia Định và là dấu tích tiêu biểu của thời kỳ người Việt bắt đầu khai phá, thành lập Sài Gòn.

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, vào mùa Xuân năm 1790, chúa Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) cho xây Thành Gia Định tại vùng đất cao thuộc địa phận làng Tân Khai – một trong 40 ngôi làng đầu tiên của người Việt trên đất Sài Gòn. Vùng đất cao này khi người Pháp vào gọi là Plateau de la Citadelle – Đồi Thành lũy. Đó chính là khu đất trải rộng từ rạch Thị Nghè xuống đến đường Đồng Khởi ngày nay. Đỉnh đồi là khu vực Đài Truyền hình hiện giờ, chân đồi là khu vực Công viên Chi Lăng, bao gồm Dinh Thượng Thơ. Người Pháp gọi khu vực chân đồi tại đây là Dốc Catinat (Catinat là tên một trong những chiến thuyền tham gia đánh thành Gia Định).

Khu trung tâm hành chính Sài Gòn và Nam Kỳ
Khu trung tâm hành chính Sài Gòn và Nam Kỳ trên bản vẽ minh họa quy hoạch Sài Gòn 1900 (đang lưu giữ tại trụ sở UBND TP.HCM). Các cơ quan và kiến trúc tiêu biểu đều trong khoảng cách 5 – 15 phút đi bộ. Dinh Thượng Thơ là hai tòa nhà đánh số 1 và 2

Thành Gia Định là một tòa thành lớn, rộng khoảng 100 ha, xây dựng theo kiểu Việt Nam kết hợp với châu Âu (Vauban). Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết thành còn có tên gọi là thành Bát Quái (dân gian gọi là Thành Quy), hình dáng đường viền như hoa sen, có 8 cửa. Trong đó, hai cửa phía Nam mang tên Càn Nguyên và Ly Minh. Theo bản đồ phác họa Thành Bát Quái do người Pháp vẻ lại và chú giải bởi Trương Vĩnh Ký, cổng Càn Nguyên chính là ngả tư Đồng Khởi – Lý Tự Trọng hiện tại. Còn cổng Ly Minh là ngả ba Lê Thánh Tôn – Thái Văn Lung (tên xưa là Đồn Đất – nay là bệnh viện Nhi đồng 2). Con đường vốn có chạy dọc theo đường hào bên trong tường thành phía Nam cũ,được người Pháp sửa sang, chuyển thành đường phố – năm 1865 mang tên Gouverneur (vì có Dinh Soái phủ Sài Gòn đóng ở khu đất trường Trần Đại Nghĩa hiện tại). Đường này từ năm 1870, mang tên De La Grandière (đườngLý Tự Trọng ngày nay).

Vào tháng Giêng năm 1926, khi xây dựng nhà ở góc đường Catinat (Đồng Khởi) và De La Grandière (có thể là nền đất cao ốc 26 Lý Tự Trọng hiện giờ), người Pháp đã phát hiện một đoạn tường thành Bát Quái xây bằng đá ong Biên Hòa rất kiên cố.

Căn cứ vào các sử liệu nêu trên, có thể nói ô đất giáp ranh đường Đồng Khởi – Lý tự Trọng – Lê Thánh Tôn ngày nay chính là đất của pháo đài ở cổng thành phía Nam, mang tên Càn Nguyên của Thành Gia Định. Trên ô đất này, ngay từ những năm 1860, người Pháp đã quy hoạch làm đất xây dựng Dinh Thượng Thơ (bao gồm nhà làm việc ở mặt đường Lý Tự Trọng và văn phòng của giám đốc trên nền cao ốc 213 Đồng Khởi sau này) và sau đó là Dinh Xã Tây (trụ sở UBND TP.HCM). Nền đất của cả hai công trình kiến trúc quan trọng này ẩn chứa di tích không chỉ của Thành Gia Định mà còn của làng Tân Khai – chiếc nôi của người Việt trên đất Sài Gòn. Năm 2007, tại Hà Nội, di tích Hoàng Thành Thăng Long đã phát lộ trên nền đất xây dựng Nhà Quốc Hội. Nay mai, nếu có một cuộc thám sát khảo cổ tượng tự trên nền đất trong khuôn viên của hai tòa nhà thì có nhiều khả năng di tích Hoàng Thành Gia Định thế kỷ 18 và dấu tích người Việt khai phá Sài Gòn ở thế kỷ 17 sẽ phát lộ!

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Dấu tích mở đầu lịch sử hành chính đô thị và hành chính quốc gia hiện đại

Từ 1861 – 1879, thực dân Pháp thiết lập chính quyền quân quản ở Sài Gòn và sau đó là trên toàn Nam Kỳ, người Việt gọi là “Soái phủ”. Đứng đầu Soái phủ là đô đốc thống đốc (Amiraux Gouverneur, người Việt lúc ấy dịch là Quan Khâm Mạng), một tướng hải quân chỉ huy về cả quân sự và hành chính. Trong gần 4 năm đầu tiên (1861 – 1864), chính quyền quân quản chưa có bộ máy riêng về hành chính dân sự. Đến ngày 9.11.1864, Thống đốc Nam Kỳ De La Grandière ra quyết định thành lập Direction de l’ Interieur (Bộ Nội vụ), viết tắt là DI – hai chữ này còn nguyên trên cửa sắt ở cổng 61 Lý Tự Trọng hiện tại. Cơ quan DI là tổ chức đầu tiên chuyên về hành chính dân sự, có nhiệm vụ quản trị Sài Gòn và các vùng mới chiếm đóng – tách biệt khỏi các hoạt động quân sự. Cơ quan DI bao gồm Secrétariat General (có thể dịch là ban tổng thư ký hay chánh văn phòng) và nhiều Bureax (có thể dịch là sở hay ban hoặc phòng).

Theo sách La Cochinchine en 1878 giới thiệu Nam Kỳ nhân Triển lảm Thế giới ở Paris 1878, DI có một ban tổng thư ký và bốn Bureau (phòng, ban). Theo sách Quan chế của Huỳnh Tịnh Của vào năm 1888, DI vẫn giữ nguyên bộ máy như trên nhưng có thêm Bureau thứ 5 Bureau. Căn cứ vào nội dung công việc của các Bureau thì DI không chỉ phụ trách về bổ nhiệm quan chức các địa phương mà còn kiêm quản một loạt các lĩnh vực dân sự rộng khắp khác. Đó là quản trị ngân sách, tài chính, xây dựng, giao thông, bưu điện, canh nông, thương mại, kỹ nghệ, giáo dục, tôn giáo, cảnh sát và mật vụ và kể cả xử án. Gia Định Báo trực thuộc Bureau thứ ba – bộ phận quản lý các việc liên quan kinh doanh, giáo dục, y tế, hộ tịch, họa đồ, nhà in v.v..

Có thể hình dung công việc của DI là công việc của một chính phủ thực thụ bao gồm nhiều bộ chuyên ngành, hay một cơ quan liên bộ quản trị mọi mặt Nam Kỳ (trừ quân sự). Như vậy, DI là cơ quan ra đời để quản trị hành chính một vùng lảnh thổ rất lớn với Sài Gòn là thủ phủ. Do vậy, tuy chức vụ của người đứng đầu DI chỉ gọi là Directeur (giám đốc) nhưng quyền hạn rất lớn, hầu như chỉ sau thống đốc. Đến năm 1887, chức vụ Directeur của DI được bãi bỏ nhưng cơ quan DI vẫn được duy trì trực thuộc thẳng thống đốc Nam Kỳ. Đây cũng là thời điểm hoàn thành tòa nhà hình chữ U như kiến trúc còn tồn tại đến bây giờ.

Ngày 13.12.1880, Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers ra nghị định thành lập khu Sài Gòn – Chợ Lớn bao gồm hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, đặt dưới quyền của DI. Tuy nhiên đến năm 1888, toàn quyền Đông Dương lại cho hai thành phố tách ra. Như vậy, từ 1864 đến 1888, ngoài việc điều hành toàn Nam Kỳ, DI còn là cơ quan hành chính điều hành trực tiếp Sài Gòn – Chợ Lớn trong 24 năm. Nói cách khác, DI là “tòa thị chính”, ủy ban hành chính đầu tiên của đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn!

Trong hai thập niên cuối cùng của thế kỷ 19, Thống đốc Nam Kỳ lần lượt thành lập và tách các Sở chuyên môn về tài chính, công chính, học chính, thương chính… ra khỏi cơ quan DI. Dần dần, DI chuyển hóa một sở chuyên môn chuyên về nhân sự và công tác văn phòng đặt dưới quyền Nha Tổng thư ký của Thống đốc Nam Kỳ.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trước khi Pháp xâm lược trở lại, Ủy ban hành chính Nam bộ và một số cơ quan trực thuộc đã đóng trụ sở ở Dinh Thống đốc Nam Kỳ (Bảo tàng TP.HCM hiện tại). Nhưng sau khi quân đội Anh vào đóng tại Dinh Thống đốc, các cơ quan này chuyển qua Dinh Xã Tây và Dinh Thượng Thơ.

Từ 1945 – 1955, tòa nhà Dinh Thượng Thơ, có lúc là Dinh Thủ hiến Nam Việt, và rồi Tòa đại biểu chính phủ tại Nam Việt của Quốc gia Việt Nam – Bảo Đại. Từ tháng 10.1955 – 4/1975, Dinh Thượng Thơ chuyển thành trụ sở của Bộ Kinh tế. Nơi đây cũng là trụ sở tuần báo Chấn Hưng Kinh Tế trực thuộc Bộ Kinh tế. Sau tháng 4.1975 đến nay, tòa nhà không còn là trụ sở của các cơ quan trung ương mà chuyển về cho UBND TP.HCM, lần lượt làm trụ sở của nhiều cơ quan quản lý kinh tế.

Đến nay, xuyên qua ba thế kỷ, tòa nhà Dinh Thượng Thơ chỉ thực hiện chức năng là công thự hành chính ở cấp trung ương cũng như địa phương. Có lẽ hiện giờ, ngoài trụ sở UBND TP.HCM và Tòa án TP.HCM, trên địa bàn thành phố, rất hiếm có một công thự nào không những kiến trúc còn nguyên vẹn như thuở ban đầu mà chức năng sử dụng cũng không thay đổi như tòa nhà Dinh Thượng Thơ. Bản thân tòa nhà rất xứng đáng được coi là di tích lịch sử, là cột mốc vàng – mở đầu lịch sử quản trị hành chính đô thị cũng như quản trị hành chính quốc gia của Việt Nam trong thời kỳ hiện đại!

Di sản kiến trúc công thự đẹp và hiệu quả

Khi mới ra đời, 1864, cũng như nhiều cơ quan chính quyền lúc ấy trụ sở của DI chỉ là một số ngôi nhà nhỏ tạm thời. Tuy nhiên khu đất đặt trụ sở của DI đã nằm trong quy hoạch từ rất sớm. Theo các tài liệu hiện có, tòa nhà Dinh Thượng Thơ hình chữ U như kiến trúc đang hiện hữu, được xây dựng trong khoảng 1875 -1881. Trên bản đồ Sài Gòn 1882, hiện lưu tại Thư viện Quốc gia Pháp, chúng tôi thấy đã có hình vẻ tòa nhà hình chữ U này. Như vậy, có thể coi thời điểm 1881 hoặc 1882 là năm hoàn thành tòa nhà.

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Dinh Thượng Thơ do kiến trúc sư Marie-Afred Foulhoux (1840 – 1892) thiết kế. Ông cũng là tác giả thiết kế các công thự đồ sộ chung quanh tòa nhà này, như tòa Pháp Đình (1885), Dinh Thống đốc Nam Kỳ 1890), Bưu điện (1891). Hơn thế nữa ông còn là Giám đốc Sở Công chánh Nam Kỳ, sau đó được bổ nhiệm làm Kiến trúc sư trưởng của thành phố.

Do vậy, tòa nhà Dinh Thượng Thơ và các công trình kể trên của Foulhoux, mang phong cách dinh thự Pháp thế kỷ 19 nhưng vẫn có đường nét sáng tạo, kết hợp với thực tế xứ nhiệt đới. Thiết kế cổng vào tòa nhà chính, các cột trang trí tầng lầu, cổng ngoài sân và cửa đúc bằng gang, hàng rào sắt đều thể hiện tính sang trọng, quý phái. Tuy nhiên, tòa nhà có sân rộng, nhiều vòm cửa và cửa sổ lớn, tường rào không xây kín, tạo ra cảm giác thân thiện.

Trên sân tòa nhà, hiện có một cây hoa bồ cạp vàng, ở cuối tòa nhà phía giáp đường Đồng Khởi có một cây đa lâu năm. Cả hai cây này đều làm tăng vẻ đẹp cho tòa nhà. Được biết dưới tòa nhà có tầng hầm chưa được khảo sát đầy đủ. Nếu có được bản vẻ gốc kiến trúc của tòa nhà và một cuộc khảo sát toàn diện, hẳn chúng ta còn tìm được nhiều điều thú vị khác ở kiến trúc Dinh Thượng Thơ.

Mặt khác, khi đối chiếu kiến trúc tòa nhà và lịch sử hành chính cũng như cách thức tổ chức cơ quan hành chính của người Pháp trên đất Sài Gòn và Nam Kỳ, chúng ta có thể nhận thấy Dinh Thượng Thơ là một thí dụ tiêu biểu cho việc sử dụng công thự một cách hiệu quả và tiết kiệm. Thật vậy, ngay từ đầu, Dinh Thượng Thơ là một cơ quan hành chính đa năng, kiêm quản nhiều bộ phận chuyên môn khác nhau, đặt cạnh nhau để hỗ trợ cho nhau và tạo ra sự thuận tiện cho người dân tiếp xúc. Theo Gia Định Báo (tòa soạn đặt trong Dinh Thượng Thơ từ 1865 – 1885), ngoài việc liên hệ các Bureaux, nơi đây còn là nơi hội họp Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (một dạng hội đồng nhân dân cấp miền), bán đấu giá tài sản công và kể cả là nơi đến đặt mua báo và giao dịch quảng cáo!

Trong thực tế, quy mô tòa nhà Dinh Thượng Thơ chỉ ở mức vừa phải để phục vụ một dân số vừa phải (dưới 300.000 dân). Khi các tỉnh thành phát triển, dân số gia tăng, nhu cầu quản trị gia tăng thì Dinh Thượng Thơ không kiêm quản nữa. Các sở chuyên môn được dời đi theo quy hoạch đã định trước. Và do vậy, chính quyền đã không cần phải mở rộng hay xây mới tòa nhà Dinh Thượng Thơ, qua đó không làm lảng phí ngân sách, đồng thời không làm hỏng đi thiết kế hoàn hảo của chính tòa nhà và quy hoạch tổng thể cả khu vực!

