Kiến Trúc - Page 2

Vài hình ảnh bên trong thương xá TAX trước 1975

824 views

Vài hình ảnh bên trong thương xá TAXSài Gòn chụp trước 1975.


Quelques photos prises à l’intérieur des Grand Magasins TAX, anciennement appelé Grands Magasins Charner de Saigon, avant 1975.


Some pictures taken before 1975 inside the Grand Stores TAX, formerly known as Grands Magasins Charner de Saigon.

Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax

Thương xá TAX – nạn nhân của hành xử “giới hạn tầm nhìn”

431 views

Thương xá Tax, suy cho cùng cũng chỉ là nạn nhân của một tầm nhìn hạn hẹp về các giá trị văn hóa – lịch sử. Không ai biết nó hữu dụng như thế nào về giá trị giáo dục, kinh tế cho đến khi mất đi.

Phá bỏ hay giữ lại?
Sài Gòn – một trong những địa chính của Pháp thời kỳ chiếm đóng và đô hộ Việt Nam. Ngày nay được biết đến như một trung tâm chính của nền kinh tế Việt Nam.
Lượng khách du lịch đến với Sài Gòn ngày một tăng, không chỉ bởi Sài Gòn mang trong mình nét văn hóa tứ xứ vùng miền, mà cả những giá trị hiện vật về mặt lịch sử còn tồn tại đến ngày nay, nhất là các kiến trúc Pháp.

Thương xá TAX

Nhắc đến vùng đất này, người ta nghĩ ngay đến nhà thờ Đức Bà, bưu điện trung tâm hay thương xá Tax… Tất cả trở thành dấu ấn, linh hồn, giá trị thời gian biểu trưng từ tranh ảnh, đến tâm khảm người dân. Đùng một cái, tuyến Metro phục vụ cho nền kinh tế sôi động này xuất hiện. Và thương xá Tax, một biểu tượng của thời gian sẽ bị phá bỏ. Vì lý do kinh tế, vì sự phát triển của thành phố 10 triệu dân và là đầu tàu của cả nước.
Khi ông Lê Khắc Huỳnh, Phó trưởng Ban quản lý Đường sắt đô thị thành phố, tỏ ra tiếc nuối, xót xa, hẳn đó là cảm xúc thực của ông, nhưng nó sẽ không bồi đắp được sự mất mát trước về một biểu tượng về lịch sử. Nhất là khi thành phố ngày càng một vắng bóng các giá trị cổ xưa.
Dù vì lý do chính trị hay kinh tế, thì suy cho cùng, thương xá Tax hay hàng trăm ngàn hiện vật văn hóa – lịch sử còn sót lại trên mảnh đất hình chữ S cũng chỉ là nạn nhân của cách hành xử và ít nhiều biểu hiện của tầm nhìn.
Cách hành xử lẫn tầm nhìn đó đã khiến không ít di tích, hiện vật lịch sử – văn hóa cấp tỉnh đến quốc gia bị xâm hại nghiêm trọng đến xóa bỏ bằng cách đập nát, trùng tu bằng tư duy hiện đại với xi măng, cốt thép và độ lớn hoành tráng với các dị vật lân kì, rồng phượng như đã từng xảy ra với đình cổ Quang Húc, chùa Sổ, chùa Một Cột, chùa Dơi, làng cổ Đường lâm, di tích Lam Kinh, đền Đô, thành nhà Mạc, Đàn Nam Giao, thành nhà Hồ, chùa Phật Tích, chùa Trăm Gian, đình Ngu Nhuế, hệ thống biệt thự Pháp ở Đà Lạt, Hà Nội, di tích thánh địa Mỹ Sơn…
Hoặc rơi vào tình trạng đào lên – vứt đó một cách thê thảm như hoàng thành Thăng Long, một di tích đặc biệt quan trọng, và là di sản văn hóa thế giới (năm 2010). Nhưng từ khi phát tích cho đến nay (2014) lại được ưu ái ngâm mưa, ngâm nắng, đến nỗi nhiều người phải xót xa mà thốt lên: Nếu không làm được thì đừng đào lên, hãy lấp cát và giữ lại cho thế hệ sau.

Thương xá TAX

Học tầm nhìn và cách ứng xử
Các giá trị hiện vật lịch sử – văn hóa được xem như một thông điệp của quá khứ (Imbued with a message from the past, the historic monuments of generations of people remain to the present day as living witnesses of their age-old traditions, Hiến chương Venice 1964). Nhưng tại Việt Nam, chúng dần bị biến mất dưới nhiều hình thức, tỉ lệ nghịch với thái độ xông xáo khi xin cấp chứng nhận di tích/ di sản.
Biến mất không phải vì độ bào mòn về mặt thời gian, mà vì ý thức của những người làm trong công tác tìm kiếm, bảo tồn, quản lý văn hóa, lịch sử.
Ý thức đó khiến không biết bao nhiêu hiện vật bị đưa bán ra nước ngoài, bị phá bỏ cho mục đích kinh tế hay thậm chí bị xóa sổ từ cung cách đào lên – để đó – lấp lại.
Cách ứng xử đó không khác lắm về mặt bản chất như việc tượng Phật ở Afghanistan khi bị quân Taliban đánh sập (2001), hay các đình chùa, miếu mạo bị phá bỏ không thương tiếc trong thời kỳ đả thực bài phong ở Việt Nam.

Thương xá TAX

Rồi đây, kinh tế có “lên” hay không thì chưa biết. Nhưng các giá trị văn hóa – lịch sử dần dần mất đi, các biểu tượng sẽ xếp hàng chờ ngày “hành quyết”. Hiếm có ai nghĩ đến các giá trị mà nó mang lại trong hiện tại lẫn tương lai.
Bởi ít có nhà quản lý nào ở nước ta có được cái tầm nhìn sâu rộng để đưa đến cách ứng xử trân trọng với các giá trị đó nhằm tìm thấy sự hữu dụng trong giáo dục và kinh tế.
Hội An có lẽ may mắn hơn so với thương xá Tax và nhiều những hiện vật, di tích lịch sử – văn hóa khác ở Việt Nam. Vì nó được một người ra sức bảo vệ, bảo tồn. Người đó là ông Nguyễn Sự – Bí thư thành ủy Hội An. Ông là người vượt lên trên cái nhìn hạn hẹp trong bối cảnh lịch sử lúc đó, để giữ được một đô thị cổ Hội An và là di sản thế giới như ngày hôm nay.
Hành trình để cứu lấy các di sản văn hóa đó là cuộc hành trình đơn độc nhưng đầy quyết tâm giữ gìn cho bằng được của ông Nguyễn Sự thời kỳ đầu. Vượt ra khỏi cái quy luật “vì lý do kinh tế”.
Để rồi, Hội An giờ đây trở thành nơi hút khách du lịch, cũng bởi cái chất cổ xưa của nó, bởi giá trị văn hóa – lịch sử còn được bảo tồn và chính cái phố cổ ấy đã đóng góp không nhỏ cho ngân sách thành phố.

Thương xá TAX

Rõ ràng, cái cách hành xử với các giá trị văn hóa – lịch sử của ngày hôm nay thể hiện cái tầm nhìn xa về giá trị trong tương lai.
Vì thế, nếu vì cái lợi trước mắt mà các nhà quản lý đối xử rẻ rúng với các hiện vật lịch sử như đã từng đối xử với đoàn tàu leo núi ở Đà Lạt. Để rồi, phải ôm hận vì cách hành xử đó.
Thương xá Tax hay Hội An, cũng chỉ là cách biểu hiện ngắn hay dài, thiển cận hay xa về tầm nhìn mà thôi.