Di sản quy hoạch trung tâm và cảnh quan hoàn hảo

Theo các bản vẻ thiết kế đô thị và bản đồ minh họa quy hoạch 1860, 1880 và 1900 mà chúng tôi được tham khảo tại Thư viện quốc gia Pháp, nơi xây dựng tòa nhà làm trụ sở cho Dinh Thượng Thơ, nằm trong tổng thể thiết kế quy hoạch khu trung tâm chính quyền Nam Kỳ và Sài Gòn.

Khu trung tâm này là ô chữ nhật, bao gồm các đường phố ngày nay là Nguyễn Đình Chiểu (Bắc), Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Tây), Lê Thánh Tôn (Nam) và Nguyễn Bĩnh Khiêm (Đông). Trong đó, đại lộ Gouvernement – Chính phủ (về sau, đổi là Norodom, nay là Lê Duẩn) và đường Impériale – Đế chế (về sau đổi là Nationale, nay là Hai Bà Trưng) là hai con đường trung tâm giao nhau thẳng góc, giống như kiểu thiết kế đô thị phổ biến ở Pháp vào thế kỷ 18. Thực tế khu này chính là nền đất của Thành Quy và Thành Phụng của nhà Nguyễn, hay nói cách khác người Pháp đã kế thừa và tận dụng ngay quy hoạch của Việt Nam sẳn có.

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Trong khu này, góc Đông Bắc, chủ yếu dành cho các cơ quan quân sự vì giáp giới với rạch Thị Nghè (thông ra sông Sài Gòn) và thủy xưởng Ba Son. Đối xứng với nó là góc Tây Nam – nơi đặt các cơ quan chỉ huy đầu nảo và các sở chuyên môn hành chính. Các cơ quan đó được bố trí kế cận nhau, bao gồm lần lượt như sau:

  • Soái Phủ (khu Taberd, nay là trường Trần Đại Nghĩa, ba mặt đường).
  • Sở Học chánh (ba mặt đường, nay là Vincom Center, Sở Giáo dục và các biệt thự kế cận), nằm bên cạnh công viên Pages (công viên Chi Lăng).
  • Sở Đo đạc (góc Đồng Khởi – Lý Tự Trọng, đối diện Dinh Thượng Thơ).
  • Bộ/ Sở Nội vụ (Dinh Thượng Thơ, 59 – 61 Lý Tự Trọng).
  • Sở Công Chánh (63 Lý Tự Trọng, nay là trụ sở Sở Giao thông – Vận Tải và Sở Tài nguyên – Môi trường).
  • Sở Hiến binh (38 Lý Tự Trọng, nay là doanh trại quân đội).
  • Dinh Thống đốc Nam Kỳ (lúc đầu là Bảo tàng Nông nghiệp, nay là Bảo tàng TP.HCM).
  • Pháp đình (Tòa án TP.HCM).
  • Khám lớn (nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp).
  • Dinh Chính phủ (về sau thành Dinh Toàn quyền Đông Dương, còn gọi là Dinh Norodom, nay là Dinh Thống Nhất).
  • Nhà thờ Nhà nước (Nhà thờ Đức Bà ngày nay).
  • Sở Bưu Điện (Bưu điện trung tâm ngày nay).
  • Sở Tài chính và Sở Thu thuế (hai tòa nhà đối diện nhau, nay là Sở Văn hóa – Thể thao và cao ốc Metrolitan, cao ốc Bảo Việt).

Đặc biệt, bản đồ minh họa quy hoạch 1880 cho thấy có một vườn cây phía sau Dinh Thượng Thơ, đó chính là đất để dành làm Tòa Thị chính thành phố (Dinh Xã Tây được xây dựng từ 1898 đến 1909).

Thêm nữa, Dinh Thượng Thơ không chỉ là một kiến trúc đẹp gắn với quy hoạch trung tâm chính quyền hoàn hảo mà còn góp phần làm nên cảnh quan đẹp của góc đường Đồng Khởi – Lý Tự Trọng. Điều này biểu hiện ở các điểm như sau:

  • Tòa nhà thấp tầng, hài hòa với công viên Chi Lăng (trước 1955 là công viên Pages) làm thành một không gian thoáng rộng, dấu mốc kết thúc con dốc Catinat.
  • Hàng rào bằng tường gạch, hài hòa hợp cùng cây xanh dọc đường Catinat (sau 1955 là Tự Do, nay là Đồng Khởi).
  • Là một phần không thể thiếu của đường Lý Tự Trọng (tên nguyên thủy là đường Thống Đốc), khởi đầu khi xưa từ ngả tư Nguyễn Trung Trực đến bệnh viện Nhi Đồng 2 (bệnh viện Grall thời Pháp) có hai hàng cây cao cân đối, nhà cửa ven đường có chiều cao bị khống chế thấp hơn hai hàng cây. Đó là con đường tiêu biểu cho cách thiết kế quy hoạch một thành phố – vườn (Garden City) hay thành phố trong vườn (City in Gardens), theo cách nói hiện đại, đã áp dụng cho Sài Gòn từ hơn 150 năm trước.
  • Hiện tại, đường Lý Tự Trọng từ ngả tư Đồng Khởi đổ lên Thái Văn Lung đã xây dựng nhiều tòa cao ốc hiện đại, vượt quá các hàng cây xưa. Chỉ còn đoạn đường trải dài từ Thư viện Khoa học tổng hợp (Khám lớn Sài Gòn xưa) và mặt hông Pháp đình Tòa án, kéo đến Dinh Thượng Thơ là đoạn đường giữ được nét đẹp xưa, hài hòa cây xanh với kiến trúc. Quả thật, đoạn đường này cùng với Dinh Thượng Thơ, Dinh Thống đốc, Tòa án, đang trở thành “hàng quý hiếm” độc đáo khi mà ở thời điểm thế kỷ 21, trung tâm thành phố đã không thoát khỏi cơn lốc biến đổi trở thành rừng nhà cao tầng.

Giữ lại tòa nhà Dinh Thượng Thơ và cảnh quan xung quanh nó không chỉ vì lưu giữ các giá trị lịch sử – văn hóa mà còn lưu giữ giá trị cảnh quan – môi trường vô giá của một đô thị kết hợp văn minh Âu – Á, đã từng được coi là Hòn ngọc Viễn Đông!

Tác giã : Phúc Tiến (đăng trên trang báo mạng Người Đô Thị)

Nội cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20

235 views

Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội là một trong những trường trung học nổi tiếng nhất ở Đông Dương, Trường được thành lập năm 1919, giải thể năm 1965. Sau khi đã khám phá lịch sữ hình thành của trường ở phần 1, chúng ta tiếp tục cuộc hành trình nhé !

Năm học đầu tiên (1924 – 25), trường đã thu nhận 800 học sinh, có cả học sinh Miên, Lào và 370 học sinh Việt Nam. Kể từ năm học sau (1925 – 26), với ông Autigeon làm Quyền Hiệu trưởng, trường hạn chế nhận học sinh Việt Nam nên chỉ có 510 học sinh trong đó có 210 học sinh VN, phần lớn học sinh VN vào học ở trường Bảo Hộ (Lycée du Protectorat) được thành lập năm 1924, sau này trở thành trường THPT Chu văn An. Cao điểm nhất là năm 1940, trường có tới 1405 học sinh.

Năm 1943, trường bị ném bom, phải sơ tán khỏi Hà Nội. Phần lớn nhà trường, đứng đầu là hiệu trưởng Loubet, sơ tán đến Tam Đảo, một bộ phận nhỏ ghép với trường Paul Bert, cùng hiệu trưởng Silhou, sơ tán vào Sầm Sơn. Một số học sinh chạy vào Đà Lạt, xin học tiếp ở trường trung học Yersin. Sau đảo chính 9 – 3 – 1945, trường tạm ngừng hoạt động.

Ngày 4 – 2 – 1947, dưới sự điều hành của bà Raspail, trước đây là hiệu trưởng Trường Con Gái Pháp (Collège des Jeunes Filles Francaises), trường Albert Sarraut mở cửa trở lại đón 700 học sinh, tạm thời ở địa điểm của Trường Con Gái phố Félix Faure, nay là phố Trần Phú, bởi một phần trường sở cũ bị hư hại do chiến tranh, cần có kinh phí và thời gian để sửa chữa. Tháng 9 – 1948 trường trở về địa điểm cũ và liên tục phát triển, đến niên khóa 1953 – 54, số học sinh lên tới 2400.

Sau hiệp định Genève năm 1954, chính phủ Pháp ký với chính phủ Việt Nam một Thỏa ước văn hóa (7 – 4 – 1955), theo đó trường trung học Albert Sarraut được tiếp tục hoạt động trong 10 năm nữa song phải dời về địa điểm của trường Paul Bert ở phố Rollandes (nay là phố Hai bà Trưng) trước đây và trở thành một trường tư thục do Tổ chức Lương Hội Pháp (Mission laique francaise) mở, giảng dạy theo chương trình 10 năm của Việt Nam, bằng tiếng Việt Nam, trừ môn Toán, tiếng Pháp chỉ là ngoại ngữ chính, được học từ cấp I; học sinh không phải đóng học phí. Năm học 1955 – 1956 trường bắt đầu hoạt động theo quy chế mới như trên với 590 học sinh. Số học sinh cao nhất là vào năm học 1959 – 60 (1420 học sinh), năm học cuối cùng 1964 – 65 có 966 học sinh. Sau năm học này, trường trung học Albert Sarraut Hanoi chính thức ngừng hoạt động hẳn.

Sau 46 năm tồn tại và hoạt động (1919 – 1965), trường trung học Albert Sarraut Hanoi đã đào tạo hàng chục ngàn học sinh, trong đó có hàng ngàn học sinh Việt Nam, nhiều người nổi tiếng như đại tướng Võ Nguyên Giáp, thủ tướng Phạm Văn Đồng, học giả Hoàng Xuân Hãn, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, nhà thơ Phạm Huy Thông (tốt nghiệp Tú tài Triết học năm 1934), nhà triết học Trần Đức Thảo (tốt nghiệp Tú tài Triết học năm 1935). Có người như Phạm Duy Khiêm học giỏi, được học bổng sang Pháp, đã thi đỗ vào trường danh tiếng bậc nhất của Pháp là trường Cao đẳng Sư phạm
phố Ulm (Ecole Normale Supérieure rue d’Ulm), tốt nghiệp năm 1931…Một số học sinh Lào đã từng học ở trường An-be Sa-rô, về sau cũng rất nổi tiếng như hoàng thân
Xu-va-na Phu-ma, hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Các cựu học sinh An-be Sa-rô kể trên, với các cống hiến to lớn của mình, xứng đáng là những tấm gương sáng cho các thế hệ thanh niên noi theo. Nhiều thế hệ học sinh An-be Sa-rô sau này ở Việt Nam cũng đã nêu cao tinh thần yêu nước, tích cực tham gia 2 cuộc kháng chiến chống Pháp vàchống Mỹ; nhiều học sinh của trường những năm học sau 1954 đang hăng hái tham gia vào công cuộc Đổi Mới, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà.

Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Trong phòng khám răng của bệnh xá
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Bên trong sảnh chính
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Không gian thư viện
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Phòng ăn của học sinh nhỏ tuổi
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Giờ học lịch sử
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Giờ học vật lý
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Giờ học vật lý
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Giờ học môn lịch sử tự nhiên
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Một góc phòng thí nghiệm
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Giờ học môn địa lý
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Các học sinh làm thí nghiệm vật lý
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Giờ học toán
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Bên trong phòng ký túc xá

Tác giã : Nguyễn Minh Vũ – Cựu học sinh chuyên khoa (1951 – 54)

Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20

715 views

Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội là một trong những trường trung học nổi tiếng nhất ở Đông Dương, Trường được thành lập năm 1919, giải thể năm 1965. Đây là nơi nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Đông Dương từng học.

Do nhu cầu học tập của con em người Pháp, năm 1902 trường Paul Bert
(Collège Paul Bert) được thành lập, đặt ở đại lộ Rollandes (Boulevard Rollandes), nay là phố Hai Bà Trưng, hiệu trưởng là Simonin. Lúc đầu trường chỉ có các lớp trung học đệ nhất cấp (classes du 1er cycle), từ năm 1912 mới bắt đầu có các lớp trung học đệ nhị cấp (classes du 2e cycle), với 143 học sinh, trong đó có 2 người Trung Hoa và 1 người Nhật.

Năm 1914 Toàn quyền Albert Sarraut ra quyết định xây dựng một trường trung học lớn, hoàn chỉnh, giống như một trường trung học ở chính quốc, thu nhận học sinh Pháp và cả một số học sinh con em các quan lại cao cấp Việt, Miên, Lào.

Mặc dù gặp khó khăn do Thế chiến I (1914 – 1918), năm 1914 công trình vẫn
được khởi công trên một khuôn viên rộng, vuông vắn, nằm trước Phủ Toàn Quyền, tiếp giáp với đại lộ Cộng Hòa (Avenue de la République) sau đổi là Honoré Tissot, nay là phố Hoàng Văn Thụ, đại lộ Brière de l’Isle nay là phố Hùng Vương, đại lộ Carnot nay là phố Phan Đình Phùng, và phố Destenay nay là phố Nguyễn Cảnh Chân; cổng chính nhìn ra đại lộ Cộng Hòa. Công trình do kiến trúc sư Adolphe Bussy thiết kế gồm khu trường chính (khu học đường, khu hiệu bộ, khu nội trú – y tế) và khu giáo dục thể chất, hoạt động thể dục thể thao. Khu học đường và khu hiệu bộ đều nằm trong 2 dãy
nhà cao 2 – 3 tầng được xây song song với đại lộ Cộng Hòa; giữa 2 dãy nhà này là 2 sân chơi ngoài trời rộng, ngăn cách bởi một giàn cây hình vòm xanh mát, giữa có treo chiếc chuông để đánh báo giờ. Giáp đầu ngoài 2 sân có 2 nhà chơi khá lớn kèm hàng chuc phòng tắm có gương sen. Khu nội trú – y tế nằm trong dãy nhà thứ 3 ở phía sau dãy thứ 2, các hành lang có mái che lợp ngói nối liền 2 dãy nhà này với nhau. Một cổng phụ mở ra trên phố Destenay đón học sinh đến học hàng ngày, đồng thời cho phép thầy trò dễ dàng đi sang khu giáo dục thể chất. Khoảng năm 1948 mở thêm một cổng phụ nữa nhìn ra đại lộ Brière de l’Isle. Khu giáo dục thể chất gồm sân quần vợt, sân bóng đá, sân bóng rổ, sân bóng chuyền, khu điền kinh (hố cát để tập nhảy cao, nhảy xa, xà đơn, xà kép, xà lệch…), ngăn cách với khu trường chính bởi phố Destenay. (Từ năm 1954 khu này đã được dùng để xây trụ sở Ban Tuyên Giáo trung ương còn khu trường chính được dùng làm trụ sở Trung ương Đảng CS Việt Nam).