Theo Lê Tuấn

Nhà Đấu Xảo Hà Nội vào thế kỷ XIX

1141 views

Nhà Đấu Xảo Hà Nội, Hà Nội năm 1902.
Đấu Xảo là khu triển lãm – hội chợ cũ của Hà Nội, do kiến trúc sư Adolphe Bussy thiết kế. Hình được chụp vào một ngày lễ đánh dấu khai mạc hội chợ. Hội chợ được khánh thành ngày 16 tháng 11 năm 1902 và kéo dài đến ngày 15 hay 16 tháng 2 năm 1903, do Toàn quyền Paul Bert chủ trì. Sau hội chợ, tòa nhà chính trở thành Bảo tàng Maurice Long – Viện bảo tàng kinh tế đầu tiên và lớn nhất của Đông Dương.
Trong Thế chiến lần thứ 2, tòa nhà bị bom Mỹ phá hủy. Di tích còn lại là hai bức tượng sư tử bằng đồng nay đặt tại rạp xiếc Hà Nội trong khu vực công viên Thống Nhất.


Le Palais d’Expositions de Hanoi en 1902. Il fut dessiné par l’architecte Adolphe Bussy. La photo fut d’un jour de festivités marquant l’inauguration de l’Exposition. L’Exposition de Hanoi dura quatre mois, du 16 novembre 1902 au 15 ou 16 février 1903 et voulue par le Gouverneur général Paul Doumer. Après l’Exposition, le Palais Central devînt le Musée Maurice Long – le premier et le plus grand Musée d’Economie de l’Asie du Sud-Est.
Pendant la Seconde Guerre Mondiale, le monument fut détruit par les bombardements américains. Les seuls vestiges qui subsistent jusqu’à nos jours sont deux lions en bronze que l’on peut voir dans l’enceinte du cirque de Hanoi, situé dans le Parc de la Réunification (parc Thống Nhất).


The Hanoi Exhibition Center in 1902. The site of the fair, the Palais d’expositions, was designed by the architect Adolphe Bussy. The picture was taking a day of festivities marking the inauguration of the Exhibition. The Hanoi Exhibition was held between November 16, 1902 and February 15 or 16,1903 and wanted by the Governor General Paul Doumer. After the Exhibition, the site of the fair became the Museum Maurice Long – the first and largest Economy museum in Southeast Asia.
During World War II, the monument was destroyed by American bombing. The only vestiges that remain nowaday are two bronze lions that can be seen inside the circus Hanoi, located in the Park of Reunification (Thống Nhất).

Nhà Đấu Xảo Hà Nội 1902

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn cuối thế kỷ XIX

359 views

Nhà thờ chính tòa Đức Bà Saigon năm 1882, hai năm sau khi được khánh thành (ngày 11 tháng 4 năm 1880 do cố đạo Colombert tổ chức với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers).


Cathédrale Notre-Dame de Saïgon en 1882, deux ans après son inauguration, le 11 avril 1880 par Mgr Isidore Colombert, en présence du gouverneur de Cochinchine de Le Myre de Vilers.


Notre-Dame Cathedral Basilica of Saigon in 1882, two years after its opening on 11 April 1880 by Bishop Isidore Colombert, in presence of the Governor of Cochinchina Charles Le Myre de Vilers.

Một thoáng nhớ lại Trường Nữ Gia Long Saigon

977 views

Trường nữ Gia Long (trường nữ sinh Áo Tím) là một trường trung học phổ thông công lập ở Saigon. Được thành lập từ năm 1913, cho đến hiện tại, trường lấy tên Nguyễn Thị Minh Khai, sau 1975, là một trong những trường phổ thông lâu đời nhất của nền giáo dục Việt Nam.