Sau 4 năm công trình được hoàn thành và ngày 1 – 1 – 1919 trường trung học Hà Nội (Lycée de Hanoi) ra đời. Trường gồm 2 phân hiệu, phân hiệu I chỉ mở các lớp trên được đặt ở đây, phân hiệu II chỉ mở các lớp dưới nằm ở đại lộ Rollandes. Để phân biệt, phân hiệu II được gọi là Petit Lycée (trường Trung học Nhỏ), còn phân hiệu I được gọi là Grand Lycée (trường Trung học Lớn). Năm 1923, phân hiệu I được xây bổ sung mặt tiền chính (façade principale) và được đặt tên là trường Trung học An-be Sa-rô (Lycée Albert Sarraut) để tỏ lòng tri ân Toàn quyền An-be Sa-rô, người đã ra quyết định xây dựng trường trước đây, còn phân hiệu II lấy lại tên là trường Paul
Bert như trước. Trường An-be Sa-rô được tổ chức và giảng dạy giống như một lycée ở Pháp, lực lượng giảng dạy gồm các giáo sư cử nhân (professeur licencié) và các giáo sư thạc sĩ (professeur agrégé), trang thiết bị đầy đủ gồm các phòng thí nghiệm kèm bên cạnh các phòng học bộ môn cho các môn khoa học thực nghiệm Lý Hóa Sinh, các phòng học vẽ, học nhạc, một thư viện riêng cho các giáo sư và một thư viện cho học sinh với đầy đủ các sách giáo khoa và các sách tham khảo cho tất cả các bộ môn, học sinh có thể ký quỹ thuê sách ở thư viện để học, các phòng học đều đúng tiêu chuẩn, rộng rãi, sáng sủa.

Mời các bạn đọc tiếp lịch sữ của trường trung học Albert Sarraut ở bài sau

Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Mặt tiền của trường nằm trên đại lộ Cộng Hòa (nay là đường Hoàng Văn Thụ), phía xa là Dinh Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch).
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Toàn cảnh trường Albert Sarraut nhìn từ Dinh Toàn quyền
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Trường trung học Albert Sarraut nhìn từ ngã ba đại lộ Brìere – đại lộ Cộng hòa (nay là ngã ba Hùng Vương – Hoàng Văn Thụ, trước cổng Phủ Chủ tịch).
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Lối vào trước tòa nhà chính của trường
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Khu vực cổng trường giờ tan học
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Xe đưa đón học sinh
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Một Khu nhà trong khuôn viên trường
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Khu bệnh xá của trường
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Sân chơi cho trẻ em trong trường
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Sân quần vợt
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Sân quần vợt
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Một góc sân trường
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Trên sân bóng đá
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Toàn cảnh khu vực sân thể thao nhìn từ một tòa nhà của trường

Tác giã : Nguyễn Minh Vũ – Cựu học sinh chuyên khoa (1951 – 54)

Sông Sài Gòn (góc kênh Tàu) nhìn từ trên không

248 views

Bức ảnh này chụp sông Sài Gòn (từ góc kênh Tàu) từ trên cao vào khoảng những năm 1930-1940.
Thời gian được chứng minh nhờ vào hình ảnh tòa nhà là trụ sở của Ngân hàng Đông Dương (được xây dựng bởi kiến trúc sư người Pháp Félix Dumail trong khoảng thời gian từ năm 1924 đến 1928). Ngoài ra, chúng ta có thể thấy cây cầu xoay và phía sau là cây cầu “cố định” bắc qua trụ sở của hãng vận tải Messageries Maritimes (còn được biết với tên là Bến Nhà Rồng).
Trong bức ảnh này, có thể nhận ra nét đặc trưng là tàu thuyền thường neo đậu bên bờ trái của kênh Tàu, không giống như bên bờ phải. Một trong những lý do để lý giải điều này là do phía bờ bên trái đã được đô thị hóa trước tiên, do đó đây là nơi tập trung nhà ở và các cơ sở trọng yếu phục vụ cho mục đích kinh tế.

Sài Gòn – Toàn Cảnh Kênh Tàu và cầu quây

284 views

Bức ảnh này, có lẽ được chụp vào khoảng năm 1900, từ phía Kênh Tàu (tiếng Anh : Arroyo Chinese và trong tiếp Pháp : Arroyo chinois), có lẽ từ dưới chân cột đèn tín hiệu (hình dưới cho thấy vị trí của cột đèn).

Ống kính nhiếp ảnh gia hướng về phía tây, nghĩa là hướng về Chợ Lớn. Cây cầu quay ở giữa sông Sài Gòn mà chúng ta có thể thấy ở giữa bức ảnh có thể cho chúng ta thấy những nỗ lực kỹ thuật được thực hiện vừa để tăng sự qua lại giữa hai bờ của Kênh Tàu, vừa không làm trở ngại đến giao thông đường sông, rất cần thiết trên tuyến đường này. Những cây cầu này có thể xoay vòng để cho phép những chiếc tàu có độ cao có thể thông qua.

Sài Gòn - Cột đèn Tín Hiệu

Việt Nam mời chuyên gia nước ngoài giúp bảo tồn di sản kiến trúc (Dinh Thượng Thơ)

242 views

Một trong những công trình kiến trúc từ thời Pháp ở Sài Gòn suýt nữa đã bị khai tử là Dinh Thượng Thơ, hiện là trụ sở của Sở Thông tin – Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh. Thay vì phá bỏ tòa nhà này, chính quyền thành phố Sài Gòn cuối cùng đã quyết định bảo tồn và đang kêu gọi sự đóng góp của các chuyên gia nước ngoài.

Dinh Thượng Thơ, nằm tại số 59-61 đường Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, quận 1, là công trình có lịch sử lâu đời của Sài Gòn, nhưng tòa nhà này lại chưa được đưa vào danh mục kiểm kê di tích lịch sử văn hóa.

Công trình do người Pháp xây dựng từ những năm đầu của thời kỳ thuộc địa, hoàn thành vào năm 1864, với chức năng là Nha Giám đốc Nội vụ để điều hành trực tiếp toàn bộ các vấn đề dân sự, tư pháp và tài chính của thuộc địa. Người dân thời đó gọi tòa nhà này là Dinh Thượng Thơ.

Năm 2018, hàng ngàn người đã ký tên vào kiến nghị yêu cầu chính quyền thành phố không phá bỏ tòa nhà Dinh Thượng Thơ khi nâng cấp trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh. Cuối cùng, chính quyền thành phố đã quyết định không phá bỏ Dinh Thượng Thơ và vào tháng 9/2019, Sở Quy hoạch – Kiến trúc đã đề nghị mời chuyên gia nước ngoài hỗ trợ giải pháp kỹ thuật trong việc bảo tồn công trình kiến trúc này.

Theo báo chí trong nước ngày 11/12/2019, chính quyền địa phương vừa quyết định tòa nhà Dinh Thượng Thơ sẽ được tu sửa thành nhà truyền thống Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh.

Trả lời RFI Việt ngữ tại Thư viện Francois Mitterand, Paris, nhân dịp ghé qua Pháp giữa tháng 9/2019, ông Phúc Tiến, nhà nghiên cứu về lịch sử Sài Gòn, tác giả hai cuốn sách “Saigon – Hai đầu thế kỷ” (xuất bản năm 2017) và “Sài Gòn không phải ngày hôm qua” (xuất bản năm 2016), nêu suy nghĩ của ông về đề xuất nói trên của Sở Quy hoạch – kiến trúc :

Đây là một đề xuất rất tốt. Cho đến nay, việc trùng tu di sản, các đền chùa, các công trình theo kiến trúc cổ truyền của Việt Nam thông thường là do các chuyên gia Việt Nam làm. Còn các công trình mang dấu ấn của phương Tây, đặc biệt là của Pháp, thì chúng ta phải có sự trợ giúp của các chuyên gia nước ngoài.
Nếu tôi nhớ không lầm thì cách đây 20 năm, khi diễn ra thượng đỉnh khối Pháp ngữ ở Hà Nội, nước Pháp, lúc đó dưới thời tổng thống Jacques Chirac, đã tài trợ cho việc trùng tu Nhà hát lớn, một “báu vật” của Hà Nội cũng như của Việt Nam, một tòa nhà rất đẹp. Kiến trúc sư thực hiện việc trùng tu này là Hồ Thiệu Trị, một Việt kiều ở Pháp.
Mỹ Sơn, nơi đã được xếp là di sản của thế giới, với kiến trúc Champa, thì cũng đã có các chuyên gia Ba Lan đóng góp ngay từ đầu. Cũng như là Huế và Hội An, ngoài các chuyên gia Việt Nam, đều có các chuyên gia của UNESCO và của các nước khác giúp sức. Kinh nghiệm của nước ngoài trong việc trùng tu các tòa nhà phương Tây là rất cần thiết.

Trùng Tu Dinh Thượng Thơ
Dinh Thượng Thơ

Như vậy thì trong việc bảo tồn những công trình như Dinh Thượng Thư, các chuyên gia nước ngoài, đặc biệt là Pháp, có thể giúp được gì cho chính quyền của thành phố Sài Gòn? Về điểm này, nhà nghiên cứu Phúc Tiến nêu ý kiến :

«Điều đầu tiên, nhiều tòa nhà ở thành phố này là do Pháp thiết kế và xây dựng trước đây, hồ sơ xây dựng chắc là còn được lưu trữ ở Pháp. Kế đến, những tòa nhà này có kiểu kiến trúc đồng dạng với những tòa nhà ở chính quốc hoặc ở các thuộc địa Pháp, đặc biệt là các xứ nhiệt đới. Để trùng tu một tòa nhà trở lại bản gốc của nó, cũng như hiểu được công năng của nó, thì nên tìm đến những tác giả đầu tiên của nó.
Về việc trùng tu thì ở Việt Nam cũng đang có sự tranh luận. Cũng có nhiều lo âu là trùng tu, làm mới thế nào mà bây giờ nó không còn đẹp như ngày xưa, thậm chí sơn son, thếp vàng, làm cho nó ngược lại với nguyên bản hoặc làm cho nó kệch cỡm…. Cho nên cần có những kinh nghiệm.
Ngoài ra, trùng tu ở đây không có nghĩa chỉ là sơn phết hay khôi phục dáng vẻ cũ của nó, mà còn phải nghĩ đến việc trang trí nội thất, sử dụng lại chức năng của tòa nhà, bổ sung những chức năng mới. Chứ nếu chỉ trùng tu để lại làm trụ sở hành chính thì rất là uổng. Mời chuyên gia đến là để có thêm ý kiến làm cho phong phú hơn và tôi nghĩ là nước Pháp có nhiều kinh nghiệm.
Ở Paris tuần này, tôi đã có dự Ngày di sản châu Âu, đến Tòa Thị Chính của Paris. Tôi thấy Tòa Thị Chính không mang ý nghĩa chỉ là dinh thự hành chính, mà là một dinh thự văn hóa, từ phòng tiếp tân, từng cái sảnh, từng pho tượng của tòa nhà này.
Nếu phía Pháp có thể chuyển giao các tài liệu, kinh nghiệm, cũng như công nghệ để trùng tu thì rất là tốt. Nếu Việt Nam tổ chức đầu thầu, mời gọi thì sẽ nhiều chuyên gia châu Âu khác đến, chứ không chỉ có Pháp.”

Là một trong những quốc gia có rất nhiều kinh nghiệm trong việc bảo tồn di sản kiến trúc, nước Ý cũng rất quan tâm đến mối tương quan giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế tại thành phố Sài Gòn. Đây cũng là chủ đề của cuộc hội thảo do tổng lãnh sự Ý tổ chức trong hai ngày 10 và 11/09 tại Sài Gòn. Cụ thể, hội thảo tập trung vào vấn đề kỹ thuật kiến trúc và kinh doanh bảo tồn di sản, nhằm trao đổi kinh nghiệm của các chuyên gia quốc tế và trong nước.
Là một trong những người trình bày tham luận tại hội thảo, nhà nghiên cứu Phúc Tiến trình bày những vấn đề cụ thể được nêu lên tại hội nghị này :

«Đây là lần đầu tiên có một cuộc hội thảo do một cơ quan ngoại giao của một nước châu Âu đứng ra tổ chức. Ban tổ chức người Ý bao gồm tổng lãnh sự Ý và công ty SCE, một tập đoàn lớn về thiết kế, quy hoạch ở Milan, và nhiều công ty Ý khác.
Bản thân công ty SCE có một sáng kiến rất là hay : Trước cuộc hội thảo đó, họ đã cùng với tòa tổng lãnh sự Ý tổ chức cho sinh viên của hai trường Đại học Kiến trúc và Đại học Văn Lang, ngành kiến trúc, chia ra làm nhiều đội tham gia cuộc thi « Thiết kế khu phố di sản trong thành phố thông minh ».
Chúng tôi rất là mừng khi thấy các em sinh viên đã rất phấn khởi, và đã đưa ra những đề xuất rất là hay. Ví dụ như đề án tạo một dải lụa là một cây cầu cho người đi bộ, bắc từ bên phía bờ Thủ Thiêm sang đến đối diện công trường Mê Linh, chỗ tượng Trần Hưng Đạo, sau đó đi theo con đường Mạc Thị Bưởi đến đường Nguyễn Huệ, tạo ra một con đường như là dải lụa đào trên không.
Các bạn còn đề xuất là biến đường Nguyễn Huệ, hiện giờ là phố đi bộ vào cuối tuần, khôi phục lại dòng kênh ở đây. Thời xưa, trước khi Pháp vào, đại lộ Nguyễn Huệ là Kênh Chợ Vải. Các bạn đề nghị khơi lại dòng kênh đó, để trở lại con kênh lịch sử, tạo ra một cảnh quan ngoạn mục, một con kênh uốn lượn ngay giữa lòng thành phố. Như thế nó sẽ làm gia tăng giá trị của những công trình dọc theo con đường đó.
»

Theo lời ông Phúc Tiến, hiện là giám đốc công ty Hợp Điểm, các ý kiến tại hội thảo còn nêu bật một điều : di sản không phải là một thứ để trang trí, mà có thể sinh lợi, hay nói cách khác phải làm phát triển cái gọi là kinh tế di sản, một khái niệm còn rất mới ở Việt Nam :

«Việc trùng tu di sản thì không nên chỉ được nhìn ở góc độ kỹ thuật, thiết kế, công nghệ, nhưng điều rất quan trọng là hãy nhìn nó ở góc độ kinh tế di sản. Đó là ngành kinh tế liên kết rất nhiều ngành. Nếu người ta nhìn di sản như là một nguồn tài nguyên, không những làm giàu về văn hóa, mà còn làm giàu về kinh tế, thì cách đối xử với di sản sẽ thay đổi rất là lớn.
Ví dụ, họ có đề cập đến trường hợp Roma, Milan, Florence, nơi mà những công trình kiến trúc tiêu biểu của nước Ý từ mười mấy thế kỷ vẫn được giữ gìn tốt, đem lại không những nguồn lợi về du lịch, mà còn là nguồn lợi kích thích các ngành như là xây dựng, kiến trúc, thiết kế, nội thất, kể cả đào tạo. Không chỉ có nhà nước, mà những tổ chức NGO (phi chính phủ), cũng như các doanh nghiệp đều có trách nhiệm làm việc đó.
Thứ hai, khi mọi người đã nhất trí đây là công trình có giá trị di sản rồi, thì cần có những cuộc thi, đấu thầu những dự án, biến nó thành những dự án kinh doanh, nhưng tôi muốn nhấn mạnh là (đấu thầu) phải minh bạch.
Trong cách làm của người Ý, nếu muốn có được nguồn vốn để trùng tu các di sản, thì phải có một cuộc vận động. Thí dụ công ty SCE đang lập một dự án trùng tu Dinh Gia Long, hiện giờ là Viện Bảo tàng Thành phố, không chỉ trùng tu dinh này, mà còn mở rộng toàn bộ khu này thành một khu phố di sản.
Chúng ta có Tòa án, một tòa nhà rất đẹp, được trùng tu gần xong rồi. Dọc con đường Lý Tự Trọng có thư viện, đi lên nữa là Dinh Thượng Thơ. Đường Lý Tự Trọng thì chạy song song với đường Lê Thánh Tôn. Khu đó có thể trở thành một khu phố đi bộ, có hai công viên : Bạch Tùng Dương và Chi Lăng, rồi lại nối kết với khu chợ Bến Thành và đường Đồng Khởi (Catinat), đường Nguyễn Huệ.
Bản thân khu đất chung quanh Dinh Gia Long nếu trở thành một khu phố đi bộ, một khu phố di sản, thì người ta sẽ khống chế, không cho xây các nhà cao tầng, phá tan cảnh quan vốn dĩ rất đẹp của nó. Nếu có sự đồng thuận, dự án này sẽ đem lại một nguồn lợi rất lớn, không chỉ về văn hóa, về kinh tế, mà còn thúc đẩy những ý tưởng sáng tạo.
Ví dụ các bạn tham gia cuộc thi có đề nghị công viên Bạch Tùng Diệp sẽ là không gian co-working về sáng tạo, nơi mà các bạn trẻ khởi nghiệp có thể đến đó cùng làm việc với những trang thiết bị hiện đại, rồi từ đó ra những ý tưởng mới. Cũng như viện bảo tàng không chỉ là một viện bảo tàng, mà ở đó cũng sẽ có gallery, quán cà phê, tiệm sách, không gian để nói chuyện. Người ta có thể đi bộ từ thư viện, qua tòa án, rồi đến Dinh Thượng Thơ để thưởng ngoạn một lịch sử.
Chính người Pháp ngay từ những năm 1860 đã thiết kế khu đó là khu hành chánh. Bây giờ nếu khu hành chánh đó trở thành khu di sản thì rất là hay. Con đường Lý Tự Trọng vào thời Pháp có tên là De La Grandière, tên một đề đốc người Pháp, nhưng trước đó nó có tên là đường Chính Phủ. Như vậy, con đường đó không phải là con đường thương mại, bây giờ nếu được chuyển thành con đường di sản, kết hợp lịch sử văn hóa, hành chánh, thương mại và sáng tạo, thì rất là tuyệt vời.
Tất nhiên, những ý tưởng cụ thể này rất cần sự tham gia của nhiều người. Tôi cho rằng, nếu có một cuộc đấu thầu, những công ty thắng thầu phải là những công ty có kinh nghiệm và có nhiều ý tưởng sáng tạo nhất, đồng thời phải biết huy động được nguồn vốn. Những công ty địa ốc sẽ sẵn sàng nhảy vào trong cuộc chơi này, bởi vì họ biết là sẽ có những cơ hội kinh doanh. Nhưng không thể chỉ nhìn đến kinh doanh đơn thuần, mà phải tính đến lợi ích chung của xã hội.
»

Tác giã : Thanh Phương (RFI)

Nhớ lại Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi giờ đã thành dĩ vãng

2438 views

Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi xưa còn có tên là nghĩa trang của người Châu Âu (Cimetière Européen) hay nghĩa trang Massiges hoặc Đất thánh Tây theo cách gọi của người Sài Gòn. Nghĩa trang này được xây dựng vào năm 1859 ở bên mặt đông đường National nay là Hai Bà Trưng với tổng diện tích là 7,5 ha. Lúc đầu là nơi chôn cất các binh lình bộ binh, thủy thủ và sĩ quan Pháp trong cuộc chiếm đóng Sài Gòn. Ngay từ đầu lúc thành lập nó được hải quân Pháp quản lý.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Những người chiếm đóng đầu tiên được chôn ở đây gồm có đại úy thủy quân lục chiến Nicolas Barbe (chém đầu tại chùa Khải Tường vào 07 tháng 12 năm 1860), Trung tá Jean-Ernest Marchaisse (bị giết tại Tây-Ninh vào ngày 14 Tháng Sáu năm 1866) và đại úy Savin de Larclauze (cũng thiệt mạng tại Tây Ninh trên 07 tháng 6 năm 1868); nhà thám hiểm sông Cửu Long Captain L Doudart de Lagrée (qua đời ngày 12 tháng ba năm 1868 trong khi dẫn đầu một cuộc khảo sát địa lý và thăm dò của sông Mekong sang Lào và Trung Quốc) và Trung úy Francis Garnier (chết ngày 21 Tháng 12 năm 1873 tại Hà Nội). Lúc đó (năm 1895) nghĩa trang chứa 239 ngôi mộ quân sự.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Năm 1870 nghĩa trang được đổi tên là vườn của cha Ormoy tức là bác sĩ trưởng Lachuzeaux d’Ormoy (1863-1874) dùng ý tưởng đưa các bệnh nhân khó bảo nhất đến đây để chăm sóc các luông cỏ và vườn hoa, cuối thập niên 1860, dân thường bắt đầu được chân cất ở đây vì trong những năm đầu của thuộc địa bởi tỷ lệ tử vong cao do các bệnh nghiêm trọng đặc hữu như dịch tả, sốt rét, ký sinh trùng đường ruột và kiết lỵ. Một báo cáo năm 1889 ghi nhận rằng “Sự tồn tại trong thuộc địa của chúng ta về dịch bệnh khủng khiếp mà tất cả đã gây tổn thất cho sinh mạng chúng tôi hơn trên các chuyến đi biển”, điều thú vị, nghĩa trang của người Châu Âu có chứa một số lượng tương đối lớn các ngôi mộ với các tên người Đức, phản ánh ưu thế kinh doanh của thương gia Đức ở Sài Gòn, đặc biệt là trước năm 1870. Trong một góc của nghĩa trang này cũng có một nhóm các ngôi mộ thuộc về một nhóm thủy thủ người Nga bị thương, đã chạy trốn đến vịnh Cam Ranh vào năm 1894 sau thất trận trong trận Tsushima và sau đó đã chết trong bệnh viện quân sự ở Sài Gòn.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Vào khoảng năm 1870, một Nghĩa trang Việt Nam nhỏ (Cimetière Anamite hay Cimetière Indigène) được mở ngay tại phía bắc của nghĩa trang của người Châu Âu . Đường phân chia hai nghĩa trang này – là đường Hiền Vương sau này – được đặt tên ngắn gọn rue des Deux cimetières (đường hai nghĩa trang) trước khi nó trở thành rue Mayer vào cuối năm 1880, từ cuối thế kỷ 19, các tiêu chuẩn về vệ sinh được cải thiện và thuộc địa phát triển thịnh vượng, nghĩa trang của người Châu Âu đã trở thành nơi an nghỉ cuối cùng của sự lựa chọn cho các chính trị gia thuộc địa của Sài Gòn và các quản trị viên, trong số có kiến trúc sư Marie-Alfred Foulhoux (1840-1892) và thị trưởng thành phố Sài Gòn Paul Blanchy (1837-1901).
Ngày 14 Tháng 12 năm 1912, sự thay đổi quy định này của nghĩa trang của người Châu Âu thành một nơi chôn cất cho tầng lớp thượng lưu thuộc địa được nhắc trong một báo cáo quan trọng của tờ Courrier Saigonnais.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Số lượng ngày càng tăng của những ngôi mộ hoành tráng thuộc các chức sắc cao trong khi các ngôi mộ của nhiều người lính và thủy thủ bị bỏ phế cỏ mọc um tùm. Đã có những lời chỉ trích việc “không cữ kiêng” khai quật các ngôi mộ của người nghèo trong thời hạn bảy hay tám năm và di dời ở một nơi khác, có lẽ là để nhường chỗ cho những người giàu có và nổi tiếng.
Đầu thế kỷ 20, nghĩa trang được chia cắt thành những con đường nhỏ có trồng cây và kiểng do các nhân viên của thào cầm viên Sài Gòn. Nghĩa trang lúc này được bao bọc bởi bốn bức tường vôi cao 2m5 với cổng chính ở phía nam đường Legrand de la Liraye. Cổng chính này nằm đối diện trực tiếp cuối phía bắc của đường Bangkok, và sau năm 1920, khi đường Bangkok được đổi tên thành đường Massiges, nghĩa trang được biết đến với cái tên mới là nghĩa trang đường Massiges.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Năm 1880 nghĩa trang được chuyển cho văn phòng bảo tồn nghĩa trang thuộc một phần của văn phòng sở vệ sinh Sài Gòn có trụ sở số 67 đường Massiges (hiện nay là đường Mạc Đĩnh Chi)
Nhiều nhân vật nổi tiếng của thời kỳ thuộc địa sau đó đã được chôn cất ở đây, bao gồm cả sĩ quan hải quân Pháp Alain Penfentenyo de Kervéréguin (mất 12 tháng 2 năm 1946), nhà truyền giáo Grace Cadman (qua đời ngày 24 tháng 4 năm 1946) và nhà báo và chính trị gia Henri Chavigny de Lachevrotière (qua đời ngày 12 tháng 1 1951). Tuy nhiên, bởi tất cả các tài khoản, ngôi mộ ấn tượng nhất của thời gian này là lăng mộ lớn của Nguyễn Văn Thinh (qua đời ngày 10 tháng 11 năm 1946), Chủ tịch đầu tiên của thời tự trị Cộng hòa Nam Kỳ (République de Cochinchine Autonome, 01 tháng 6 1946- 8 Tháng 10 năm 1947).

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Vào tháng Ba năm 1955, đường Massiges được đổi tên thành đường Mạc Đĩnh Chi từ đó nghĩa trang này được mang tên nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, trong hai thập kỷ tiếp theo, thế hệ của các chính trị gia cao cấp, các nhà lãnh đạo quân sự và các thành viên nổi bật khác của xã hội miền Nam Việt Nam đã chôn tại đây cùng với một số lượng nhỏ của người nước ngoài nhưlàm việc cho bài Time và Newsweek như phóng viên François Sully (qua đời vào tháng Hai 1971).
Tuy nhiên, có lẽ người nổi tiếng nhất của thời kỳ này là Tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm và em trai của ông là giám đốc cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, người đã bị ám sát vào ngày 02 tháng mười một năm 1963, ngoài ra nơi đây còn có mộ của thống tướng Việt Nam Cộng Hòa Lê Văn Tỵ, mộ của chuẩn tướng Lưu Kim Cương chết trong trận Mậu Thân, mộ của hai học sinh một theo đạo Phật, một theo đạo Thiên chúa chết trong vụ xung đột giáo phái năm 1964.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Năm 1971, theo Arthur J Dommen (Tác giả cuốn Kinh nghiệm Đông Dương của Pháp và Mỹ: Chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản tại Campuchia, Lào và Việt Nam, 2001) vào thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu một phần bức tường phía tây bị sụp mà theo lời của một nhà tiên tri Cao Đài nói là ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về cái chết của ông Diệm và phải làm gì đó để giải thoát cho linh hồn ông Diệm, tuy nhiên, câu chuyện ma về nghĩa trang chỉ thực sự bắt đầu lan truyền rộng rãi sau năm 1983, khi chính quyền thành phố quyết định ngừng hoạt động nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi và chuyển đổi nó thành công viên Lê Văn Tám.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Sự giải tỏa nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi nằm trong một dự án lớn bao gồm việc giải tỏa nghĩa trang quân đội Pháp tại ngã tư Bảy Hiền và Lăng Pigneau de Béhaine gần sân bay Tân Sơn Nhất, cũng như các nghĩa trang cũ của Pháp ở Vũng Tàu. Những người có thân nhân chôn trong các nghĩa trang được hướng dẫn để sắp xếp cho việc cải táng trong vòng hai tháng. Còn lại nếu không có người nhận thì được hỏa táng và di dời nơi khác. Còn lại hài cốt của những người lính Pháp được đưa về Pháp chôn cất ở Fréjus, nơi một đài tưởng niệm được dựng nêu ra tôn vinh họ. Trong thời gian khai quật để di dời các ngôi mộ tại đây người ta đã phát hiện tấm bia mộ của tướng Barbe là tấm bia mộ của Phạm Đăng Hưng được khắc phía sau.
Công viên Lê Văn Tám thay thế cho Nghĩa trang Mạc Đình đã trở thành một nơi phổ biến cho hoạt động giải trí, vẫn còn nhiều người dân địa phương mê tín dị đoan người không muốn đến đó vì lịch sử trước đó.

@ Photos : Frederick P Fellers (Indianapolis, USA)

Câu truyện về bùng binh Hồ Con Rùa ở Sài Gòn

1424 views

VỊ TRÍ
Nguyên thủy ban đầu, tại vị trí Hồ Con Rùa hiện nay, vào năm 1790 là vị trí cổng thành Khảm Khuyết của thành Bát Quái (còn gọi là thành Quy). Về sau vua Minh Mạng đổi tên thành cửa Vọng Khuyết. Tuy nhiên sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835) thì vào năm 1837, nhà vua đã cho phá thành Bát Quái và xây dựng một ngôi thành nhỏ hơn mang tên là thành Phụng. Vị trị cửa Khảm Khuyết trở thành một điểm ở ngoài thành và nối thẳng con đường ngoài mặt tây thành xuống bến sông.
Vào năm 1878, tháp nước được xây tại vị trí Hồ Con Rùa ngày nay để cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng gọi là Công trường Tháp Nước (Place de Château d’eau). Tháp xây kiên cố, khá cao, có thang hình xoắn ốc dẫn lên tới đỉnh.
Đến năm 1921 thì tháp nước bị phá bỏ do không còn đủ sức đáp ứng nhu cầu cung cấp nước nữa. Vị trí này trở thành giao lộ như ngày nay, với tên gọi là Công trường Maréchal Joffre (cắt giao lộ là đường Testard – nay là đường Võ Văn Tần – và đường Larclauze – nay là đường Trần Cao Vân).
Ngày 11/11/1927, người Pháp đã cho xây dựng tại vị trí này một tượng đài ba binh sĩ Pháp bằng đồng với hồ nước nhỏ để tưởng niệm lính Pháp và lính Đông Dương chết trong thế chiến thứ nhất. Trong cuộc chiến tranh này, khoảng 9 vạn người Đông Dương – mà phần đông là người Việt Nam – bị Pháp bắt đưa sang châu Âu để đánh nhau với Đức hoặc làm việc trong các cơ xưởng quân sự. Công trình này được gọi là công trường Chiến sĩ trận vong hay công trường Ba Hình.