Thời Pháp thuộc
Khoảng đầu thế kỷ 20, nền giáo dục còn mang tính chất Nho giáo ở Việt Nam ít chú trọng đến giáo dục nữ giới. Đến năm 1908, Nghị viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ Lê Văn Trung cùng vợ của Tổng Đốc Phương đề nghị chính quyền thực dân Pháp thành lập một ngôi trường đa cấp dành cho nữ. Đề nghị được chấp nhận nhưng mãi đến 1913 ngôi trường mới được khởi công trên một khu đất rộng đường Legrand de la Liraye, Sài Gòn (nay thuộc đường Điện Biên Phủ, Thành phố Hồ Chí Minh), việc khởi công chậm này là vì không có kinh phí.
Năm 1915, trường được xây dựng xong và cũng trong năm ấy trường khai giảng khóa đầu tiên; toàn quyền Đông Dương khi đó là ông Ernest Nestor Roume và Thống đốc Courbeil là người cắt băng khánh thành và tuyên bố khai giảng. Khóa đầu tiên trường tuyển 42 nữ sinh, đồng phục khi này là áo dài tím, tượng trưng cho sự tinh khiết của phụ nữ Việt Nam,[2] nên trường còn có tên là Trường Nữ sinh Áo Tím. Tất cả nữ sinh trường đều cư ngụ ở Sài Gòn và vùng lân cận, mãi về sau mới có cư xá dành cho nữ sinh đến từ các thành phố, vùng khác. Trường đào tạo thành nhiều cấp: Đồng ấu (Enfantin), Cao đẳng (Supérieur). Năm cuối Sơ học (CEP), học sinh phải thi lấy Chứng chỉ Căn bản Giáo dục sau khi tốt nghiệp những lớp cao cấp.
Năm 1918, vì số lượng học sinh gia tăng, trường xây dựng thâm một tòa nhà thứ hai song song với tòa nhà cũ. Tòa nhà mới có nhiều chức năng: tầng dưới dùng làm cư xá cho các học sinh xa nhà, phía sau là bệnh xá, phòng giặt và nhà bếp trong một ngôi nhà trệt. Đây đồng thời cũng là nơi giảng dạy các môn nữ công gia chánh và thêu thùa.
Đến tháng 9 năm 1922, toàn quyền Albert Sarraut khai giảng lớp đầu tiên của bậc Trung học Ðệ nhất Cấp. Một phiến đá bằng cẩm thạch khắc chữ COLLÈGE DES JEUNES FILLES INDIGÈNES (Trường Của Những Thiếu Nữ Bản Xứ) được dựng lên trước cổng trường, tuy nhiên trường vẫn được biết đến nhiều hơn với cái tên Trường Nữ Sinh Áo Tím. Hiệu trưởng đầu tiên là một cô giáo người Pháp tên là Lagrange. Để được vào học, học sinh phải vượt qua khóa thi căn bản giáo dục và kỳ thi tuyển vào trường. Thời gian này tiếng Pháp được dạy từ cấp lớp căn bản, là ngôn ngữ chính thức dùng trong việc giảng dạy các lớp bậc trung học đệ nhất cấp, trong trường nữ sinh chỉ được dùng tiếng Pháp để giao tiếp; còn tiếng Việt chỉ được dạy mỗi tuần 2 tiếng trong giờ Việt Văn.
Tuy trường khi này do người Pháp quản lý nhưng phong trào đấu tranh chống thực dân trong học sinh vẫn âm ỉ; trong thập niên 1920, ít nhất đã hai lần nữ sinh trường xuống đường: một lần vào khoảng đầu năm 1920 nhân khi một giáo viên người Pháp yêu cầu học sinh người Việt phải nhường ghế ở hàng đầu cho học sinh người Pháp ngồi, và vào năm 1926 để tang cho Phan Châu Trinh. Đến hè năm 1940, quân đội Nhật chiếm đóng cơ sở trường rồi sau đó đến quân đội Anh, trường dời về trường tiểu học Ðồ Chiểu tại vùng Tân Ðịnh; cũng trong những năm 1940, trường đổi tên: Collège Gia Long, rồi Lycée Gia Long.
Năm 1947, khi được người Anh trao trả, trường bị hư hại nhiều đến nỗi vị hiệu trưởng lâm thời phải vận động quyên góp tài chính để tu sửa trường. Năm 1949, trường lại được mở rộng: một tòa nhà hai tầng được xây mới ở đường Bà Huyện Thanh Quan để đáp ứng số lượng học sinh ngày càng tăng. Cũng trong năm 1949, nữ sinh trường cùng với nam sinh trường Petrus Ký tổ chức bãi khóa kỷ niệm ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa dẫn đến việc trường bị nhà cầm quyền cho đóng cửa.