Bùng binh Hồ Con Rùa
Công trường Tháp Nước (Place de Château d’eau) thời Pháp thuộc.

Sau đó, công trường này mang tên Thống chế Joffre (1852-1931), người từng cầm quân xâm lược nước ta ở Bắc Kỳ. Các tượng đài này tồn tại đến năm 1956, sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, thì tượng này cũng bị Chính phủ Việt Nam Cộng hòa phá bỏ, chỉ còn lại hồ nước nhỏ. Giao lộ cũng được đổi tên thành Công trường Chiến sĩ.
Thời điểm xây dựng Hồ Con Rùa chưa được xác định chính xác. Một số tài liệu cho là nó được xây dựng vào năm 1965, vài tài liệu khác thì cho là 1967. Người thiết kế Hồ con Rùa là kiến trúc sư Nguyễn Kỳ. Mẫu thiết kế của ông được chọn trong cuộc thi tìm quy hoạch mới cho địa danh này (Nguyễn Kỳ nay sống tại Sydney, Australia).

VỀ CÔNG TRÌNH VÒNG XOAY HỒ CON RÙA
Từ 1970 đến 1974, Hồ Con Rùa thực sự được trùng tu và chỉnh trang trong đó gồm việc dựng thêm và điều chỉnh 5 cột bê tông cao có dạng như một bông hoa nhiều cánh, trên đỉnh là 1 hình tròn to tượng trưng cho đồng xu được hứng bởi những cánh hoa đó, hình ảnh này biểu tượng cho bàn tay xoè ra đón nhận viện trợ. Con rùa được làm bằng lá đồng mỏng, ốp trên khung sườn bằng thép góc và thép lá. Vì vậy không tốn kém mấy về vật liệu và dễ thực hiện. Bia trên lưng rùa một mặt thì khắc câu tri ân các quốc gia đã viện trợ, một mặt khắc tên tất cả các quốc gia này.
Công trình mới này còn bao gồm một vòng xoay giao thông với đường kính khoảng gần 100 mét, được trang trí bởi cây xanh và hồ phun nước hình bát giác lớn với 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm. Vì vậy công trình xây dựng tại vòng xoay hồ con rùa chính là Đài kỷ niệm Viện trợ Quốc tế cho Việt Nam Cộng Hòa tức miền Nam VN trước năm 1975, khi VN còn chia cắt làm 2 phần nam bắc VN.
Sau khi xây dựng xong thì ban đầu khu giao lộ này được đặt tên là Công trường Chiến sĩ Tự do, đến năm 1972 thì đổi tên thành Công trường Quốc tế hay bùng binh Hồ Con Rùa vì dứơi chân có một con rùa đội bia.
Sau năm 1975, các dòng chữ trên tấm bia bị chính quyền mới sơn phủ lên che đi. Đường Duy Tân bị thay tên thành đường Phạm Ngọc Thạch còn đường Trần Quý Cáp đổi thành đường Võ Văn Tần. Vào đầu năm 1976 (hay 1978), tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ, tuy con rùa không còn nhưng người dân vẫn quen gọi là Hồ Con Rùa, thay cho tên gọi chính thức.
Khu vực vòng xoay hồ con rùa bao quanh bởi các quán cà phê, là nơi tấp nập về đêm và là một trong những vòng xoay có nhiều cây xanh nhất thành phố Hồ Chí Minh.

VỀ GIAI THỌAI HỒ CON RÙA
Theo lời thuật lại của nhà báo ngành Công an Huỳnh Bá Thành (Ba Trung) trong cuốn sách “Vụ án Hồ Con Rùa” (NXB Tuổi Trẻ 1982) thì có các giai thoại truyền miệng kể là vào năm 1967, khi tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, đã mời một thầy phong thủy người Hoa nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập. Người thầy phong thủy này khen vị trí của dinh là vị trí của long mạch, trấn yểm vị trí của đầu rồng[3]. Cũng theo lời thuật trên thì con rồng này đầu tại dinh Độc Lập và đuôi nằm tại vị trí Công trường Chiến sĩ, tuy phát hưng vượng, nhưng do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp không bền, vì vậy cần phải cúng yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng không vùng vẫy nữa thì mới giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài. Cũng vì thế, mà theo một số người thì kiến trúc tháp cao giống như hình một thanh gươm (hoặc cây đinh/kim), đóng xuống hồ nước để giữ chặt đuôi rồng, và khuôn viên hồ nước có hình bát quái, bên giữa có hình âm dương.
Một số người khác thì lại cho rằng kiến trúc tháp lại giống hình đuôi rồng vươn cao, nhưng có con rùa đè chặt ở phần đầu ngọn. Số khác thì lại cho là nhìn từ trên cao xuống thì toàn thể kiến trúc trông giống như một con rùa. Một số người lại đưa giải thích là sở dĩ làm hình con rùa, vì trong dân gian, con rùa mới đội bia (trên lưng rùa lúc đó -xây dựng khoảng năm 1972- có một bia đá ghi công (Xem hình: 1 và2), và nơi đây được thiết kế như một đài tưởng niệm) và ngụ ý “mang ơn”. Nhưng tất cả cũng chỉ là giả thuyết hay là giai thoại thêu dệt thêm.

Những điều bạn cần biết về Nhà hát Lớn Hà Nội

868 views

Nhà hát Lớn Hà Nội là công trình có kiến trúc hoàn hảo, quy mô bậc nhất, góp phần định hình kiến trúc, diện mạo của Thủ đô Hà Nội ở nửa đầu thế kỷ XX. Nơi đây vẫn lưu giữ những câu chuyện bí ẩn như: Tác giả thực sự của công trình này, nhà hát không hề có tiếng khi thử âm lần đầu tiên… Cuối tháng 6, Nhà hát Lớn Hà Nội chính thức mở cửa phục vụ du khách trong và ngoài nước tham quan, khám phá…

Tại sao công trình lại quá đồ sộ ?

Theo tư liệu chính thức từ website của Nhà hát Lớn Hà Nội, nhà hát vốn nằm trên một vùng đầm lầy thuộc đất của hai làng Thạch Tần và Tây Luông thuộc Tổng Phúc Lân, huyện Thọ Xương. Vào năm 1899, Hội đồng thành phố nhóm họp dưới quyền chủ tọa của Richard, Công sứ Pháp tại Hà Nội đề nghị lên Toàn quyền Fourer cho xây nhà hát. Tác giả đồ án thiết kế là hai kiến trúc sư Harlay và Broyer. Bản thiết kế này phải sửa đổi nhiều lần do nhận được sự góp ý của nhiều kiến trúc sư. Công trình được khởi công vào ngày 7-6-1901, dưới sự giám sát kỹ thuật của thanh tra đô thị, kiến trúc sư Harlay, một trong hai tác giả thiết kế. Người phụ trách thi công là hai ông: Travary và Savelon.
Việc san lấp mặt bằng diễn ra rất vất vả. Hằng ngày có 300 công nhân làm việc, 35.000 cọc tre được đóng với khối bê tông làm nền dày 90cm. Công trình đã sử dụng hơn 12.000m3 vật liệu, gần 600 tấn gang thép; chiếm diện tích 2.600m2, chiều dài là 87m, chiều rộng là 30m, điểm cao nhất so với mặt đường là 34m. Mặt trước của công trình rất bề thế, những bậc thềm chạy dài trước nhà hát để đón thẳng xe của các quan chức thuộc địa đến xem.
Những người thiết kế công trình đã tìm tòi, tham khảo kiểu kiến trúc cổ Hy Lạp Coranhtơ kết hợp với kiểu lâu đài Tuylơry và Nhà hát Opéra Paris để tạo nên một khối kiến trúc riêng biệt.
Bên trong nhà hát trước đây có sân khấu rộng và một phòng khán giả chính diện tích 24x24m, chứa 870 chỗ ngồi, ghế bọc da, một số chỗ bọc nhung. Tầng giữa có nhiều phòng nhỏ dành cho khán giả có vé riêng. Cầu thang giữa lên tầng hai là một sảnh chính rộng. Cầu thang phụ và hành lang ở hai bên. Phía sau nhà hát là một phòng quản trị, có 18 buồng cho diễn viên hóa trang, 2 phòng tập hát, 1 thư viện và phòng họp. Nhà hát là nơi biểu diễn các loại hình nghệ thuật cổ điển như Opéra, nhạc thính phòng, kịch nói… phục vụ cho tầng lớp quan lại thượng lưu người Pháp và một số ít người Việt giàu có.
Lịch biểu diễn một tuần 4 lần vào thứ ba, thứ năm, thứ bảy và chủ nhật. Kinh phí xây dựng nhà hát được duyệt là 2.000.000 franc Pháp – một khoản tiền rất lớn vào thời đó. Không chỉ báo chí, nhiều quan chức trong Chính phủ Pháp đã đặt câu hỏi: Tại sao lại bỏ khoản tiền lớn như vậy để xây một nhà hát bề thế trong khi dân số ở thành phố thuộc địa này ít hơn rất nhiều so với Paris; phải chăng có sự cấu kết ngầm giữa quan chức có quyền duyệt chi với các công ty thầu? Hay cho tương lai của Hà Nội? Đó vẫn là những câu hỏi còn tồn tại cho đến hôm nay.

Nhà hát Lớn Hà Nội

Ai là “cha đẻ” của Nhà hát Lớn ?

Có nhiều người cho rằng, Nhà hát Lớn Hà Nội giống Nhà hát Opéra Garnier của Pháp xây dựng vào nửa cuối thế kỷ XVIII. Tuy nhiên KTS Hoàng Đạo Kính lại không đồng tình quan điểm này, ông chia sẻ: “Tôi đã từng nhiều lần đến thăm Nhà hát đó ở Paris và thấy rằng Nhà hát Lớn Hà Nội không phải là phiên bản của Nhà hát Garnier. Bởi vì Nhà hát Opéra Garnier rất đồ sộ, nguy nga và rất cầu kỳ với 2.600 chỗ, trong khi Nhà hát Lớn Hà Nội chưa đầy 1.000 chỗ. Nếu có giống nhau thì có chăng là về chức năng, cấu trúc, không gian mặt bằng mà thôi.
Còn về mặt kiến trúc, Nhà hát Lớn Hà Nội là một sự phát triển đặc trưng của lối kiến trúc Pháp ở một nước thuộc địa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong đó có sự biểu hiện, tiếp nối của kiến trúc tân cổ điển và kiến trúc tân Ba rốc. Thậm chí có những nhân tố bản địa hóa rất đặc biệt, độc đáo và có giá trị thẩm mỹ tự thân chứ không bắt chước một cái nào của Opéra Garnier cả. Nếu đặt Nhà hát Lớn Hà Nội bên cạnh các nhà hát tiêu biểu trên thế giới thì nó rất độc lập, không giống nhà hát nào về mặt kiến trúc”.
Cũng theo một tài liệu mà người viết có được thì GS.KTS Hoàng Đạo Kính, người chủ trì công cuộc trùng tu Nhà hát Lớn vào những năm 90 của thế kỷ trước cũng từng băn khoăn rằng tác giả của công trình này cho đến nay vẫn là một ẩn số. Nhiều kiến trúc sư đã tìm trong không ít hồ sơ cả ở Việt Nam và ở Pháp nhưng cho đến nay vẫn chưa biết được ai là tác giả của công trình này. Vì vậy, cũng dễ hiểu khi không chỉ các kiến trúc sư mà ngay cả chúng ta đều có mong muốn được tìm hiểu, làm rõ ai là tác giả thực sự của một công trình độc đáo ở xứ Đông Dương thuộc địa xa vời với nước Pháp mà lại chín muồi đến thế…(còn nữa)
KTS Hồ Thiệu Trị, người sáng lập kiêm Tổng Giám đốc HTT Group, đồng thời cũng là người tham gia vào việc trùng tu Nhà hát Lớn Hà Nội trong giai đoạn 1995-1997 cho biết: “Năm 1994, lần đầu tiên từ Pháp về Việt Nam, tôi đến thăm nhà hát. Nhìn thoáng qua, tôi thấy công trình giống như những nhà hát ở Pháp và Châu Âu, nhưng khi quan sát kỹ, lại thấy phảng phất đường nét, chi tiết rất Việt Nam.
Nhà hát Lớn được thiết kế rất đúng với tinh thần của kiến trúc thuộc địa, ở thời điểm đó, tại Việt Nam chưa có mô hình nhà hát lớn nào làm hình mẫu. Sự tồn tại của Nhà hát Lớn Hà Nội đến giờ được coi là duy nhất ở Đông Nam Á”.

© Lâm Vũ

Lịch sữ hình thành của Nhà Thờ Đức Bà

755 views

Vị trí

Ban đầu, địa điểm xây cất được đề nghị ở 3 nơi:
– Trên nền Trường Thi cũ (nay là góc đường Lê Duẩn và Hai Bà Trưng, tức vị trí tòa Lãnh sự Pháp).
– Ở khu Kinh Lớn (tại vị trí nhà thờ cũ, nay thuộc đường Nguyễn Huệ).
– Vị trí hiện nay: số 1, Công Xã Paris, P. Bến Nghé, Q1

Nhà thờ Đức Bà

Lịch sử hình thành

Tháng 8 năm 1876, Thống đốc Nam kỳ Duperré đã tổ chức một kỳ thi vẽ đồ án thiết kế nhà thờ mới. Ngoài mục tiêu có chỗ thờ phụng, hành lễ cho tín đồ, việc xây dựng nhà thờ lớn cũng nằm trong mục đích phô trương đạo Công giáo và sự vĩ đại của nền văn minh nước Pháp trước người dân thuộc địa. Vượt qua 17 đồ án thiết kế khác, đồ án của kiến trúc sư J. Bourad với phong cách kiến trúc Roman cải biên pha trộn nét phong cách kiến trúc Gotich đã được chọn.
Thống đốc Nam kỳ Duperré cho đấu thầu việc xây dựng nhà thờ và cũng chính kiến trúc sư này là người trúng thầu và trực tiếp giám sát công trình.
Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên trước mặt Phó soái Nam Kỳ và đông đủ nhân vật cấp cao thời ấy. Nhà thờ được xây dựng trong 3 năm. Lễ Phục sinh, ngày 11 tháng 4 năm 1880, nghi thức cung hiến và khánh thành do cố đạo Colombert tổ chức trọng thể với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers. Hiện nay, trên bệ phía trên, bên trong cửa ra vào nhà thờ, có chiếc bảng cẩm thạch gắn trong hành lang (transept) ghi ngày khởi công, ngày khánh thành và tên vị công trình sư. Tất cả mọi chi phí xây dựng, trang trí nội thất đều do Soái phủ Nam Kỳ đài thọ, với số tiền 2.500.000 franc Pháp theo tỷ giá thời bấy giờ. Ban đầu, nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Nhà Nước vì nó do nhà nước Pháp bỏ tiền xây dựng và quản lý.
Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6 m và có 6 chuông đồng lớn nặng 28,85 tấn. Trên đỉnh tháp có đính một cây thánh giá cao 3,50 m, ngang 2 m, nặng 600 kg. Tổng thể chiều cao từ mặt đất lên đỉnh thánh giá là 60,50 m.