Thời Quốc gia Việt Nam
Đến năm 1950, sau một cuộc đấu tranh dài hơi có sự góp sức của đông đảo học sinh các trường khác ở khắp vùng Sài Gòn-Gia Định (trong số ấy có nhiều học sinh đã hy sinh, như Trần Văn Ơn của trường Petrus Ký  trường được mở cửa lại và đánh dấu một sự kiện lớn: lần đầu tiên hiệu trưởng là người Việt đồng thời cũng là một cựu nữ sinh của trường: cô Nguyễn Thị Châu. Đến 1952, chương trình giáo dục Việt dần thay thế chương trình giáo dục Pháp; nữ sinh phải học cả hai ngoại ngữ là Anh-Pháp song song. Kỳ thi tuyển vào trường rất khó và được đem so sánh với kỳ thi vào trường dành cho nam là Lycée Petrus Ký với số học sinh tham dự đến từ khắp nơi trong miền Nam: Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa, Tân An… (một cuộc tuyển sinh vào hệ trung học trường vào khoảng năm 1971 được ghi nhận như sau: có tổng cộng 8000 học sinh ghi danh và thi tuyển nhưng chỉ có 819 đậu.) Năm 1953, đồng phục trường đổi từ áo dài tím sang áo dài trắng với phù hiệu của trường là đóa mai vàng khâu lên trên áo, đồng thời sau đó chương trình giáo dục bằng tiếng Pháp của trường cũng được đổi sang tiếng Việt và tên trường đổi thành tên tiếng Việt Trường Nữ Trung học Gia Long.

Thời Việt Nam Cộng hòa
Suốt những năm sau đó, trường vẫn tiếp tục phát triển: 1965, xây thêm thư viện; 1964 trường bỏ nội trú, sửa các phòng ở thành phòng học; số lượng lớp của trường chừng 55 lớp học từ đệ Tứ đến đệ Nhất (tường đương lớp 9 đến lớp 12 bây giờ) học buổi sáng; 45 lớp từ đệ Thất đến đệ Ngũ (tương đương lớp 6 đến lớp 8 bây giờ) học buổi chiều với tổng cộng 3000 học sinh.

Sau năm 1975
Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, trường được chính quyền mới đổi tên thành Trường Phổ thông cấp 2-3 Nguyễn Thị Minh Khai. Niên khóa 1978-1979, Trường giải thể cấp 2, thu nhận nữ sinh lẫn nam sinh, đổi tên thành Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai tới bây giờ.
Năm 2003, trường được đưa vào danh mục của 55 công trình đề nghị điều tra xác lập di tích kiến trúc cổ của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh

Danh sách hiệu trưởng

Năm học Hiệu trưởng
1914-1920 Cô Lagrange
1920-1922 Cô Lorenzi
1922-1926 Cô Pascalini
1926-1942 Cô Saint Marty
1942-1945 Cô Fourgeront
1945-1947 Cô Malleret
1950-1952 Cô Nguyễn Thị Châu
1952-1963 Cô Huỳnh Hữu Hội
1963-1964 Cô Nguyễn Thu Ba
1964-1965 Cô Trần Thị Khuê
1965-1969 Cô Trần Thị Tỵ
1969-1975 Cô Phạm Văn Tất

(Theo Wikipedia)

Khuôn viên Trường nữ trung học Gia Long

459 views

Trong khuôn viên Trường nữ trung học Gia Long, còn được gọi là trường nữ sinh Áo Tím, được thành lập từ năm 1913 (Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Kha ngày nay).
(Saigon, 1965)


Dans l’enceinte du lycée pour filles Gia Long, connue également sous le nom de Lycée de filles Áo Tím (en référence à l’uniforme tunique de couleur violet des filles). Le lycée fut fondé en 1913 et s’appelle de nos jours Lycée général Nguyễn Thị Minh Kha.
(Saigon, 1965)


Inside the high school for girls Gia Long, also known as Áo Tím all-girls school (referring to the color purple of the girl tunic uniform). The school was founded in 1913 and is called nowadays Nguyễn Thị Minh Khai.
(Saigon, 1965)

Nhà ga xe lửa Saigon vào năm 1968

454 views

Nhà ga xe lửa Sài Gòn chụp từ trên cao, từ tầng 5 khách sạn Walling trên đường Phạm Ngũ Lão. Bên kia ga là đường Lê Lai và khách sạn Lê Lai, được cho thuê làm cư xá của lính Mỹ.
(Saigon, tháng 10 năm 1968)


Gare centrale de Saigon, vue prise depuis le cinquième étage de l’hôtel Walling située sur la rue Phạm Ngũ Lão. De l’autre côté des rails, se trouve la rue Lê Lai et l’hôtel Lê Lai loué par l’armée américaine pour en faire un dortoir pour ses soldats.
(Saigon, octobre 1968)


Saigon Central Station, view taken from the fifth floor of the hotel Walling located on Pham Ngu Lao Street. On the other side of the tracks, is the street Lê Lai and the hotel Lê Lai rented as a dormitory for the American army.
(Saigon, October 1968)

Khách sạn Continental Palace, 1961

511 views

Khách sạn Continental Palace chụp trên cao từ khách sạn Majestic nằm đối diện,
Saigon, 1961


Le célèbre hôtel Continental Palace, prise de vue depuis l’hôtel Majestic située juste en face,
Saigon, 1961


The famous Continental Palace hotel, view taken from the Majestic Hotel located just opposite,
Saigon, 1961

Nhớ lại Vòng Xoay Saigon

273 views

Nhớ lại Vòng Xoay của Saigon, giờ đã mất. Vòng xoay nằm ở giao lộ đường Bonnard và Charner ( Lê Lợi và Nguyễn Huệ sau 1955 ).
(Saigon năm 1952)


Souvenir de la petite fontaine de Saigon, aujourd’hui détruite pour laisser place à un boulevard à piéton. La fontaine fut située au carrefour de la rue Bonnard et Charner ( Lê Lợi et Nguyễn Huệ après 1955 ).
(Saigon, 1952)


Remembering the little fountain of Saigon, now destroyed to make way for a pedestrian boulevard. The fountain was located at the crossroads of Bonnard and Charner Streets (Lê Lợi and Nguyễn Huệ after 1955)
(Saigon, 1952)

Bồn kèn tại Saigon vào năm 1938

491 views

Bồn kèn tại giao lộ đường Bonnard và Charner (Lê Lợi và Nguyễn Huệ sau 1955) – Phía trước là Vườn hoa Francis Garnier (Công trường Lam Sơn sau 1955) và nhà hát Lớn.
Được gọi là bồn kèn vì ngày xưa, thời thuộc dân Pháp, chủ nhật dàn kèn Pháp lên đây thổi giúp vui cho dân Sài Gòn nghe.
(Sài Gòn, năm 1938)


Îlot central situé au carrefour de la rue Bonnard et Charner (Lê Lợi và Nguyễn Huệ après 1955) – Plus loin à l’arrière plan est l’Opéra de Saigon et entre les deux, se trouve le jardin Francis Garnier. Appelé “Bồn kèn” (traduit littéralement par “Bassin de trompette”) parce qu’un orchestre français avait l’habitude de jouer sur cette petite place, tous les dimanches, pour divertir les saigonais.
(Saigon, 1938)


Central square at the crossroads of the streets Bonnard and Charner (Lê Lợi and Nguyễn Huệ after 1955) – Further in the background is the Saigon Opera House and between the two, is the Francis Garnier garden. Called “Bồn kèn” (literally translated as “trumpet Basin”) because a French orchestra used to play on that little square every Sunday to entertain the saigonese.
(Saigon, 1938)

Cột cờ Thủ Ngữ Saigon

651 views

Cột cờ Thủ Ngữ (Pointe des Blagueurs) và nhà của ông Vương Thái (Wang Thai), bên trái là rạch Bến Nghé. Cột cờ Thủ Ngữ được người Pháp cho dựng lên vào tháng 10 năm 1865, nhầm báo hiệu để cho tàu thuyền ra vào Cảng nên biết vào ngay hay chờ đợi. Từ “Thủ ngữ” có nghĩa là sở canh tuần tàu biển.
(Sài Gòn năm 1875)