Nhà thờ Đức Bà

Trên vườn hoa trước nhà thờ, năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Bá Đa Lộc hoặc Giám mục Adran vì vị này làm Giám mục hiệu tòa Adran) dẫn hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long) để ca ngợi công lao của nước Pháp “bảo hộ”, “khai hóa” cho Việt Nam. Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc hình Giám mục Adran với phẩm phục giám mục, tay trái dẫn hoàng tử Cảnh. Tượng làm bằng đồng, được đúc tại Pháp, giới bình dân thời đó thường gọi là tượng “hai hình” để phân biệt với tượng “một hình”, là bức tượng của Đô đốc Hải quân Pháp Genouilly ở phía công trường Mê Linh (nay là cuối đường Hai Bà Trưng, gần bờ sông Sài Gòn). Năm 1945, tượng này bị phá bỏ, nhưng cái bệ đài bằng đá hoa cương đỏ thì vẫn còn tồn tại ở đó mà không có bất cứ một bức tượng nào đặt lên trên.

Nhà thờ Đức Bà Saigon

Năm 1958, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên (sau làm Giám mục giáo phận Phú Cường, giờ đã qua đời), cai quản Giáo xứ Sài Gòn thời ấy, đã đặt tạc một tượng Đức Mẹ Hòa Bình bằng loại đá cẩm thạch trắng Carrara của Ý. Tượng được tạc tại Pietrasanta cách Roma khoảng 500 km. Khi tượng hoàn tất thì được đưa xuống tàu Oyanox vào ngày 8 tháng 1 năm 1959 từ hải cảng Gênes chở tượng qua Việt Nam và tới Sài Gòn ngày 15 tháng 2 năm 1959. Sau đó, công ty Société d’Entreprises đã dựng tượng Đức Mẹ lên bệ đá vốn còn để trống kể từ năm 1945 trước nhà thờ. Tự tay linh mục viết câu kinh cầu nguyện “Xin Đức Mẹ cho Việt Nam được hòa bình” rồi đọc trước đông đảo quan khách có mặt hôm ấy. Ngày hôm sau, Hồng y Aganianian từ Roma qua Sài Gòn để chủ toạ lễ bế mạc Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc, đã làm phép bức tượng này vào buổi chiều ngày 17 tháng 2 năm 1959. Từ sự kiện này mà từ đó nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Đức Bà.
Ngày 5 tháng 12 năm 1959, Tòa Thánh đã cho phép làm lễ “xức dầu”, tôn phong Nhà thờ Chính tòa Sài Gòn lên hàng tiểu Vương cung thánh đường (basilique). Từ đó, tên gọi chính thức của thánh đường là Vương cung thánh đường Đức Bà Sài Gòn.
Năm 1960, Tòa Thánh thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam với ba tòa Tổng Giám mục tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Nhà thờ trở thành nhà thờ chinh tòa của vị Tổng giám mục Sài Gòn cho đến ngày nay.

Nhà thờ Đức Bà

Đặc điểm

– Tên chính: Vương cung thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội.
– Tôn giáo: Công giáo Rôma
– Chức năng : thuôc Giáo xứ chính tòa
– Kiến trúc Thiết kế: J. Bourad
– Khánh thành: 11 tháng 4, 1880
– Phong cách: Kiến trúc Roman và Gôtich

Trong quá trình xây dựng, toàn bộ vật liệu xây dựng từ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang. Mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Marseille để trần, không tô trát, (đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi), không bám bụi rêu. Một số ngói vỡ trong nhà thờ có in hàng chữ Guichard Carvin, Marseille St André France (có lẽ là nơi sản xuất loại ngói này), mảnh ngói khác lại có hàng chữ Wang-Tai Saigon. Có thể đây là mảnh ngói được sản xuất sau tại Sài Gòn dùng để thay thế những mảnh ngói vỡ trong thời gian Thế chiến thứ hai do những cuộc không kích của quân Đồng Minh. Toàn bộ thánh đường có 56 ô cửa kính màu do hãng Lorin của tỉnh Chartres (Pháp) sản xuất.
Móng của thánh đường được thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Và một điều rất đặc biệt là nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Sài Gòn – Gia Định lúc ấy và bây giờ.
Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người.
Nội thất thánh đường có hai hàng cột chính hình chữ nhật, mỗi bên sáu chiếc tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Ngay sau hàng cột chính là một hành lang và kế đó là nhiều nhà nguyện nhỏ với những bàn thờ nhỏ (hơn 20 bàn thờ) cùng các bệ thờ và tượng thánh nhỏ làm bằng đá trắng khá tinh xảo. Bàn thờ nơi Cung Thánh làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối có hình sáu vị thiên thần khắc thẳng vào khối đá đỡ lấy mặt bàn thờ, bệ chia làm ba ô, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc diễn tả thánh tích. Trên tường được trang trí nổi bật 56 cửa kính mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh Kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Tất cả các đường nét, gờ chỉ, hoa văn đều tuân thủ theo thức Roman và Gôtich, tôn nghiêm và trang nhã. Tuy nhiên, trong số 56 cửa kính này hiện chỉ còn bốn cửa là nguyên vẹn như xưa, còn các cửa kính màu khác đều đã được làm lại vào khoảng những năm 1949 để thay thế các cửa kính màu nguyên thủy của nhà thờ đã bị bể gần hết trong thế chiến thứ 2. Trên trán tường của cửa chính nhà thờ có hàng chữ Latinh:
DEO OPTIMO MAXIMO BEATIEQUE MARIA VIRGIN IMMACULATOE
Nghĩa là: Thiên Chúa tối cao đã ban cho Đức Trinh Nữ Maria được ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Nhà thờ Đức Bà

Còn trên trán tường của cửa vào bên phải có những hàng chữ bằng tiếng Hoa, thật ra đó là hai câu đối: “Nhà thờ Thiên Chúa đầy ân đức – Thánh mẫu vô nhiễm nguyên tội“. và hàng chữ nói tới năm khánh thành nhà thờ 1880. Nội thất thánh đường ban đêm được chiếu sáng bằng điện (không dùng đèn cầy) ngay từ khi khánh thành. Vào ban ngày, với thiết kế phối sáng tuyệt hảo, hài hòa với nội thất tạo nên trong nội thất thánh đường một ánh sáng êm dịu, tạo ra một cảm giác an lành và thánh thiện. Ngay phía trên cao phía cửa chính là “gác đàn” với cây đàn organ ống, một trong hai cây đàn cổ nhất Việt Nam hiện nay. Đàn này được các chuyên gia nước ngoài làm bằng tay, thiết kế riêng, để khi đàn âm thanh đủ cho cả nhà thờ nghe, không nhỏ mà cũng không ồn. Hiện nay, cây đàn này đã hoàn toàn hỏng do bị mối ăn phần gỗ bàn phím điều khiển bằng tay.
Lúc đầu nhà thờ không có tháp chuông. Đến năm 1895 thì được xây thêm 2 tháp chuông lớn. Có tất cả 6 chuông lớn (sol, la, si, đô, rê, mi), gồm sáu âm, nặng tổng cộng 28,85 tấn, đặt dưới hai lầu chuông. Bộ chuông này được chế tạo tại Pháp và mang qua Sài Gòn năm 1879. Trên mặt mỗi quả chuông đều có các họa tiết rất tinh xảo.
Ba quả chuông to nhất là chuông si , chuông la và đặc biệt là chuông sol là một trong những quả chuông lớn nhất thế giới. Chuông này chỉ ngân lên mỗi năm một lần vào đêm Giao thừa Âm lịch.
Các chuông đều được điều khiển bằng điện từ bên dưới. Riêng ba chiếc chuông lớn trước khi đánh đều được khởi động bằng cách đạp (vì quá nặng) cho lắc trước khi bật công tắc điện. Vào ngày thường, thánh đường chỉ cho đổ một chuông mi vào lúc 5 giờ sáng và đổ chuông re vào lúc 16g15. Vào ngày lễ và chủ nhật, nhà thờ thường cho đổ ba chuông theo hợp âm Mi, Re và Do ( đúng ra là hợp âm ba chuông Mi, Do và Sol, nhưng vì chuông Sol qua nặng nên thay thế bằng chuông Do). Vào đêm Giao thừa thì mới đổ cả 6 chuông. Tiếng chuông ngân xa tới 10 km theo đường chim bay.
Bộ máy đồng hồ trước vòm mái cách mặt đất chừng 15 m, giữa hai tháp chuông được chế tạo tại Thụy Sĩ năm 1887, hiệu R.A, cao khoảng 2,5 m, dài khoảng 3 m và ngang độ hơn 1 m, nặng hơn 1 tấn, đặt nằm trên bệ gạch. Dù thô sơ, cũ kỹ nhưng hoạt động khá chính xác. Để điều chỉnh đồng hồ, phía sau máy có một chiếc đồng hồ to cỡ đồng hồ reo trong gia đình. Chỉ cần theo dõi chiếc đồng hồ con này, có thể biết đồng hồ lớn chạy chậm, nhanh, đúng hay sai giờ. Mỗi tuần phải lên giây đồng hồ một lần và chiếc cần để lên giây đồng hồ giống như tay quay máy xe. Đồng hồ còn có hệ thống bao giờ bằng búa đánh vô các chuông của nhà thờ, tuy nhiên đã không còn hoạt động do dây cót quá cũ.

Nhà thờ Đức Bà

Mặt trước thánh đường là một công viên với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá. Trung tâm của công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa bình (hay Nữ vương Hòa bình). Tượng do nhà điêu khắc G. Ciocchetti thực hiện năm 1959. Tên của tác giả được khắc ở trên tà áo dưới chân, phía bên trái của bức tượng. Bức tượng cao 4,6 m, nặng 8 tấn, bằng đá cẩm thạch trắng của Ý, được tạc với chủ đích để nhìn từ xa nên không đánh bóng, vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt vẫn còn những vết điêu khắc thô. Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu, trên trái địa cầu có đính cây thánh giá, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời như đang cầu nguyện cho Việt Nam và cho thế giới được hoà bình. Chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn (mà hiện nay, đầu con rắn đã bị bể mất cái hàm trên). Trên bệ đá, phía trước bức tượng, người ta có gắn một tấm bảng đồng với hàng chữ Latinh:
REGINA PACIS – ORA PRO NOBIS – XVII. II. MCMLIX
Nghĩa là: NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH – CẦU CHO CHÚNG TÔI – 17.02.1959
Phía dưới bệ đá, người ta đã khoét một cái hốc chỗ giáp với chân tượng Đức Mẹ, trong đó có một chiếc hộp bằng bạc, chứa những lời kinh cầu nguyện cho hoà bình của Việt Nam và thế giới. Những lời cầu nguyện đó được viết lên trên những lá mỏng bằng những chất liệu khác nhau như bằng vàng, bạc, thiếc, nhôm, giấy, da và đồng, được gởi tới từ nhiều miền của Việt Nam, kể cả từ một số vùng ngoài miền Bắc.

Ngô Viết Thụ, Nhà kiến trúc sư cha đẻ của Dinh Độc Lập ở Sài Gòn

830 views

Ngô Viết Thụ không chỉ đơn giản là một kiến trúc sư thiết kế những công trình để lại dấu ấn sâu sắc mà ông còn là một họa sĩ, nhà điêu khắc,… Những công trình kiến trúc của ông là sự tổng hòa giữa nét đẹp Á Đông và nét cổ điển của kiến trúc phương Tây.

Ngô Viết Thụ (1926- 2000) là một kiến trúc sư nổi tiếng, những công trình của ông là sự kết hợp giữa triết lý Á Đông và phong cách kiến trúc cổ điển châu Âu.
Ông am hiểu sâu sắc về phong thủy, kín đáo vận dụng khéo léo hiểu biết trong mỗi tác phẩm kiến trúc của mình, chỉ ai có kiến thức trong lĩnh vực này mới nhận ra. Đối với ông vận dụng phong thuỷ trong kiến trúc là để chiêm nghiệm xem thực hư ra sao, vì nó là lĩnh vực không dễ dàng nói bằng lời.
Ngô Viết Thụ sinh ra ở Thừa Thiên Huế, ông có một tuổi thơ nhọc nhằn, túng thiếu, ở với ông ngoại và may mắn được ông kèm cặp chữ Hán. Năm 1948, học xong Trường Cao đẳng kỹ thuật Đà Lạt, được gia đình vợ giúp sang du học ở Pháp. Năm 1950, Ngô Viết Thụ thi đậu vào Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris. 5 năm sau ông bảo vệ đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư xuất sắc D.P.L.G, được hưởng suất học bổng ba năm nghiên cứu và sáng tác tại khu biệt thự Madicis của Viện Hàn lâm Pháp tại La Mã. Tại đây, ông đã dự thi thiết kế công trình Ngôi thánh đường trên Địa Trung Hải có sức chứa 40 ngàn tín đồ. Đồ án được lọt vào vòng trong, bao gồm 10 tác phẩm xuất sắc nhất. Vòng cuối, tác phẩm của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đoạt Giải thưởng Lớn Roma về kiến trúc (Premier Grand Prix de Roma).

Ngô Viết Thụ - Rome 1955
Bản thiết kế giúp ông dành được giải thưởng lớn khi còn học bên nước ngoài

Ông là thành viên Hội Kiến trúc Sư Pháp SADG (Société des Architectes Diplômés par le Gouvernement) từ 1955 và thành viên Kiến trúc sư Đoàn Việt Nam từ năm 1958. Năm 1962, ông là người châu Á đầu tiên trở thành Viện sĩ Danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (H.F. A.I.A.) đồng lúc với một số kiến trúc sư danh tiếng cùng thời như J.H. Van den Broek, Arne Jacobsen, Steen Eiler Rasmussen, Hector Mestre, Amancio Williams, Hernan Larrain-Errazuriz, Emilio Duhart H., Jerzy Hryniewiecki và John B. Parkin. Sau năm 1975, Ông là cố vấn Ban Chấp hành Hội Kiến trúc sư Việt Nam, và cũng là cố vấn Ban Chấp hành Hội Kiến trúc sư TP HCM các nhiệm kỳ I, II, III, và IV. Ông là thành viên tổ chuyên gia tư vấn kiến trúc cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thời gian đương nhiệm.