La célèbre Pointe des Blagueurs et la maison de Monsieur Wang-Tai (Vương Đại), un très riche commerçant d’origine chinoise. La Pointe des Blagueurs a été érigée par les français en octobre 1865 pour surveiller et autoriser les entrées et sorties des bateaux du port de Saigon.
(Saigon, 1875)


The famous Signal Mast (Pointe des Blagueurs) at Saigon and the house of Mr. Wang-Tai, a very rich born-chinese businessman. The Signal Mast was built by French in October 1865, at the place where the Saigon river met the Arroyo Chinois, to inform and authorize the entry and exit of vessels from the Saigon’s port.

Tòa thánh Cao Đài nhìn từ trên cao

433 views

Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh (cách trung tâm Thành phố Tây Ninh khoảng 4 km về phía đông nam.) được chụp từ trên cao, tháng 07 năm 1948.


Vue aérienne du temple Cao Dai à Tay Ninh (à environ 4 km au Sud-Est du centre ville de Tay Ninh au Sud du Vietnam), le 7 mai 1948.


Aerial view of Cao Dai Temple in Tay Ninh (about 4 km in southeast of Tay Ninh town, in Southern of Vietnam), May 7, 1948.

Chợ Bến Thành vào năm 1969

326 views

Vòng xoay công trường Diên Hồng trước chợ Bến Thành, Sài Gòn tháng 02 năm 1969.


Le rond point Diên Hồng devant le Grand Marché Bến Thành, en Février 1969.


The traffic circle Dien Hồng in front of the Big Market Bến Thành in February 1969.

Nhà hát lớn Saigon vào năm 1938

575 views

Nhà hát lớn Thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng vào năm 1900 bởi kiến trúc sư người Pháp Félix Olivier. Kiến trúc của nhà hát được lấy cảm hứng từ Nhà hát Opéra Garnier ở Paris, trong khi phần mặt nhà hát thì lại lấy cảm hứng từ Petit Palais, Cung điện nhỏ, ở Paris.
(Saigon, 1938)


L’Opéra de Saigon, construit en 1900 par l’architecte Félix Olivier, a été inspiré par l’Opéra Garnier de Paris, tandis que sa façade est une réplique du Petit Palais de Paris.
(Saigon, 1938)


Saigon Opera House, built in 1900 by architect Félix Olivier, was inspired by the Opera Garnier in Paris, while its facade is a replica of the Petit Palais in Paris.
(Saigon, 1938)

Chợ Bến Thành vào năm 1938

615 views

Một góc nhìn của chợ Bến Thành vào năm 1938.


Une vue du fameux marché Bến Thành en 1938.


A view of the famous market Bến Thành in 1938.

Khách sạn Continental Palace vào năm 1950

496 views

Đường Catinat, trước Nhà Hát Lớn (phía trước Nhà Hát Lớn là vườn hoa Francis Garnier không thấy được trên hình) và khách sạn Continental nổi tiếng.
(Sài Gòn trong những năm 50)


La rue Catinat, devant le Grand Théâtre (devant le Grand Théâtre se trouve le jardin Francis Garnier, invisible sur la photo)  et le célèbre Continental Palace.
(Saigon dans les 1950)


Catinat Street, in front of the Grand Theatre (not seen on the picture is the Francis Ganier garden in front of the Grand Theatre) and the famous Continental Palace.
(Saigon in 1950’s)

Vườn hoa Francis Garnier

1125 views

Vườn hoa Francis Garnier ( Công trường Lam Sơn sau 1955 ) và bồn kèn tại giao lộ đường Bonnard và Charner (Lê Lợi và Nguyễn Huệ sau 1955), bên trái hình là tiệm “Auto-Hall” bán các loại xe hơi, bên phải là nhà hàng Pancrazi mở đến tối khuya.
(Sài Gòn năm 1938)


Jardin Francis Garnier (Place Lam Sơn après 1955) et le carrefour de la rue Bonnard et Charner (Lê Lợi et Nguyễn Huệ après 1955). Sur la gauche, le concessionnaire “Auto-Hall” et sur la droite, le magasin Pancrazi.
(Saigon en 1938)


Garden Francis Garnier (Square Lam Sơn after 1955) and the crossroads of Bonnard and Charner Street (Lê Lợi và Nguyễn Huệ sau 1955). On the left, the cars dealer “Auto-Hall” and on the right, the store Pancrazi.
(Saigon in 1938)

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn năm 1948

1240 views

Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn, hay còn được gọi là Vương cung thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội ( Cathédrale Notre-Dame de Saïgon ). Ngôi nhà thờ đầu tiên được lập ở đường Số 5, ngay trên địa điểm của một ngôi chùa nhỏ bị bỏ hoang. Vì nhà thờ quá nhỏ nên vào năm 1863, Đô đốc Bonard đã quyết định cho khởi công xây dựng ở nơi khác một nhà thờ khác bằng gỗ bên bờ “Kinh Lớn”. Cố đạo Lefebvre tổ chức “Lễ đặt viên đá đầu tiên” xây dựng nhà thờ vào ngày 28 tháng 3 năm 1863. Hoàn thành vào năm 1865, nhà thờ bằng gỗ ban đầu được gọi là Nhà thờ Saigon. Tháng 8 năm 1876, Thống đốc Nam kỳ Duperré đã tổ chức một kỳ thi vẽ đồ án thiết kế nhà thờ mới và đã chọn đồ án của kiến trúc sư J. Bourard. Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên.


Cathédrale Notre-Dame de Saïgon (Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn) a été construit par les français. Sa construction a été initiée en Août 1876 par le Gouverneur de la Cochinchine Marie Jules Dupré qui a choisi le projet de l’architecte Jules Bourard. Ses premières pierres ont été posées, le 7 octobre 1877, par Mgr Isidore Colombert.


Basilica of Our Lady of The Immaculate Conception (Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn) was built by the French. Its construction was initiated in August 1876 by the Governor of Cochinchina Marie Jules Dupré who chose the design by architect Jules Bourard. On 7 October 1877, Bishop Isidore Colombert laid the first stone in an inaugural ceremony.

Dinh Norodom năm 1948

715 views

Dinh Norodom thời Pháp thuộc, Sài Gòn tháng 07 năm 1948. Viên đá đầu tiên khởi công xây dựng Dinh Thống đốc Nam Kỳ mới tại Sài Gòn đã được ông Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière làm lễ đặt vào ngày 23 tháng 2 năm 1868. Dinh mới được xây dựng theo đồ án do kiến trúc sư Hermite phác thảo. Do chiến tranh Pháp-Phổ 1870 nên công trình này kéo dài đến 1873 mới xong. Sau khi công trình chấm dứt thì dinh được đổi lấy tên là dinh Norodom (tên của Quốc vương Campuchia). Từ 1871 đến 1887, dinh được dành cho Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur de la Cochinchine), từ 1887 đến 1945, dinh trở thành nơi ở và làm việc của các Toàn quyền Đông Dương (Gouverneur-général de l’Indochine Française) và từ sau 1955, trởi thành Dinh Độc Lập.


La Palais Norodom à l’époque de la colonisation française (Saigon, Juillet 1948). Oeuvre de l’architecte Hermitte, sa construction a été ordonnée par le Gouverneur Lagrandière en 1868 – il sera terminé en 1873 – pour remplacer l’ancien palais en bois. Le Palais fut utilisé comme bureau du Gouverneur de l’Indochine, puis le Gouverneur-Général de l’Indochine française.
Il deviendra le Palais de l’Indépendance en 1955.


The Norodom Palace at the time of French colonization (Saigon, July 1948). Designed by French architect Hermitte, it was ordered by the Governor Lagrandière in 1868 – will be finished in 1873 – to replace the wooden Palace. The Palace was used as the office of the Governor of Indochina, then by the Governors General of French Indochina. Il will become the Independence Palace in 1955.