Ngô Viết Thụ - Bút Tích
Bút tích và chữ ký của KTS Ngô Viết Thụ

Năm 1960, KTS Ngô Viết Thụ về Sài Gòn làm việc theo lời mời của Tổng thống Ngô Đình Diệm ở tuổi 30. Về Việt Nam, con đường kiến trúc rộng mở đối với ông, nhiều công trình xây dựng của ông lưu dấu ấn đầy giá trị về kỹ thuật lẫn mỹ thuật.

Dinh Độc Lập – Công trình biểu tượng của Sài Gòn

Đây là công trình đầu tay của ông khi vừa tốt nghiệp ở phương Tây trở về, tuy nhiên, nhìn tổng thể, ông không cứng nhắc theo phong cách kiến trúc hiện đại phương Tây mà có sự kết hợp nhuần nhuyễn với kiến trúc Á Đông, đặc biệt là kiến trúc truyền thống Việt Nam. Kiến trúc Định dạng hình chữ T, là một trong bộ ba kết hợp thành tên của KTS- THU bao gồm Dinh Độc Lập- Chợ Đà Lạt- Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.

Dinh Độc Lập
Dinh Độc Lập – Mặt tiền
Dinh Độc Lập - Phía thân
Dinh Độc Lập – Phía thân chữ T

Khi thiết kế Dinh Ðộc Lập, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ muốn tìm một ý nghĩa văn hóa cho công trình, nên mọi sự xếp đặt từ bên trong nội thất cho đến tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho triết lý cổ truyền, nghi lễ Phương đông và cá tính của dân tộc. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật kiến trúc hiện đại với kiến trúc truyền thống Phương Ðông. Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ CÁT ( 吉 ) có nghĩa là tốt lành, may mắn; Tâm của Dinh là vị trí phòng Trình quốc thư; Lầu thượng là Tứ phương vô sự lầu hình chữ KHẨU ( 口 ) để đề cao giáo dục và tự do ngôn luận. Hình chữ KHẨU ( 口 ) có cột cờ chính giữa sổ dọc tạo thành hình chữ TRUNG ( 中 ) như nhắc nhở muốn có dân chủ thì phải trung kiên. Nét gạch ngang được tạo bởi mái hiên lầu tứ phương, bao lơn danh dự và mái hiên lối vào tiền sảnh tạo thành hình chữ TAM ( 三 ), theo quan niệm dân chủ hữu tam viết nhân, viết minh, viết võ, ý mong muốn một đất nước hưng thịnh thì phải có những con người hội đủ 3 yếu tố Nhân, Minh, Võ. Ba nét gạch ngang này được nối liền nét sổ dọc tạo thành hình chữ VƯƠNG ( 王 ), trên có kỳ đài làm thành nét chấm tạo thành hình chữ CHỦ ( 主 ) tượng trưng cho chủ quyền đất nước. Mặt trước của dinh thự, toàn bộ bao lơn lầu 2 và lầu 3 kết hợp với mái hiên lối vào chính cùng 2 cột bọc gỗ phía dưới mái hiên tạo thành hình chữ HƯNG ( 興 ) ý cầu chúc cho nước nhà được hưng thịnh mãi.

Hinh The Dinh Độc Lập
Dinh Độc Lập - Bức rèm hoa đá đặc sắc
Dinh Độc Lập – Bên trong với bức rèm hoa đá đặc sắc

Loạt ảnh khó quên về Sài Gòn 1965 của Gary Mathews (Phần 1)

342 views

Chúng ta hảy cùng khám phá loạt hình ảnh quý hiếm và khó quên về Sài Gòn vào năm 1965 do cựu binh Mỹ Gary Mathews thực hiện để nhận thấy vẽ  đẹp của Sài Gòn thời bấy giờ:

Gary Mathews - Saigon - Chợ Bà Chiểu 0
Khu vực chợ Bà Chiểu
Gary Mathews - Saigon - Chợ Bà Chiểu 1
Chợ Bà Chiểu, ngôi chợ nổi tiếng của Sài Gòn
Gary Mathews - Saigon - Chùa Phước Viên
Chùa Phước Viên ở Ngã tư Hàng Xanh
Gary Mathews - Saigon - Dinh Độc Lập 1965
Có rất ít sự khác biệt giữa hình ảnh của Dinh Độc Lập năm 1965 và ngày nay
Gary Mathews - Saigon - Đường Hai Bà Trưng
Xe bò kéo trên đường Hai Bà Trưng
Gary Mathews - Saigon - Lăng Ông Bà Chiểu
Lăng Ông Bà Chiểu khi đó chưa có rào cao bao quanh như bây giờ
Gary Mathews - Saigon - Ngã 3 Nguyễn Văn Thinh
Khung cảnh ở khu vực ngã 3 Nguyễn Văn Thinh – Phan Văn Đạt
Gary Mathews - Saigon - Ngã ba Nguyễn Văn Thinh - Phan Văn Đạt
Ngã ba Nguyễn Văn Thinh – Phan Văn Đạt
Gary Mathews - Saigon - Nữ sinh trường nữ học Lê Văn Duyệt
Nữ sinh trường nữ học Lê Văn Duyệt đi qua di tích thành Gia Định ở góc đường Lê Văn Duyệt – Chi Lăng
Gary Mathews - Saigon - Quảng trường Lam Sơn
Quảng trường Lam Sơn và nhà hát lớn, vào thời điểm năm 1965 được gọi là Nhà văn hóa
Gary Mathews - Saigon - Sở Công ty Điện lực
Đường Hai Bà Trưng phía trước trụ sở Công ty Điện lực
Gary Mathews - Saigon - Tòa Đô chính
Tòa Đô chính (UBND Thành phố HCM ngày nay) với tấm bảng yêu cầu “bỏ giấy vụn vào giỏ này” ở bãi cỏ phía trước
Gary Mathews - Saigon - Trụ sở Bộ tư lệnh Hải quân
Trụ sở Bộ tư lệnh Hải quân của chính quyền Sài Gòn

Vài hình ảnh hiếm của đường Catinat thời Pháp thuộc

446 views

Bức ảnh được chụp cuối thế kỷ 19 này ghi lại đoạn đầu đường Catinat. Vị trí ngôi nhà bên trái có người đàn ông đứng tựa cửa, cũng là số 1 đường Catinat, sau này sẽ là khách sạn Majestic.

Để cảm nhận lại hơi thở Sài Gòn xưa trên Rue Catinat, ta có thể đi từ đầu đường, phía bờ sông Sài Gòn, đến phía cuối đường có dốc lên thoai thoải đến Nhà thờ Đức Bà (xưa kia vị trí này là trung tâm của thành Phiên An, tức thành Quy, thời vua Gia Long).

Đường Catinat

Trong một bức ảnh của nhiếp ảnh gia Ludovic Crespin (có cửa tiệm “Photo Studio” ở số 136 đường Catinat) được cho là chụp vào khoảng cuối thập niên 1910 và đầu 1920, phía trái hình là hai tiệm đổi tiền của ba người Ấn (mà người Pháp gọi là “malabar”), số 1 đường Catinat của ông Mougamadou Abdoullah (1909), ông Mougamadou Oussaine (1910) và số 1bis của ông Mougamade Abdoullah (3) (theo niên giám Đông Dương 1909, 1910)

Majestic Hotel

Trong một bức ảnh được chụp sau đó, vị trí bên trái đầu đường Catinat là khách sạn “Hôtel d’Annam” (Nam Việt khách lầu) của ông Huỳnh Huệ Ký

Đường Catinat - Café de la Rotonde

Ở phía đối diện là quán Cafe de la Rotonde nằm ở địa chỉ số 2 Catinat. Bên phải bức ảnh là đường Quai de Belgique (đường Tôn Đức Thắng ngày nay) với hai hàng cây ở một bên hè. Bức ảnh được chụp vào năm 1901, lúc này Sài Gòn vẫn dùng loại đèn thắp dầu để chiếu sáng.

Đường Catinat

Ngôi nhà số 1 Catinat sau đó bị phá bỏ để xây dựng khách sạn Majestic

Majestic Hotel

Khách sạn Majestic được xây dựng bởi công ty thuộc quyền sở hữu của thương gia người Việt gốc Hoa giàu có bậc nhất miền Nam Việt Nam thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (hay còn gọi là Chú Hỏa). Khách sạn Majestic thuở ban đầu có 3 tầng lầu, 44 phòng ngủ do một kiến trúc sư người Pháp thiết kế.

Đường Catinat

Một chiếc xe kéo đoạn đầu đường Catinat. Theo nhiều tài liệu thì xe kéo xuất hiện đầu tiên tại Hà Nội vào năm 1883 do Toàn quyền Bonnal cho đem từ Nhật qua. Gần 15 năm sau Sài Gòn mới biết tới loại xe kéo này (trước đó đây phương tiện di chuyển duy nhất ở đây là xe ngựa)

Đường Catinat

Tòa nhà ngay góc ngã tư Catinat – Vannier (Ngô Đức Kế ngày nay). Đây cũng là ngã tư đầu tiên của đường Catinat

Đường Catinat - Le Grand Hotel

Ngày 24.10.1930, ông Henry Edouard Charigny de Lachevrotière – Tổng biên tập của một tờ báo Pháp có được giấy phép chính thức mở Grand Hotel Saigon. Khi đó nó chỉ là một cửa hàng nước giải khát nhỏ nằm ở góc đường Catinat và Vannier (Ngô Đức Kế)

Đường Catinat - Saigon Palace

Năm 1937 Grand Hotel đổi tên thành Saigon Palace

Đường Catinat - Café de la Terrasse

Nằm ở số 130 Catinat là quán cà phê kiêm khách sạn Café de la Terrasse, bên cạnh quảng trường Francis Garnier (quảng trường Nhà hát Lớn, tức Nhà hát Thành phố ngày nay). Cạnh khách sạn và quán Café de la Terrace nổi tiếng, ở số 128 Catinat là tiệm tạp hóa của bà Wirth. Ngoài bán hàng, bà Wirth còn sản xuất và thương mại hóa các ảnh “cartes postales” từ cuối thế kỷ 19 với các ảnh xưa ở Sài Gòn, quý hiếm trong giai đoạn đó cho đến đầu thế kỷ 20.

Đường Catinat - Patisserie

Cạnh ngôi nhà đầu đường, ở số 157bis Catinat là một tiệm bánh ngọt (patisserie) của ông Marius Rousseng

Đường Catinat - Tramway

Năm 1923 Sài Gòn khai thác tuyến xe điện đầu tiên (trước đó, từ năm 1881, người Sài Gòn đã gọi các tramways là tàu điện dù thực chất đó là tàu hỏa chạy bằng dầu và than). Café de la Terrase trong bức ảnh này đã đổi thành L’information d’Extreme-Orient

Đường Catinat - Aspirine Usines du Rhone

Sài Gòn những năm 1950s. Lúc này, L’information d’Extreme-Orient (vị trí cũ của Café de la Terrase) đã đổi thành tên thương hiệu thuốc Aspirine – Usines du Rhône

Nhịp sống trên đường Catinat thời Pháp thuộc

553 views

Sinh hoạt của đường Catinat vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX được tác giả Nguyễn Liên Phong miêu tả sinh động trong Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca xuất bản tại Sài Gòn năm 1906:

Nhứt là đường Ca-ti-na,
Hai bên lầu các, phố nhà phân minh
Bực thềm lót đá sạch tinh
Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều
Máy may mấy chỗ quá nhiều,
Các tiệm tủ ghế dập dều (sic) phô trương
Đồ sành, đồ cẩn, đồ đương
Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi
… Nhà in, nhà thuộc, nhà chà,
Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son (xoong) ~
… Phong lưu cách điệu ai bằng
Đường đi trơn láng, đền giăng sáng lòa
Thứ năm, thứ bảy, thứ ba
Với đêm chúa nhựt hát nhà hát Tây…

Vào thời kỳ này, đường Catinat là bộ mặt sinh hoạt của cả Sài Gòn, thành phố thuộc địa đầu tiên ở vùng Viễn Đông với sự hiện diện của khoảng 3.000 người Pháp, hơn 3/4 trong số này là sĩ quan và viên chức. Lính Pháp ở trong các bungalow (loại nhà gỗ có hiên rộng) nằm khuất trong những vườn cây xanh. Để tiết kiệm chi phí và tìm sự đông vui hai, ba anh chung nhau tiền mướn một chỗ ở, có sự giúp việc của một anh bồi (boy) bản xứ, đi chợ, giặt giũ, nấu ăn… Sinh hoạt dân sự trên đường Catinat cũng được những người Pháp đương thời miêu tả đúng như Nguyễn Liên Phong. Hai bên đường, các thợ may, thợ đóng giầy người Hoa hoạt động khá đông, sau đó đến các cửa hiệu tạp hóa, nơi du khách có thể tìm thấy thức ăn khô, mũ nón hay yên cương… Từ ngày 24-2-1897, đoạn đường Catinat từ phía sau nhà thờ Đức Bà đến tháp nước (nay là Hồ Con Rùa) mang một tên mới là đường Blancsubé. Về sau nữa, khi thành phố được mở rộng hơn, con đường được tiếp tục nối dài đến đường Mayer (sau là Hiền Vương, nay là Võ Thị Sáu) và khúc cuối này có tên là đường Garcerie.

Đường Catinat

Tiêu biểu cho sinh hoạt trên đường Catinat vào thời kỳ đầu Pháp thuộc là nhiều cơ sở dịch vụ thương mại được thành lập từ rất sớm. Sớm nhất có thể không đâu hơn Hãng Denis Frère mọc lên ở đầu đường, phía bờ sông, nay là khu vực của Grand Hotel, đối diện với Nhà hàng Majestic phía bên kia đường. Sau Denis Frère là hiệu thuốc Tây đầu tiên của cả Sài Gòn nằm ở góc Catinat và Bonard (Lê Lợi), khai trương năm 1865, chủ nhân là Lourdeau, sau làm Xã trưởng Sài Gòn (1870). Ít lâu sau, hiệu thuốc được giao lại cho Holbé, tiến sĩ dược khoa, một nhân vật khá nổi tiếng của đất Sài Gòn xưa, từng làm Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Sài Gòn, Phó Chủ tịch Hội đồng quản hạt Nam kỳ (Conseil colonial de la Cochinchine). Holbé từng điều chế ra một loai biệt dược có tên “Gouttes Holbé” dành cho những tay nghiện á phiện cai nghiện. Về sau, nhà thuốc Tây về tay Renoux, rồi Solirène và mang tên vị chủ nhân này trong một thời gian dài, trước khi bị thay thế bởi nhà hàng Givral còn hoạt động đến ngày nay.

Đường Catinat, con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn thời Pháp thuộc

770 views

Trong số hàng trăm con đường của Sài Gòn, đường Catinat (xưa là đường Đồng Khởi) là một trong số rất ít những con đường kỳ cựu nhất. Nó hiện diện từ trước khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn và tầm quan trọng của nó trải dài từ thời Pháp thuộc cho đến bây giờ.

Trong quyển “Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca” (NXB. Đinh Thái Sơn, Sài Gòn, 1909), nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam thời Pháp thuộc Nguyễn Liên Phong đã mô tả đoạn đầu đường Catinat vào đầu thế kỷ 20 như sau:

Nhứt là đường Ca-ti-na,
Hai bên lầu các, phố nhà phân minh
..Máy may mấy chỗ quá nhiều,
Các tiệm tủ ghế dập dều phô trương
Đồ sành, đồ cẩn, đồ đương [đan]
Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi
..Nhà in, nhà thuộc, nhà chà,
Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son

Theo nhiều tư liệu thì “Rue Catinat” được xem là con đường xưa và nổi tiếng nhất Sài Gòn. Đây cũng là con đường đầu tiên được thiết lập khi Pháp quy hoạch lại thành phố sau khi chiếm được và phá thành Sài Gòn. Còn được gọi là “Rue no. 16” lúc ban đầu cho đến khi là con đường được tráng nhựa đầu tiên, “Rue Catinat” nhanh chóng trở thành trung tâm sinh hoạt thương mại của thành phố.

Đường Catinat

Năm 1861, khi Sài Gòn lọt vào tay quân Pháp thì con đường này đã có một quá trình dài góp mặt vào sinh hoạt của cư dân địa phương. Nó được biết đến nhiều vì ở đầu con đường, nơi giáp với bờ sông (sông Sài Gòn), từng là nơi vua nhà Nguyễn đến nghỉ ngơi và … tắm (Bến Ngự). Tuy nhiên, từ trước năm 1865, nó cùng 25 con đường khác chỉ mang số thứ tự kế tiếp nhau, từ 1 đến 26. Phải chờ đến ngày 1.2.1865, Đề đốc De La Grandière mới đặt tên cho từng con đường một và con đường số 16 lần đầu tiên mang tên Catinat. Nhiều người không rõ xuất xứ của tên này. Theo một số sử liệu, Catinat là tên một thống chế Pháp sinh năm 1637 và mất năm 1712, phục vụ dưới thời vua Louis XIV. Giữa thế kỷ XIX, Pháp lấy tên Catinat đặt cho một chiếc tàu chiến từng tham gia trận đánh Sài Gòn năm 1859 và dựa vào chi tiết này, De La Grandière đặt cho con đường số 16 tên Catinat (trường hợp tương tự cũng xảy ra với rạch Thị Nghè, được Pháp gọi là Arroyo d’Avalanche).
Một trong những tác giả Pháp đầu tiên là Pallu de la Barrière đã miêu tả con đường số 16 này vào năm 1861 như sau: “Du khách đến Sài Gòn nhìn thấy bên hữu ngạn con sông một loại đường phố mà hai bên bị đứt quãng bởi những khoảng trống lớn. Phần lớn nhà cửa làm bằng cây lợp lá cọ ngắn; số khác ít hơn, làm bằng đá. Mái nhà lợp bằng ngói đỏ làm vui mắt và tạo được cảm giác yên bình…”. Tính cách quan trọng của con đường Catinat thể hiện ở chỗ nó được thực dân Pháp sử dụng làm trung tâm của bộ máy thuộc địa. Đầu tiên, vào năm 1863, ở vạt đất nằm giữa hai con đường Mossard (nay là Nguyễn Du) và Gouverneur (sau là De La Grandlière, Gia Long, nay là Lý Tự Trọng), họ dựng lên dinh Thủy sư Đề đốc, cơ quan đầu não của thực dân Pháp tại Viễn Đông, gần chiếc đồng hồ lên cái tháp trước dinh, từ đó, quảng đất trống phía trước (nay là khu đất trước mặt tiền Nhà thờ Đức Bà) được gọi là “Quảng trường Đồng hồ” (Place de l’Horloge). Ngày 15-8-1865, tại quảng trường này đã diễn ra một buổi lễ trong thể có duyệt binh do chính De La Grandière chủ trì nhằm tôn vinh Hoàng đế Pháp Napoléon III và Hoàng hậu.
Năm 1864, Nha Giám đốc Nội vụ (Direction de I’ Intérieur), người dân đương thời gọi là “Dinh Thượng thơ”, được xây dựng, nhìn ra đường Catinat, ở phía đối diện dinh Thủy sư Đề đốc. Viên chức lãnh đạo cơ quan này, xét về mặt cai trị, chỉ xếp sau Thống đốc Nam Kỳ, trực tiếp chỉ huy các tham biện Pháp và quan lại Việt Nam hàng Huyện, Phủ, Đốc phủ sứ. Đầu thập niên 1880, ngay trên lộ trình con đường chạy qua, mọc lên ngôi nhà thờ Notre Dame, về sau được cư dân Sài Gòn gọi là Nhà thờ Đức Bà hay Vương cung Thánh đường. Sau lưng nhà thờ là đường Norodom (nay là Lê Duẩn), lấy tên ông hoàng xứ Cambodge (Campuchia) đến thăm Sài Gòn vào đầu năm 1867, nhân cuộc đấu xảo canh nông đầu tiên tổ chức tại đây.
Năm 1886, Pháp khởi công xây trụ sở chính Sở Bưu chính và Viễn thông (nay là Bưu điện ) trên khu đất đối diện với mặt tiền nhà thờ, nằm giữa con đường Catinat và đường Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng). Cuối đường Catinat, người ta nhìn thấy một tháp nước cao được xây dựng năm 1878 nhằm cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng. Tuy nhiên, đến năm 1921, với sự phát triển của dân cư, tháp nước này không còn đáp ứng được yêu cầu nên bị đập bỏ. Ngày 1.1.1900, nhà hát Tây (nay là Nhà hát thành phố) được khánh thành trên giao lộ đường Bonard (nay là Lê Lợi) và Catinat, trở thành nơi biểu diễn thường xuyên của những đoàn hát từ phương Tây đến.
Sau khi các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, xe lửa), công sở, cơ quan hành chánh và thương mại được thống đốc dân sự Le Myre de Vilers (1879 – 1883) năng động khởi công và thúc đẩy hoàn thành, Sài Gòn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sau hơn 35 năm bị Pháp chiếm đóng, đã trở thành một thành phố có cảnh quan được quy hoạch hài hòa, kiến trúc khu trung tâm có nhiều nét tương đồng các thành phố ở châu Âu. Thậm chí, các du khách đến từ Âu châu và Viễn Đông (chỉ các nước Đông Á) đã có cảm nhận chung Sài Gòn là “Perle de l’Orient” đối với người Pháp, hay “Paris of the East” đối với các du khách từ các quốc gia hay thuộc địa nói tiếng Anh trong vùng Viễn Đông.

@ Tập hợp

Những bức ảnh đen trắng quý giá về Đà Lạt thời Pháp thuộc (Phần 1)

443 views

Đà Lạt nổi tiếng với vẻ đẹp thơ mộng và quyến rũ e ấp giữa bạt ngàn rừng thông xanh mướt.
Hãy cùng chúng tôi khám phá những bức ảnh đen trắng quý giá do những nhiếp ảnh gia Pháp và một số nhiếp ảnh khác ghi nhận lại và lưu giữ đến ngày hôm nay.

Đà Lạt - Villa 1925-1930
Đà Lạt – Villa 1925-1930

Đà Lạt - Thác Pongour
Đà Lạt – Thác Pongour (1925-1930)

Đà Lạt - Thác Liên Khương
Đà Lạt – Thác Liên Khương (1930)

Đà Lạt - Thác Gougah
Đà Lạt – Thác Gougah (1925-1930)

Đà Lạt - Thác Cam Ly
Đà Lạt – Thác Cam Ly (1925-1930)

Đà Lạt - Phụ nữ bản địa 1925
Đà Lạt – Phụ nữ bản địa 1925

Đà Lạt - Lang Bian Plateau 1925
Đà Lạt – Người bản xứ và xe hơi chụp ở Lang Bian năm 1925

Đà Lạt - Hotel Palace 1930
Đà Lạt – Hotel Palace 1930

Đà Lạt - Hồ Xuân Hương
Đà Lạt – Hồ Xuân Hương (1925-1930)

Đà Lạt - Environ 1925-1930
Đà Lạt (1925-1930)

Đà Lạt - 1925-1930
Đà Lạt – 1925-1930

Good Bye Thương xá Tax

211 views

Có thể nói là Good Bye Forever (vĩnh biệt) Thương xá Tax vì hôm nay nhà đầu tư bắt đầu phá bỏ công trình 130 năm tuổi gắn bó với tên tuổi Sài Gòn. Mấy năm trước (2010) là Givral café nổi tiếng đi vào cát bụi bởi Vincom.
So với Sài Gòn 300 năm tuổi thì những gì có tuổi hàng thế kỷ như Thương xá Tax lẽ ra phải trở thành một trong những điểm dừng chân của du khách để nhớ về Hòn ngọc Viễn đông trải qua mấy đời vua quan phong kiến, Pháp thuộc, Mỹ chiếm đóng và bây giờ là dưới chế độ cộng sản.
Tới thăm New York city, một thành phố cùng tuổi với Sài Gòn, nếu thấy số nhà có mầu vàng thì nơi đó thuộc về di tích đã được xếp hạng. Chủ nhà muốn sửa phải xin phép thành phố. Không có tiền thì cứ ngồi đó mà đợi hoặc phải bán đi cho người có đủ tiền bảo trì cho dáng vẻ xưa.
Mấy năm trước tôi sang Vientiane để tìm nơi mới cho Văn phòng World Bank cạnh bờ sông Mekong. Khi đào móng thì phát hiện có bức tường của ngôi nhà cổ cách đây một thế kỷ cùng những cây sến cao vút có lẽ cùng tuổi.
Phải mất mấy năm xin đủ loại giấy phép, tòa nhà mới được xây nhưng phải trên nền kiến trúc Lào cổ và bức tường được giữ nguyên cho du khách tới thăm. Mấy cây trăm năm tuổi được quây kín và bảo vệ như một thứ gia bảo.
Thế mà các quyết định đập cũ, xây mới của Sài Gòn và cả ở Hà Nội được ra một cách dễ dàng.
Có 10 nhà tù nổi tiếng thế giới được kể tên thì số 1 chính là Hỏa Lò do người Pháp xây để giam giữ các nhà hoạt động cách mạng. Sau này là nơi các tù binh phi công Mỹ gọi là Hilton Hà Nội.
Du khách thăm Hỏa Lò bị choáng hoàn toàn vì chỉ còn 1/12 phần được giữ lại, những phần kia biến thành cao ốc cho thuê.
Người ta tự hỏi, chỗ nào là nơi ông Đỗ Mười bị giam, chỗ nào là John McCain từng nằm bóc lịch. Tất cả chỉ còn lại là những lời thuyết minh trống rỗng, những cuốn phim tài liệu chứa rất ít sự thực.
Tower of London là một nhà tù khác thời trung cổ cũng nằm giữa London. Hiện là một trong những điểm ưa thích của du khách khắp thế giới. Giá vé mấy chục đô la vào cửa, nhà tù cổ này vẫn làm ra hàng triệu đô mỗi ngày cho nước Anh mà không cần một chung cư như Hỏa Lò Hà nội.
Người yêu Sài Gòn vẫn nhớ Givral café như một nơi gặp gỡ của giới báo chí trong và ngoài nước thời chiến tranh Mỹ Việt. Không thể không nhắc tới Phạm Xuân Ẩn, Peter Arnett, Larry Burrows… từng lê la ở quán này và dự đoán sự thay đổi của thời cuộc.
Dường như nhiều trang viết của tiểu thuyết “Người Mỹ trầm lặng” cũng được tác giả suy ngẫm từ những ly café ở đây. Sau này các nhà làm phim đã quay một số cảnh ở Givral café. Chiến tranh không chỉ có trong trang sách, bài báo mà cả những điểm dừng chân của những chiến binh và người cầm bút.

THƯƠNG XÁ TAX

Hồi tháng 5-2016, tôi có dịp thăm Rome và một số thành phố cổ ở Bỉ, Hà Lan, Ba Lan, và Pháp. Châu Âu như một viện bảo tàng ngoài trời. Nhà nào cổ mới có giá, nhà mới thường giá rẻ. Đắt ở chỗ có tuổi.
Có câu nổi tiếng “Mọi con đường đều dẫn đến thành Rome” ý nói về kiến trúc La Mã và đế chế từng ngự trị thế giới. Mọi cuộc chinh phục và xâm lăng của La Mã đều phục vụ cho Rome tỏa sáng.
Nhưng rồi La Mã lụi tàn nhưng cái cách mà người Italia bảo tồn kiến trúc cổ làm cho du khách khắp thế giới đều đổ về Rome. Đông cũng như Hè, lúc nào cũng đông nghịt. Họ chiêm ngưỡng La Mã cổ đại và…tiêu tiền. Thử tưởng tượng Rome toàn các tòa nhà kính váy đụp như Lotte thì ai sẽ đến thăm.
Xa xưa Cesar mang kiếm đi chinh phục thế giới để xây dựng Rome. Ngày nay con cháu chỉ bán vé cho người xem kiến trúc cổ cũng đủ dựng nên nước Italia giầu mạnh. Mọi con đường đều dẫn đến thành Rome sẽ còn mãi với nhân loại bởi người Italia biết tôn trọng quá khứ.
Dù có cứu từng viên gạch cổ của Thương xá Tax thì shopping mall và khách sạn 40 tầng sắp xây chẳng nói được điều gì về quá khứ 300 năm của Sài Gòn. Đó chỉ là thứ kiến trúc nhôm kính tựa fast food – mỳ ăn liền.
Phá bỏ sự cổ kính không thể giữ tên tuổi Sài Gòn như Bí thư Đinh La Thăng từng mơ ước.
Mọi con đường đều dẫn đến tiền thì không thể có Hòn ngọc ở Viễn đông nổi tiếng cả thế kỷ.

Vĩnh biệt Thương xá Tax.

(Theo Hiệu Minh Blog)

Vài hình ảnh bên trong thương xá TAX trước 1975

529 views

Vài hình ảnh bên trong thương xá TAXSài Gòn chụp trước 1975.


Quelques photos prises à l’intérieur des Grand Magasins TAX, anciennement appelé Grands Magasins Charner de Saigon, avant 1975.


Some pictures taken before 1975 inside the Grand Stores TAX, formerly known as Grands Magasins Charner de Saigon.

Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax