Âm Nhạc

Cảm âm ca khúc Hoài Cảm của Cung Tiến

133 views

Có những ca khúc mùa thu gắn bó những tình cảm nhớ thương của thế nhân vào trong đó, theo một cách độc đáo, để ta chợt nhận ra những ca khúc đó cũng là một ký ức không thể thiếu khi mỗi độ thu về. Hoài Cảm của Cung Tiến là một trong số đó.

Thật đáng ngạc nhiên là vào năm 1952, khi Cung Tiến sáng tác Hoài Cảm, ông mới đang ở độ tuổi 14-15, nhưng bài hát này đã toát lên một vẻ chín chắn và từng trải như của một người đã trưởng thành, với cảm xúc già dặn của ý tứ dường như không phải từ suy tư của một cậu thiếu niên.

Đây là ca khúc theo thể loại lãng mạn tiền chiến, với lời hát mang đậm chất thơ. Được biết bài hát này được sáng tác ngay sau khi nhạc sĩ chuyển từ miền Bắc vào miền Nam sinh sống, mang theo trong tim nỗi nhớ ngập tràn về Hà Nội. Nhạc sĩ từng chia sẻ: “Tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn sớm lắm. Lúc đi, nhớ tất cả những gì mà ở Hà Nội ghi vào ký ức mình, thì là có bản nhạc đó”.

Nỗi buồn đến dịu nhẹ, nỗi nhớ vu vơ từ từ len vào hồn người, cũng nhẹ nhàng như cách mùa thu đến với ta, không có những đột biến rõ ràng, căng thẳng như sự chói chang của tiết đầu Hạ hay xầm xì khi vào Đông.

Chiều buồn len lén tâm tư
Mơ hồ nghe lá thu mưa

Xuyên suốt ca khúc là nỗi nhớ thương mùa thu cũ quá sâu đậm của chàng trai trẻ. Mùa thu không chỉ là cảnh vật mà còn là con người, phải xa quê hương, như một đứa trẻ còn thơ ngây mà đã bị tách ra sống xa cha mẹ.

Cuộc sống đâu chỉ có gia đình; còn có bao bè bạn và những mối quan hệ xã hội khăng khít nữa, vậy mà đột nhiên người trai trẻ phải rời xa tất cả, không nhớ đến quay quắt thì mới là điều lạ :

Lòng cuồng điên vì nhớ
Ôi đâu người, đâu ân tình cũ ?

Mùa thu đó đã xa lắm rồi; xa về khoảng cách địa lý; xa cả trong tâm tưởng, phải chăng vì bị đè nén bởi những ồn ào, náo nhiệt của miền đất phương Nam, chỉ vụt quay về khi màn đêm buông xuống :

Một mùa thu xa vắng
Như mơ hồ về trong đêm tối

Chờ đợi người cũ, chờ đợi cố nhân ở đây chỉ là cách nói. Tấm màn ngăn cách đâu chỉ có khoảng không, mà còn là những sự lãng quên có thể xảy ra khi tâm hồn bị sương mù bao phủ từ tứ phía :

Chờ nhau hoài cố nhân ơi
Sương buồn che kín muôn nơi

Đây là một sự nhớ mong trong vô vọng, người trai mơ hồ nhận ra rằng kiếp này có thể không gặp lại cảnh cũ người xưa nữa, nên đành hẹn kiếp sau :

Hẹn nhau một kiếp xa xôi
Nhớ nhau muôn đời mà thôi

Hoài Cảm - Cung Tiến

Tiếng xưa vang vọng, mùa nối mùa với âm hưởng chỉ còn trong ký ức :

Dạt dào tựa những âm xưa
Thiết tha ngân lên lời xưa

Lối đi xưa trong ký ức chàng mong mỏi rằng vẫn còn bóng hình người cũ, nhưng hình bóng cố nhân thì đã nhạt nhòa, vì tâm hồn non thơ nhạy cảm không thể nào cùng hiện rõ tất cả những hình bóng thân thương trong quá khứ. Nên chàng trai đã phải tự hỏi mình :

Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa?

Cảm xúc của một sự mất mát không gì có thể bù đắp, cảm xúc của một người phải đi xa mà không hẹn ngày trở lại :

Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa

Giai điệu da diết, sâu lắng bao trùm toàn bộ ca khúc, tựa như muốn nói rằng, cảm xúc buồn nhớ này không có một tia hy vọng nào để thay đổi được. Thậm chí nỗi nhớ này lớn lao đến mức, chàng trai không tin rằng thời gian sẽ là một “liều thuốc tiên” có thể xóa nhòa tất cả :

Còn đâu mùa cũ êm vui
Nhớ thương biết bao giờ nguôi ?

Ta chợt khẽ rùng mình khi nhận ra bài ca này đúng như một lời từ biệt, không hẹn ngày tái ngộ, mà là từ biệt những gì chứ? Chính là những gì thân quen nhất mà ta hằng gắn bó. Không thể không đồng cảm với nhân vật của ca khúc!

Nhạc sĩ Cung Tiến từng chia sẻ: “Hoài Cảm là bài hát mà tôi viết ra trong tưởng tượng. Tưởng tượng ra là mình nhớ một người nào mình yêu mến thôi, chứ không có ý nghĩ sâu xa gì đằng sau cả. Ðó chỉ hoàn toàn là trí tưởng tượng trong âm nhạc cũng như trong lời ca. Lời ca bị ảnh hưởng từ những bài thơ mình học ở trường, như thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, những nhà thơ lãng mạn của Việt Nam hồi đó.

Hóa ra, sự già dặn trong nhạc phẩm đầu tay của ông chính là mượn từ các bậc tiền bối sáng danh như thế! Ông chỉ là người đồng cảm và tiếp nối khí chất đó thôi.

Rất nhiều người đã hát bài hát này. Ta gặp lại tài tử Phạm Ngọc Lân để bắt được cái cảm xúc chân thực của Hoài Cảm trong một mùa thu xưa, không có nhiều tô vẽ.

Còn khi nghe phần trình bày của ca sĩ Duy Trác, tiếng hát liêu trai cùng tiếng chuông điểm chầm chậm trong phần hòa âm lại càng gợi ta nhớ về những ngôi nhà thờ xưa cũ nơi Hà Thành, tạo nên một nét khác lạ đáng yêu cho ca khúc này.

Giọng ca Sĩ Phú ghi âm trước năm 1975 khiến ta ngỡ đây chính là tâm tư của anh, người ca sĩ đẹp trai gốc Bắc với bộ râu tài tử, nhưng lại sở hữu một chất giọng mượt mà mềm mại đến độ có thể làm tan chảy lòng người. Tiện đây, cũng xin lan man một chút về người ca sĩ “nghiệp dư” nhưng tài hoa nhất mực này.

Hoài Cảm - Cung Tiến - Sĩ Phú
Ca sĩ Sĩ Phú

Sĩ Phú vốn là một sĩ quan không quân chuyên nghiệp, nhưng có giọng hát thiên phú với chất giọng tình tứ, dù anh chưa qua một trường lớp âm nhạc nào.

Bên cạnh đó, phong cách trình diễn hào hoa bay bướm của anh đã thu hút được cảm tình của khán giả ngay từ đầu.

Tuy là một phi công chiến đấu nhưng theo các thông tin từ những người thân cận của anh, thì tính cách của anh dường như có phần rụt rè và không quyết đoán, điều này vừa hay lại làm cho các bản tình ca của anh thêm phần lôi cuốn.

Bên cạnh đời sống âm nhạc phong phú thì Sĩ Phú cũng là một người rất “đào hoa”, có những mối quan hệ sâu sắc với nhiều phụ nữ. Có lẽ ngoại hình đẹp trai lãng tử cùng với chất nghệ sĩ quá đậm đà nơi anh đã thu hút họ đến với anh; sau đó chất hiền lành và chút mềm yếu nơi anh làm cho họ không nguyện ý rời xa anh được nữa.

Tuy anh dường như đã “bỏ rơi” một số người phụ nữ trong đời, nhưng anh chưa bao giờ bỏ rơi ca hát; trước khi từ giã cõi đời vào tháng 7/2000, anh vẫn cùng bạn bè nghệ sĩ thực hiện CD cuối cùng trong cuộc đời ca hát của anh có tên là “Còn chút gì để nhớ”.

Trong buổi CD này ra mắt công chúng, anh đã hát bài hát đó khi ngồi trên xe lăn, như một lời giã biệt với những người hâm mộ giọng ca của anh.

Cung Tiến – nhạc sĩ sáng tác Hoài Cảm – không về được với Hà Nội mỗi mùa thu, đúng như dự cảm của ông từ buổi chia ly đất Bắc, nhưng Hoài Cảm của ông cũng giống như một con tàu luôn khởi hành đúng hẹn, cứ mỗi độ thu về lại đưa đón những tâm hồn nhạy cảm của những người con Hà Nội xa xứ về với cố hương. Và, biết đâu, đây mới chính là sứ mệnh thực sự của ca khúc bất hủ này!

Tác giã : Hoài Ân

Đài RFA phỏng vấn nhạc sĩ Cung Tiến

197 views

Phóng viên Mặc Lâm của đài radio RFA phỏng vấn nhạc sĩ Cung Tiến về những sáng tác và hoạt động âm nhạc của ông trong những thập niên qua ở hải ngoại.

Nhạc sĩ Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh năm 1938 tại Hà Nội. Thời kỳ trung học, Cung Tiến học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng Chung Quân và Thẩm Oánh. Trong khoảng thời gian 1957 đến 1963, Cung Tiến du học ở Australia ngành kinh tế và ông có tham dự các khóa về dương cầm, hòa âm, đối điểm, và phối cụ tại nhạc viện Sydney.

Trong những năm 1970 đến 1973, với một học bổng cao học của Hội đồng Anh (British Council) để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại đại học Cambridge, Anh, ông đã dự các lớp nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại tại đó.

Năm 1987, Cung Tiến viết nhạc tấu khúc Chinh phụ ngâm, soạn cho 21 nhạc khí tây phương, được trình diễn lần đầu vào năm 1988 tại San Jose với dàn nhạc thính phòng San Jose, và đã được giải thưởng Văn Học nghệ thuật quốc khánh 1988.

Vào đầu thập kỷ 1980 Cung Tiến phổ nhạc từ 12 bài thơ trong tù cải tạo của Thanh Tâm Tuyền mang tên Vang Vang Trời Vào Xuân, tập nhạc này được viết cho giọng hát và Piano và được trình bày lần đầu tiên tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào năm 1985.

Năm 1992, Cung Tiến soạn tập Ta Về, thơ Tô Thùy Yên, cho giọng hát, nói, ngâm và một đội nhạc cụ thính phòng. Năm 2003, Ông đã thực hiện một tác phẩm nhạc đương đại Lơ thơ tơ liễu buông mành dựa trên một điệu dân ca chèo cổ. Ông cũng là hội viên của diễn đàn nhạc sĩ sáng tác Hoa Kỳ.

Trong lãnh vực văn học, giữa thập niên 50 và 60, với bút hiệu Thạch Chương, Cung Tiến cũng đã từng đóng góp những sáng tác, nhận định và phê bình văn học, cũng như dịch thuật, cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan Điểm, và Văn.

Nhóm Sáng Tạo là nhóm nổi tiếng nhất xuất phát từ phong trào di cư. Hoạt động của họ là mở một con đường mới về ngôn ngữ hình ảnh cũng như về lý tưởng tự do. Tôi hợp tác với họ bằng những bài viết về triết học cũng như những nhận định âm nhạc lúc đó tôi đã đi du học. Thế hệ trẻ về sau lớp học trò của Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền chắc chắn là chịu nhiều ảnh hưởng của Sáng Tạo.

Hai trong số các truyện ngắn ông dịch và xuất bản ở Việt Nam là cuốn Hồi ký viết dưới hầm của Dostoievsky và cuốn Một ngày trong đời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn.

Mặc Lâm: Là một người yêu thích âm nhạc và có những nhạc phẩm nổi tiếng rất sớm như: Hoài Cảm, Thu Vàng, Hương Xưa…lý do nào khiến ông trở thành một chuyên gia kinh tế học và ông có cho rằng kinh tế và âm nhạc là hai lĩnh vực khó hòa hợp lẫn nhau hay không?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Câu hỏi này nó có hai phần một phần là tại sao tôi trở thành chuyên gia kinh tế học và một phần là giữa âm nhạc và kinh tế có hòa hợp với nhau hay không. Tôi được học bỗng kinh tế học vì âm nhạc không phải là ngành mà ngoại quốc cho chính phủ VNCH hồi đó. Sự thực thì âm nhạc và kinh tế không phải là khó hòa hợp vì cả hai đều là nghệ thuật cả. Kinh tế học không phải là một khoa học mà là một nghệ thuật giữa kẻ mua người bán, giữa người sản xuất và người tiêu dùng, cho nên nếu không hòa hợp được thì cũng không thể xung khắc lẫn nhau.

Mặc Lâm: Ông đã từng công tác với nhóm Sáng Tạo rất sớm qua bút hiệu Thạch Chương bằng những bài viết và dịch thuật, ông có nhận xét gì về hoạt động cũng như ảnh hưởng của nhóm này?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Nhóm Sáng Tạo là nhóm nổi tiếng nhất xuất phát từ phong trào di cư. Hoạt động của họ là mở một con đường mới về ngôn ngữ hình ảnh cũng như về lý tưởng tự do. Tôi hợp tác với họ bằng những bài viết về triết học cũng như những nhận định âm nhạc lúc đó tôi đã đi du học. Thế hệ trẻ về sau lớp học trò của Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền chắc chắn là chịu nhiều ảnh hưởng của Sáng Tạo.

Mặc Lâm: Được biết Thanh Tâm Tuyền là bạn thân của ông, xin ông cho biết một vài kỷ niệm đối với tài thơ này nhân kỷ niệm một năm ngày mất của thi sĩ.

Nhạc sĩ Cung Tiến: Tôi quen Thanh Tâm Tuyền năm 1956 khi tôi theo học năm cuối cùng của trung học tại Chu Văn An, lúc ấy Thanh Tâm Tuyền mới vào nam theo làn sóng di cư của sinh viên. Đây là ca khúc đầu tiên của chúng tôi viết từ năm 1953 lúc đó tôi mới 14 tuổi lúc tôi mới học đệ lục nó là công an khúc hoàn toàn trữ tình của một học sinh ảnh hưởng thơ mới lãng mạn của Huy Cận, Xuân Diệu ….Riêng với tôi nó là đứa con đầu lòng vẫn còn được thính giả yêu thích tôi vẫn thích vì nó giản dị và là một thời học trò của mình.
Hành trang du học của tôi chỉ có mấy quyển sách, trong đó có hai quyển Tôi Không Còn Cô Độc của Thanh Tâm Tuyền và Tháng Giêng Cỏ Non của Mai Thảo. Cho tới khi tôi về nước vào năm 1963 tôi mới gặp lại Thanh Tâm Tuyền và chúng tôi có những quan hệ thân thiết hơn.

Mặc Lâm: Thưa ông có phải văn chương cực kỳ lạ lẫm của Thanh Tâm Tuyền đã khiến ông phổ nhạc hai bài ĐêmLệ Đá Xanh hay vì lý do dễ hiểu hơn vì nhà thơ là bạn thân của ông?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Tôi thấy bài thơ rất buồn và rất độc đáo. Bài thơ này tôi phổ ở Sydney năm 1957 với mục đích gửi tặng Phạm Đình Chương. Mãi sau này tôi mới phổ bản Đêm của Thanh Tâm Tuyền trong tập thơ Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy.

Mặc Lâm: Bên cạnh Thanh Tâm Tuyền là một nhà thơ khác trong nhóm Sáng Tạo cũng được ông quan tâm đó là nhà thơ Tô Thùy Yên, Với thi phẩm Ta Về ông đã sáng tác nhiều loại hình âm nhạc cho tác phẩm này, xin ông cho biết vài chi tiết về việc này.

Nhạc sĩ Cung Tiến: Tập thơ Ta Về của Tô Thùy Yên lọt ra khỏi trại cải tạo và Mai Thảo đưa cho tôi xem vài bài trước khi Tô Thùy Yên định cư tại Mỹ. Tôi đã soạn cho bài thơ này trở thành những giọng ngâm, hát, nói với những nhạc cụ tây phương phụ đệm.

Mặc Lâm: Thưa ông, từ nhạc phẩm đầu tay là bản Hoài Cảm được sáng tác năm 1953 cho đến nay đã có bao thăng trầm trong đời sống riêng cũng như của toàn dân tộc, ông có nhận xét gì về nhạc phẩm này và điều gì vẫn còn in đậm trong lòng ông cho tới bây giờ sau khi nhạc phẩm này ra đời?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Đây là ca khúc đầu tiên của chúng tôi viết từ năm 1953 lúc đó tôi mới 14 tuổi lúc tôi mới học đệ lục nó là ca khúc hoàn toàn trữ tình của một học sinh ảnh hưởng thơ mới lãng mạn của Huy Cận, Xuân Diệu ….Riêng với tôi nó là đứa con đầu lòng vẫn còn được thính giả yêu thích tôi vẫn thích vì nó giản dị và là một thời học trò của mình.

Mặc Lâm: Cảm ơn Nhạc sĩ Cung Tiến.

Vài dòng về tiểu sử của nhạc sĩ Cung Tiến

214 views

Trong lịch sử tân nhạc Việt, dường như không có một nhạc sĩ nào nổi tiếng ngay với sáng tác đầu tay, ở tuổi niên thiếu, khi chỉ mới 14, 15 tuổi, như trường hợp Cung Tiến. Có dễ chính vì thế mà, có người không ngần ngại gọi hiện tượng Cung Tiến là thiên tài của bộ môn nghệ thuật này.

Nhạc sĩ Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh ngày: 27-11-1938 tại Hà Nội, học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng là Thẩm Oánh và Chung Quân tại hai trường Trung học Chu Văn An và Nguyễn Trải.

Với hai sáng tác đầu tay bất hủ Thu vàngHoài cảm viết từ khi mới lên 13-14 tuổi, nhạc sĩ Cung Tiến được nhiều người ca tụng là thần đồng âm nhạc dù ông xuất thân từ một gia đình không ai có năng khiếu âm nhạc.

Cụ thân sinh tôi là một nhà thơ, một nhà cách mạng. Ông theo Việt Nam Quốc dân Đảng, không có ai dính vào âm nhạc nhất là âm nhạc mới, không có ai cả,” nhạc sĩ Cung Tiến nói với đài VOA.

Tuy nhiên, bản thân ông đã bắt đầu sinh hoạt văn nghệ thời còn là học sinh tiểu học, đi học hát trong nhà thờ, hát trong các ca đoàn Công giáo và được giao điều khiển ban hợp ca của các trường khi lên tới trung học.

Thời trung học có tổ chức những đại hội học sinh toàn thành. Hồi kỷ niệm thành lập Việt Nam Cộng hòa năm thứ hai của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm thì có đại nhạc hội học sinh toàn thành của các trường trung học Việt Nam như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Trưng Vương, Petrus Ký, Marie Curie, thành lập Ban Hợp ca và tôi điều khiển ban hợp ca đó, vào năm 1956,” nhạc sĩ Cung Tiến tâm sự.

Từ nhỏ, ông từng học thổi sáo, biết chơi đàn mandoline, đàn guitar cổ điển trước khi làm quen với đàn piano lúc qua Úc du học về nghành kinh tế Trong khoảng thời gian 1957 tới 1963.

Trong những năm từ 1970 tới 1973, khi Cung Tiến nhận được một học bổng cao học về kinh tế, của British Council để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại Ðại Học Cambridge, Anh quốc; ông cũng đã ghi tên tham dự các lớp về nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại…

Các bản nhạc đầu tay của ông đã đi sâu vào lòng người hâm mộ như Thu Vàng, Hoài Cảm, hoàn toàn xuất phát từ trí tưởng tượng, không dính líu đến đời thật của ông. Cung Tiến sáng tác rất ít và phần lớn các tác phẩm của ông đều viết sau 1954, trừ hai bài nêu trên ông viết năm 1953 khi mới 14-15 tuổi. Tuy nhiên, các ca khúc này lại thường được xếp vào dòng nhạc tiền chiến bởi chúng có cùng phong cách trữ tình lãng mạn… Sau này, phần lớn những nhạc phẩm của nhạc sĩ Cung Tiến là những bài thơ được ông thổi vào giai điệu du dương.

Viết lời ca khi hồi còn trẻ. Sau này mình không có hứng, không có dịp để viết lời ca thường nữa. Phần lớn tôi phổ thơ của Vũ Hoàng Chương, Thanh Tâm Tuyền. Thanh Tâm Tuyền tôi phổ nhiều lắm. Ngoài tập 10 bài thơ viết trong tù cải tạo, tôi còn phổ những bản trước khi ông vào tù, khi còn ở Sài Gòn như bản Lệ đá xanh, Đêm…,” ông giải thích.

Cung Tiến chưa hề về Việt Nam và từ khi sang Mỹ ông không viết bản nhạc nào về Việt Nam ngoài Hoàng Hạc Lâu, phổ thơ của Vũ Hoàng Chương dịch bài thơ của Thôi Hiệu đời Đường, tác phẩm duy nhất của ông có “dính líu” với Việt Nam sau ngày miền Nam Việt Nam sụp đổ năm 1975.

Sau khi đậu Tú tài hai, nhạc sĩ Cung Tiến được học bổng Colombo sang Úc học về môn kinh tế trong khoảng thời gian từ 1957 đến 1965. Dịp này, ông tham dự các lớp học về âm nhạc phương Tây tại Viện Âm nhạc Sydney.

Từ năm 1970 đến 1973, ông được học bổng của Hội đồng Anh (Bristish Council) để nghiên cứu về kinh tế tại trường đại học Cambridge. Trong thời gian đó, ông trau dồi thêm về âm nhạc bằng cách tham dự các lớp về nhạc học, lịch sử âm nhạc và nhạc lý hiện đại. Cho nên về sau này, phong cách sáng tác của ông khác hẳn những bản nhạc thời học sinh mà ông gọi là “nhạc phổ thông”. Thay vào đó là những tác phẩm mà ông gọi là “ca khúc nghệ thuật.”

Ra hải ngoại Cung Tiến viết nhạc tấu khúc Chinh Phụ Ngâm năm 1987, soạn cho 21 nhạc khí, trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3 năm 1988, tại San Jose, California, với dàn nhạc thính phòng San Jose, và đã được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Quốc Khánh 1988…

Về sau tôi sáng tác nhiều tác phẩm khác được chơi ở bên Mỹ rất nhiều, nhất là tập tổ khúc (Suite) Chinh Phụ Ngâm. Tổ khúc giống như một symphonie nhưng nhỏ hơn, viết cho dàn nhạc đại hòa tấu. Dựa vào những tình tứ, tình cảm trong tập thơ đó, tôi viết thành một tổ khúc ba phần. Không phải tôi phổ nhạc. Không phải tôi phổ thơ Chinh Phụ Ngâm. Tôi dựa vào tình tiết, cảnh tượng trong Chinh Phụ Ngâm mà viết thành một tổ khúc cho dàn nhạc đại hòa tấu,” ông chia sẻ.

Theo dõi sinh hoạt sáng tác của Cung Tiến, kể từ sau biến cố 30 tháng 4, 1975, ở hải ngoại, người ta được biết, ông dành nhiều thì giờ hơn cho việc sáng tác – Từ phổ nhạc thơ, cho tới những công trình nghiên cứu dân ca Việt, nghiên cứu hình thái đặc thù của truyền thống Quan Họ Bắc Ninh, v.v…

Bên cạnh lãnh vực âm nhạc, Cung Tiến cũng đóng góp nhiều cho lãnh vực văn học thuộc giai đoạn 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam. Với bút hiệu Thạch Chương, ông từng cộng tác với các tạp chí Sáng Tạo, Quan Ðiểm, và Văn. Hai trong số những bản dịch thơ văn của Cung Tiến dưới bút hiệu Thạch Chương, được nhiều người biết tới thời trước 1975 ở Saigon là Hồi Ký Viết Dưới Hầm của Dostoievsky, và cuốn Một Ngày Trong Ðời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn.

Nhạc sĩ Cung Tiến cũng từng là một viên chức cao cấp của Việt Nam Cộng hòa. Ông là một trong ba Tổng Giám đốc trụ cột của Bộ Kế hoạch trước năm 1975.

1953: Sáng tác hai nhạc phẩm bất hủ Thu VàngHoài Cảm từ lúc còn rất trẻ.

1957-1963: Du học ở Úc Châu ngành Kinh tế, đồng thời học thêm về dương cầm, hòa âm, đối điểm, phối cụ tại Nhạc viện Sydney.

1964-1970: Viết nhận định, phê bình văn học, dịch thuật cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn với bút hiệu Thạch Chương.

Dịch giả hai tác phẩm nổi tiếng của văn hào Nga: Hồi Ký Viết Dưới Hầm của F. M. Dostoevsky và Một ngày trong đời Ivan Denisovitch truyện của A. Solzhenitsyn.

1970-1973: Nhận học bổng cao học của British Council để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại Cambridge, Anh Quốc và tốt nghiệp kinh tế học tại đó; đồng thời dự các lớp nhạc sử, nhạc học và nhạc lý.

1975: Định cư tại Hoa Kỳ, làm việc trong Bộ An Ninh Kinh Tế Tiểu Bang Minnesota.

Đầu thập niên 80: phổ nhạc Vang Vang Trời Vào Xuân từ thơ viết trong tù của Thanh Tâm Tuyền, trình bày lần đầu tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn năm 1985.

1987: Sáng tác tấu khúc Chinh Phụ Ngâm, soạn cho 21 nhạc khí, trình diễn lần đầu tại San Jose, California, ngày 27-3-1988; trình diễn lần sau tại Minnesota ngày 11-11-1989.

1992: Phổ nhạc bài thơ Ta Về của Tô Thùy Yên, gồm hát, dẫn đọc, ngâm với đội nhạc cụ thính phòng.

1993: Nhận tài trợ của The Saint Paul Companies để nghiên cứu nhạc Quan họ Bắc Ninh, các thể loại dân ca Việt Nam và soạn Tổ Khúc Bắc Ninh cho dàn nhạc giao hưởng.

1997: Soạn bản hợp ca cho ca đoàn Dale Warland Singers (Minnesota), nổi tiếng quốc tế, nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập ca đoàn.

1999: Đêm nhạc Cung Tiến tại rạp Ebel Theater, Santa Ana, California, do dàn nhạc thính phòng của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ tổ chức (ngày 4 tháng 12).

2003: Sáng tác nhạc đương đại Lơ Thơ Tơ Liễu Buông Mành dựa trên điệu dân ca Quan họ.

2010: Đêm nhạc “Vết Chim Bay” do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) tổ chức (ngày 10 tháng 7) tại rạp La Mirada Theater, Nam California – với một số nhạc phẩm tiêu biểu của Cung Tiến cùng dàn nhạc giao hưởng của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ. Hai tuyển tập Vang Vang Trời Vào XuânHoàng Hạc Lâu cũng được ra mắt 2 hôm trước đó.

Tổng hợp và theo Hà Vũ (VOA)

Đoàn Chuẩn, một nhạc sĩ đầy đắm say mà lặng lẽ

194 views

Chỉ với 16 ca khúc, Đoàn Chuẩn đã đi vào đời sống âm nhạc Việt Nam như là một nhạc sĩ viết về tình yêu say đắm nhất

Sinh vào ngày 15 tháng 6 năm 1924 tại Hải Phòng, đảo Cát Hải – lúc đấy là Bắc Kỳ thuộc Liên bang Đông Dương nằm dưới quyền cai trị của thực dân Pháp – Đoàn Chuẩn – con trai ông chủ hãng nước mắm Vạn Vân lừng danh, đã đi vào tục ngữ :

Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần,
Nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét.

Ông học tây ban cầm với Nguyễn Thiện Tơ, rồi hạ uy cầm với William Chấn. Tuổi trẻ hào hoa, chỉ thích… xe hơi ! Ông có 6 “ô-tô”, trong đó có chiếc Ford Frégatte sang hơn Thủ Hiến. Kháng chiến bùng nổ, gia đình dời về Thanh Hoá, Đoàn Chuẩn gặp Tô Vũ, Tạ Phước, cùng đi hát với Ngọc Bích và sáng tác bài Tình Nghệ Sĩ (1948), Sông Chu (chưa phổ biến). Sau đó, ông theo một đoàn cứu thương, lên Việt Bắc, làm bài Đường về Việt Bắc.

Bỏ kháng chiến về thành khoảng 1950, ông tung ra một loạt ca khúc đã sáng tác từ trước, làm thêm nhiều bài mới, được các đài phát thanh nồng nhiệt phát sóng và nhà Tinh Hoa xuất bản dưới tên: Nhạc Đoàn Chuẩn – Lời Từ Linh. Đến năm 1954, Đoàn Chuẩn chọn ở lại Hà Nội, Từ Linh di cư vào Nam, mất năm 1992. Dù có ký tên chung, Đoàn Chuẩn là tác giả duy nhất cả nhạc và lời: chính ông tuyên bố như vậy mà không ai cải chính; ngay tại miền Nam, cũng không ai hay biết gì về Từ Linh.

Năm 1956, hãng nước mắm Vạn Vân bị tiếp quản và tài sản Đoàn Chuẩn bị tịch thu trong đợt cải tạo công thương nghiệp tư bản, nhưng gia đình còn mua được căn nhà số 9 đường Cao bá Quát, Hà Nội. Thời gian này, ông có làm bài Gửi Người Em Gái đã di cư vào Nam.

Đoàn Chuẩn sáng tác trong một thời gian ngắn 1948-1956, mà chủ yếu là 3 hay 4 năm chung quanh thời điểm 1950, được 10 bài nổi tiếng, còn 6 bài không phổ biến. Tại Miền Bắc, tác phẩm Đoàn Chuẩn không đựợc hát, vì nội dung ủy mỵ của ca khúc và lý lịch tác giả; khi đất nước thống nhất, sau 1975, nhạc ông vẫn bị cấm hát cho đến khoảng 1990. Tại Miền Nam trước 1975, ca khúc Đoàn Chuẩn được phổ biến sâu rộng với lớp người di cư, vì đáp ứng với hoài niệm của giới văn nghệ sĩ gốc Bắc và nhu cầu của giới trí thức, thanh niên, sinh viên thành phố.

Nhạc Đoàn Chuẩn được xếp vào nhạc tiền chiến một cách võ đoán. Một mặt, chữ “tiền chiến” áp dụng cho văn học nghệ thuật Việt Nam là một lối nói tuỳ tiện; mặt khác bài hát đầu tiên của Đoàn Chuẩn là Tình Nghệ Sĩ làm năm 1948 thì không thể gọi là tiền chiến.

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn
Đoàn Chuẫn đứng bên trái

Người viết lịch sử tân nhạc cũng hờ hững với ông; ngoài những thành kiến, họ còn cho rằng những bài thu ca của ông không mang lại gì mới, so với Đặng Thế Phong và Văn Cao; đề tài mùa thu cũng đã muôn đời, từ thơ Đường thơ Tống. Nói vậy thì không lý giải được lòng yêu chuộng của thính giả, và của giới ca nhân, từ Anh Ngọc, Sĩ Phú trước kia, đến Ánh Tuyết, Lê Dung gần đây.

So sánh bao giờ cũng giản lược, tôi đành giản lược cho dễ hiểu, trong một bài báo.

Ba bài hát mùa thu của Đặng Thế Phong là tiếng kêu thất thanh của niềm cô đơn tuyệt vọng, không cần hồi âm :

Nhớ khi chiều sương
Cùng ai trắc ẩn tấm lòng
Biết bao buồn thương
Thuyền mơ buông suôi dòng
Bến mơ dù thiết tha
Thuyền ơi ! Đừng chờ mong.
(Con thuyền không bến)

Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về
(Giọt Mưa Thu)

Nhạc thu của Văn Cao là tiếng khắc khoải của một nghệ sĩ đi tìm tâm hồn đồng điệu:

Đêm mùa thu chết
Nghe mùa thu rớt
Rơi theo lá vàng
Em ngồi đan áo
Lòng buồn vương vấn
Em thương nhớ chàng
(Buồn Tàn Thu)

Như vậy, chủ thể phát ngôn và tinh thần phát ngôn đã có phần khác nhau. Phạm Duy thường phát ngôn với tư cách công dân nghệ sĩ, trong một hoàn cảnh lịch sử và xã hội nhất định:

Chiều biên khu, vào mùa sang thu
Ai chinh phu nghe mùa thu tới…
Thu ơi thu, ta vỗ súng ca
(Thu Chiến Trường) 1946

Người lạnh lùng nghe mưa thu trên từng ba-lô
(Đường Về Quê) 1947

Đoàn Chuẩn có tiếng nói khác: Ông phát ngôn trên tư cách nghệ sĩ, đưa tác phẩm nghệ thuật đến một quần chúng nghệ thuật, trên những tiêu chuẩn thẩm mỹ. Ca khúc đầu tiên, bài Tình Nghệ Sĩ làm giữa những ngày kháng chiến – hay tản cư – gian nan, nói lên điều đó, làm một thứ chìa khoá đi vào thế giới Đoàn Chuẩn.

Tung phấn hương yêu qua bao lời hát
Bay tới bên em, tới em thầm nhắc
Đây ý tơ xưa đâu duyên tình cũ
Bóng anh phai dần ái ân tàn theo
Mối tình nghệ sĩ như giấc mơ
Chóng tàn vì vương vấn muôn ý thơ…

Ý này còn rõ hơn nữa trong bài Chuyển Bến:

Thuyền cắm tay sào từ cuối thu
Ngoài kia sông nước như đón chờ
Còn đêm nay nữa, ta ngồi với nhau
Ngày mai anh đã xa rồi…

Hình ảnh chìa khóa trong ca khúc Đoàn Chuẩn không phải là những “Lá Thư“, “Tà Áo Xanh“, “Lá Đổ Muôn Chiều” như người ta thường nói, mà là con thuyền: Thuyền rời xa bến vắng người ơi. Con thuyền muôn đời, của ca dao, của Đường Thi, từ bến Tần Hoài của Đỗ Mục, đến bến Phong Kiều của Trương Kế – hay gần hơn – trong Xuân Diệu: Tình du khách thuyền qua không buộc chặt…

Ca khúc Đoàn Chuẩn là thế giới quy ước. Người phụ nữ tô quầng mắt, ngập ngừng trong chiếc áo nhung…, đôi mắt như hồ thu…, bên cầu ngồi xõa tóc thề… là người đẹp trong tranh Tố Nữ, tranh lụa, hay sơn dầu của Tô Ngọc Vân, Lương Xuân Nhị.

Trong thế giới quy ước và hư ảo đó, Đoàn Chuẩn đã vẽ vời nên vẻ đẹp của Trần Gian qua những mùa Thu Quyến Rũ:

Anh mong chờ mùa thu
Trời đất kia ngả màu xanh lơ
Đàn bướm kia đùa vui trên muôn hoa
Bên những bông hồng đẹp xinh
Anh mong chờ mùa thu
Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên Thai
Vài cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa thu quyến rũ anh rồi…

Cái sắc mạnh huy hoàng của Đoàn Chuẩn là ở chỗ đó. Ông đã đưa Thiên Thai về đây với thu trần gian, trong khi Văn Cao phải lên tận cõi Đào Nguyên. Trong tình khúc Đoàn Chuẩn, Hoa xuân (đã) gặp bướm trần gian, ánh trăng xanh (đã) tan thành suối trần gian…

Mùa thu ở nông thôn Việt Nam từ ngàn năm nay vẫn vậy, nhưng phải đợi đến Nguyễn Khuyến chúng ta mới có những bức tranh thu tuyệt sắc. Và phải đợi đến Đoàn Chuẩn chúng ta mới được chơi vơi cùng từng mây lơ lửng trời xanh ngắt, trên âm giai dìu dặt của tân nhạc. Rồi thương cho những:

Lá vàng từng cánh rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa
(Gửi Gió cho Mây Ngày Bay)

Trong thâm tâm, có người xa cách với Đoàn Chuẩn vì một lý do: Ông là con nhà giàu, làm nhạc để mà chơi. Nhưng đây chính là tự do của con người, của kẻ làm nhạc, kẻ hát và người nghe hát. Cuộc chơi, chính là tự do trong sáng tạo nghệ thuật.

Biết đâu, cuộc đời cũng chẳng là một cuộc chơi, mà cuối cùng, khi nhận ra, con người thường thấy mình thua lỗ.

Tình trần ôi mong manh…

Tác giã : Đặng Tiến

Tình Thiên Thu của Nguyễn Thị Mộng Thường qua những nốt nhạc của Trần Thiện Thanh

174 views

Câu chuyện đau thương về Thiếu úy Hoàng Châu và cô giáo Mộng Thường đã được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh kể lại trong ca khúc “Tình Thiên Thu”.

Câu chuyện về Thiếu úy Hoàng Châu và cô giáo Mộng Thường yêu nhau được ba năm mà gần nhau chỉ ngắn ngủi trong những ngày phép vội vàng của người lính chiến. Lúc đó Mộng Thường dậy học ở một trường thủ đô, còn Hoàng Châu nơi bốn vùng chiến thuật quen dấu giầy.

Chiến chinh, cách xa là chiếc lăng kính lọc trong mầu thủy chung cho mối tình lứa đôi. Dấu phấn trắng, mầu bảng đen học trò, không cản được tâm hồn cô giáo Mộng Thường thả rong ra ngoài lớp học, để tưởng tượng người yêu đang dầm sương giãi nắng giữa làn tên mũi đạn. Hình ảnh khói thuốc súng, giao thông hào, những đêm nhìn hỏa châu rơi, không làm cho Hoàng Châu tránh được bồi hồi vọng tưởng đến người yêu ở phương trời xa thẳm. Tình yêu của hai người chỉ được nấu chín từ những giấc mộng êm đềm nửa đêm về sáng hay nằm gối tay trên mơ giữa thực tế nghìn trùng xa cách. Những cánh thư đi về. Những hẹn hò sum hợp với màu hồng pháo cưới vẫn là hoài vọng chân tình của đôi lứa. Một đám hỏi đơn sơ, bình dị như cuộc sống chân sình, tay phấn của trai tiền tuyến, gái hậu phương trong những ngày phép vội vã. Chàng trai gió sương hẹn cô giáo mùa Xuân năm tới sẽ đốt pháo rước dâu. Sau ngày vui đám hỏi, Hoàng Châu trở ra mặt trận, vùng địa cầu giới tuyến. Lúc đó mức độ tàn khốc của chiến trường càng ngày càng gia tăng mãnh liệt. Hoàng Châu hiên ngang dũng cảm chiến đấu bất chấp mọi hiểm nguy, chàng được thượng cấp báo tin khen thưởng thăng cấp “Trung uý” tại mặt trận. Tin vui về với Mộng Thường, nàng càng hãnh diện với người chồng sắp cưới anh hùng, đến nỗi ngẩn ngơ trong một chiều dậy học. Đám học trò sững sờ thấy cô giáo dễ thương để rơi viên phấn trắng vỡ đôi trên nền gạch thanh bình. Và để chia sẻ niềm hân hoan với hôn phu, nàng sắp xếp giờ dậy, xin phép đến mặt trận để dự lễ thăng cấp của Hoàng Châu.

Tình Thiên Thu - Trần Thiện Thanh

Và trên chuyến xe đò định mệnh, chưa kịp tới với người yêu, một quả mìn ác độc do giặc giăng cài, nổ tung, cắt đứt đành đoạn tình đôi lứa. Đứt ruột, đau đớn trước bi thảm kịch này, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh kể thành nhạc khúc “Tình Thiên Thu”:

… Em xưng em tên Mộng Thường
Mẹ gọi em bé thương,
Em xưng em tên Mộng Thường
Cha gọi em bé ngoan
Đến lúc biết mơ mộng
Như những cô gái xuân nồng
Nàng yêu anh quân nhân Biệt Động
Trong một ngày cuối đông
Chuyện tình trong thời giao tranh
Vẫn như làn khói mong manh
Chàng về đơn vị xa xăm
Nàng nghe nặng nhớ mong…
Yêu trong lúc triền miên khói lửa
Chuyện vui buồn ai biết ra sao
Nhìn quanh mình ôi lắm thương đau
Khi không thấy người yêu trở lại
Tình yêu tìm không thấy ban mai
Người không tìm ra dấu tương lai…
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ phương xa
Mùa Xuân buồn có gió đông qua
Xin cho yêu trong mộng thường
Nhưng Mộng Thường cũng tan
Xin cho đi chung một đường
Sao định mệnh chắn ngang
Xin ghi tên trong thiệp hồng
Phút giây bỗng nghe ngỡ ngàng
Cô dâu chưa về nhà chồng
Ôi lạnh lùng nghĩa trang…
Chàng thề không còn yêu ai
Dẫu cho ngày tháng phôi phai
Nhiều lần trong mộng liêu trai
Nàng hẹn chàng kiếp mai!

Theo Nhạc Xưa

Hùng Ca Sử Việt – Thề Không Phản Bội Quên Hương (Cục Chính Huấn)

288 views

Trong âm nhạc, mỗi một ca khúc là một câu chuyện. Mỗi một người sẽ chọn cho mình một ca khúc để hát, để yêu, chỉ vì họ nhìn thấy câu chuyện của chính họ trong ca khúc đó.

Thế nhưng, có những nhạc phẩm mà triệu triệu người cùng hát, cho cùng một mục đích. Và khi hát lên, thì cả triệu triệu người ấy đều có chung một nhịp đập từ trái tim. Đó là những bản hùng ca sử Việt, những tác phẩm mà người sáng tác, người hát, và người nghe đều là một.

Một cánh tay đưa lên
Hàng ngàn cánh tay đưa lên
Hàng vạn cánh tay đưa lên
Quyết đấu tranh cho một nền hòa bình công chính
Đập phá tan mưu toan, đầu hàng cái quân xâm lăng
Hoà bình phải trong vinh quang
Đền công lao bao máu xương hùng anh…


(Thề không phản bội quê hương)

Khi âm nhạc không còn là ngôn ngữ của riêng những bản tình ca, không còn là giai điệu dành riêng để ca ngợi những cuộc tình lộng lẫy hoặc khóc thương cho sự chia lìa đôi lứa, thì lúc đó, âm nhạc sẽ là một vũ khí sắc bén thay cho vạn lời nói. Vũ khí đó có thể làm bừng lên hào khí của cả một thế hệ.
Vũ khí đó có thể được lưu truyền và tiếp nối đến những đời sau, để những trái tim rực lửa với quê hương luôn sẵn sàng hát vang câu thề “thà chết chứ không hề lui, quyết không hề phản bội quê hương.

Thưa quí vị, có phải chúng ta đang cảm thấy từng mạch máu trong cơ thể chúng ta đang nóng bừng lên cùng với những giai điệu hào hùng và rực lửa này không?
Có phải những ai nghe được lời ca mạnh mẽ, hùng hồn đầy nhiệt huyết của nhạc khúc này, thì chỉ cần nhắm mắt lại là có thể trở về ngay một thời trai trẻ của thế hệ hùng ca sử Việt?
Đó là thế hệ của Nguyễn Đức Quang, của Trầm Tử Thiêng, của Việt Thu, Nguyễn Tấn Lộc… những nhạc sĩ miền Nam Việt Nam thập niên 60.

Họ viết cho ai?
Họ viết cho điều gì?

Cho đồng bào tôi ở khắp bốn phương trời
Hát những bài ca tôi đòi đã mòn hơi
Nghe nhau khóc thầm suốt đêm qua
Nghe bao nhiêu bạn khóc bên kia
Hoang mang cúi đầu chờ mong thượng đế
Cho đồng bào tôi thở nốt những hơi tàn
Buông thỏng bàn tay thua thiệt trước lầm than
Đêm đêm hết sạch vá vay thêm
Hay mang xe đèo kiếm cơm ăn
Thân trâu kéo cày bên lũ hưởng nhàn…


(Cho đồng bào tôi)

Cho một nhà sư bị nhốt giữa sân chùa, vì phân phát tình thương mà thành mang trọng tội; cho linh mục bớt thềm oan khiên vì đấu tranh cho niềm tin và tình yêu tôn giáo; cho những người dân tộc thiểu số, những người Tây Nguyên không còn bị cầm chân nơi núi rừng; cho tiếng nói người dân được lắng nghe; cho tự do; cho quyền được nói…

Cho người Việt Nam!
Cho đồng bào tôi!

Cách đây hơn 41 năm, người nhạc sĩ đầu đàn của phong trào du ca Việt Nam, Nguyễn Đức Quang đã viết ca khúc Cho đồng bào tôi để nói lên thân phận của người Việt Nam lúc bấy giờ. 41 năm sau đó, cố nhạc sĩ Việt Dzũng đã mượn giai điệu của ca khúc này để viết lời thứ hai, cho thân phận và cuộc sống của người Việt Nam bây giờ.

Họ là ai?

Bước ra từ ca khúc đó, họ có thể là một vị luật sư, một đức cha, một nhạc sĩ, một nhà doanh nghiệp, một thanh niên trẻ trở về từ xứ sở tự do, một cô gái mang học vị tiến sĩ…

Họ là những người đấu tranh cho tiếng nói của một dân tộc.

Họ là những người luôn ấp ủ một hoài bão chung cho cái đẹp vì hoà bình, vì tình yêu dành cho hai tiếng Việt Nam.

Việt Nam ơi
Thời gian quá nửa đời người
Và ta đã tỏ tường rồi
Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói
Mẹ Việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời
Người lầm than đói khổ nghèo nàn
Kẻ quyền uy giàu sang dối gian…


(Việt Nam tôi đâu)

Tình yêu quê hương đất nước là gì mà từ lâu rồi, nhạc sĩ Giáp Văn Thạch ví von đơn giản chỉ là chùm khế ngọt, là tuổi thơ thả chơi trên đồng? Với Phạm Minh Tuấn là giọt đàn bầu thon thả? Với cố nhạc sĩ Phạm Duy là lời ru dịu dàng của mẹ?
Cũng tình yêu ấy, nhưng nhạc sĩ Việt Khang, thế hệ nhạc sĩ yêu nước tiếp nối, thì lại kêu lên xót xa như đứa trẻ ngơ ngác, thảng thốt hỏi tìm Mẹ, ngày Mẹ không còn nữa: “Giờ đây Việt Nam còn hay đã mất?
Câu hỏi được chính Việt Khang xót xa kêu lên khi đến quá nửa đời người, đã tỏ tường nhận ra “sau những ngày tàn lửa khói”, Mẹ Việt Nam của anh, của triệu người Việt Nam khác đang “đau từng cơn xót dạ nhìn đời, nhìn “người lầm than đói khổ nghèo nàn”, nhìn “kẻ quyền uy giàu sang dối gian”.

Triệu người Việt khác, ở khắp nơi trên thế giới ngày nay mỗi ngày nhìn về quê hương và tự hỏi:
Không kèn, không trống, không dàn nhạc với những nhạc cụ chuyên nghiệp, chỉ là những tiếng vỗ tay thay cho tiếng nhạc đệm, những gương mặt trẻ và ánh mắt sáng ngời vẫn hát vang những ca khúc của Nguyễn Đức Quang, của Việt Dzũng, của Trúc Hồ, của Việt Khang.

Xin hỏi anh là ai?
Sao bắt tôi tôi làm điều gì sai?
Xin hỏi anh là ai?
Sao đánh tôi chẳng một chút nương tay?
Xin hỏi anh là ai?
Không cho tôi xuống đường để tỏ bày
Tình yêu quê hương này, dân tộc này đã quá nhiều đắng cay!


(Anh là ai)

Họ hát say sưa như dàn đồng ca đang trình diễn trên sân khấu. Chỉ có khác rằng, sân khấu của họ là những nơi họ tuần hành đòi quyền sống, là thánh đường, là những buổi tiệc chúc phúc cho tân lang, tân nương. Đó là nơi mà những bài tình ca truyền thống phải nhường chỗ cho các nhạc phẩm mưu cầu tự do dân tộc và quyền cho người dân Việt.
Đó là những bản hùng ca triệu người hát.

Tác giã : Cát Linh (RFA)

Những giai thoại quanh ca khúc nhắc tên danh ca Thái Thanh

260 views

Một ca sỹ được nhắc tên trong một ca khúc là điều hiếm hoi. Nhưng với giọng ca vượt thời gian của Thái Thanh, dường như điều đó đã thành ngoại lệ khi nhạc sỹ Anh Bằng đã nhắc tới chị trong một ca khúc có tên Giọt buồn không tên sáng tác năm 1971. Khi đó, Thái Thanh còn đang ở đỉnh cao của âm nhạc.

Nhạc sỹ Anh Bằng nổi tiếng với nhiều ca khúc như Nỗi lòng người đi, Bài thơ đan áo, Anh biết em đi chẳng trở về, Ai bảo em là giai nhân, Chuyện tình Lan và Điệp…. Nhưng khi sáng tác ca khúc Giọt buồn không tên, nhạc sỹ Anh Bằng đã ký tên là Tô Giang. Ít ai biết Tô Giang chính là bút danh khi Anh Bằng sáng tác thơ. Vì thế đã có một thời, người ta đi tìm nhạc sỹ Tô Giang mà không hề biết đó chính là Anh Bằng. Mãi sau này, khi nhạc sỹ – ca sỹ Duy Khánh xuất bản tuyển tập mới ghi rõ tác giả của ca khúc Giọt buồn không tên là nhạc Anh Bằng – Lời Tô Giang. Và sau này, nhiều chương trình nhạc khi giới thiệu ca khúc Giọt buồn không tên chỉ ghi là tác giả Anh Bằng.

Những giai thoại có tên Thái Thanh - Nhạc sĩ Anh Bằng
Nhạc sĩ Anh Bằng

Ca khúc Giọt Buồn Không Tên có một từ rất nhiều người hát sai. Đó là từ có liên quan đến Thái Thanh: “Phòng trà nghỉ chân nghe Thái Thanh ca Biệt Ly…”. Trước đây đã có người khẳng định câu hát đó phải là “Phòng trà Mỹ Trân” và lập luận rằng phòng trà thì tên Mỹ Trân nghe hay, và gắn với kỷ niệm một thời của Sài Gòn. Cũng có người đã đi tìm hiểu tư liệu và sau đó khẳng định Sài Gòn thời đó (những năm 70 thập kỷ trước) không có phòng trà nào tên là Mỹ Trân. Nhạc sĩ Anh Bằng đã không nói tên của phòng trà nên nhiều người có thể nghĩ theo nghĩa rộng là… phòng trà nào cũng được.

Nhưng với “Nghe Thái Thanh ca Biệt ly”, thực tế tại Sài Gòn ngày đó, danh ca Thái Thanh chỉ hát duy nhất tại phòng trà Đêm Màu Hồng, nơi mà nhạc sĩ Phạm Đình Chương (Hoài Bắc) mở vào năm 1967. Dàn ca sĩ tại Đêm Màu Hồng gồm có ban hợp ca Thăng Long (Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Hằng, Khánh Ngọc và Thái Thanh) chuyên trình bày những nhạc phẩm của Phạm Duy và Phạm Đình Chương, ban Tam Ca Đông Phương (Tuyết Hằng, Thu Hà, Hồng Vân) chuyên trình bày nhạc dân ca ba miền rất nổi tiếng, ban tứ ca “Bốn anh em nhà Dalton” với Ngọc Thi, Nhật Bằng, Hoài Trung và Hoài Khanh chuyên trình diễn những bản nhạc ngoại quốc vui nhộn, trẻ trung. Vì thế dù Anh Bằng không nói rõ là phòng trà nào nhưng ai biết cũng có thể nói chính xác đó là phòng trà Đêm Màu Hồng.

Những giai thoại có tên Thái Thanh - Ban hợp ca Thăng Long
Ban hợp ca Thăng Long

Ca khúc Biệt ly là ca khúc nổi tiếng của nhạc sỹ Doãn Mẫu được sáng tác năm 1939, khi nhạc sỹ chứng kiến những sự chia ly tại ga Hàng Cỏ (Hà Nội). Trước Thái Thanh, đã có nhiều ca sỹ thể hiện Biệt Ly như tài tử Ngọc Bảo, Thanh Thúy… nhưng phải tới Thái Thanh, người nghe mới thấu hiểu được nỗi lòng người nhạc sỹ muốn gửi gắm.

Sau này, khi được hỏi về lý do viết câu hát “Nghe Thái Thanh ca Biệt ly” chứ không phải ca khúc khác, nhạc sỹ Anh Bằng đã nói: “Có lẽ vì cùng đồng cảnh nỗi xa quê nên ca sỹ Thái Thanh mới thể hiện Biệt ly hay tới thế”.

Tác giã : Trọng Thịnh

Tiếng Hát Thái Thanh Trong Dòng Nhạc Đạo Ca

478 views

Thái Thanh tên thật là Phạm Thị Băng Thanh, sinh ngày 5/8/1934, từ trần ngày 17/3/2020 tại Quận Cam, California, Hoa kỳ, hưởng thọ 86 tuổi.

Cố ca sĩ Thái Thanh trong sự nghiệp ca hát của mình ít thấy có nhiều sự kiện liên quan đến Phật giáo nhưng chỉ một vài chi tiết thôi cũng đủ ghi đậm hình ảnh của Bà đối với những bái hát có liên quan đến hệ tư tưởng của Phật giáo. Các đây ít năm , người viết bài này có nói đến tiếng hát của bài cùng với Ban hợp ca Thăng Long qua bài hát bất hủ “Phật Giáo Việt Nam” của nhạc sĩ Lê Cao Phan thu thanh trong dĩa nhựa Sóng nhạc trước năm 1975 (bài “Ước Mơ Nhỏ, Niềm Vui Lớn”). Chỉ một giọng ca của Bà cất lên trong bài hát này mà các giọng ca còn lại trong Ban Thăng Long (Hoài trung, Thái Hằng, Hoài Bắc (tức Phạm Đình Chương), và Khánh Ngọc) như đã làm nền theo phong cách hòa âm có nghệ thuật cao. Điều mà ngày nay, dù chúng ta đã có nhiều dàn hợp xướng, họp ca bài “Phật Giáo Việt Nam” mà nghe vẫn như chưa toát lên hết sự khẳng khái và cương nghị của PGVN như cách hát của Bà khi ấy, dù rằng âm thanh ngàn nay đã có tiến bộ rất nhiều. Bài hát đó với giọng ca của Bà còn là một phần kỷ niệm rất lớn đối với những người con Phật thời ấy vào các ngày đại lễ của Phật giáo trên sóng phát và truyền hình, trong đó có tuổi thơ người viết.

Tuy nhiên dấu ấn lớn nhất và cỏn là sự kiện nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của cố nhạc sĩ Phạm Duy ( 1921 – 2013 ) và giọng ca của Bà là vào năm 1970, với 10 bài thơ thiền của nhà thơ Phạm Thiên Thư (khí đó còn là tu sĩ Phật Giáo) được Phạm Duy phổ nhạc, lấy tựa đề “10 Bài Đạo Ca”, tất cà và duy nhật cũng vẫn là giọng hát tuyệt vời của Bà thể hiện.

Tiếng Hát Thái Thanh Trong Dòng Nhạc Đạo Ca

Tuyển tập 10 bài Đạo ca ấy gồm : Đạo Ca thứ nhất: Pháp Thân, Đạo Ca Thứ hai: Đại Nguyện, Đạo Ca Thứ ba: Chàng Dũng Sĩ Và con Ngựa Vàng, Đạo Ca bốn: Quán Thế Âm, Đạo Ca năm: Một Cành Mai, Đạo Ca sáu : Lời Ru Bú Mớm Nâng Niu, Đạo Ca bảy: Qua suối mây Hồng, Đạo Ca tám : Giọt chuông cam Lộ, Đạo Ca chín: Chắp tay Hoa, và Đạo Ca mười : Tâm Xuân. Chưa kể trước và sau tuyển tập Đạo Ca này , nhạc sĩ Phạm Duy còn phổ hơn 10 bài thơ thiền khác của Phạm Thiên Thư cũng do tiếng hát Thái Thanh thể hiện như Em Lễ Chùa này, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, Huyền Thoại Tên Một Vùng Biển, Loài Chim Bỏ Xứ, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu và nhất là bài hát Ngày Xưa Hoàng Thị hẳn nhiều thế hệ đã qua đã được một lần được nghe qua.

Tiếng Hát Thái Thanh Trong Dòng Nhạc Đạo Ca

Thiền sư Thích Nhất Hạnh trước đây và cả sau này cũng có nhiều ấn tượng mạnh về giọng hát của Thái Thanh và những năm 80 Bà cũng từng đem tiếng hát của mình đến Làng Mai hát phục vụ. Thiền Sư Thích Nhất Hạnh có nói một câu rất sâu đậm ý nghĩa về giọng hát của Bà “Nếu ta nghiêng mình lệch đi một tí, bình diện với thời gian thay đổi thì cô Thái Thanh đã ở bên kia tự bao giờ rồi, ví dụ năm ngàn năm về trước năm ngàn năm vế sau” (Nguồn: Chánh Quán).

Đó là những dấu ấn trong sự nghiệp ca hát của ca sĩ Thái Thanh có liên quan đến Phật giáo và chúng ta vẫn tự hào nói về điều đó mỗi khi nhắc đến anh ca Thái Thanh – Tiếng Hát Vượt Thời Gian đã từng thả những thanh âm, thanh thoát của mình trên từng phím đàn có bóng dáng của những Càn-Thát-Bà và chim ca -lăng-tần-già vút cao giữa trời mây.

Không gì hơn, với những người con Phật, xin góp lời cầu nguyện hương linh Bà an dựa chốn cửu phẩm liên đài. Tiếng hát Phật Giáo Việt Nam của Bà vẫn còn vang vọng đó đây, trên đất nước này.

Tác giã : Dương Kinh Thành

Tiểu Sử Nhạc sĩ Phạm Đình Chương

1019 views

Phạm Đình Chương (1929 – 1991) là một nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc Việt từ 1950 trở đi. Riêng về lãnh vực sáng tác, ông được coi như một tên tuổi lớn của tân nhạc Việt Nam. Ngoài ra ông còn là một ca sĩ của ban hợp ca Thăng Long với biệt hiệu là Hoài Bắc.

Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, cả hai thân sinh ra ông đều chơi nhạc cổ truyền. Thân phụ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.

Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.
Ông được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn vẫn là tự học. Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng các anh em Phạm Đình Viêm, Phạm Thị Quang Thái và Phạm Thị Băng Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV.

Phạm Đình Chương và ban hợp ca Thăng Long
Phạm Đình Chương và ban hợp ca Thăng Long

Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947, khi 18 tuổi, với tác phẩm đầu tay là ca khúc Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng. Năm 1951 ông và gia đình chuyển vào miền Nam. Với các anh em Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng ông thành lập ban hợp ca Thăng Long danh tiếng. Trong thập niên 50, ông đã viết những tác phẩm thành công và để đời như Ly Rượu Mừng, Xuân Tha Hương, Thủa Ban Đầu, Tiếng Dân Chài v.v.. Đáng kể nhất là trường ca bất hủ Hội Trùng Dương mà ông viết về đất nước Việt Nam hoa gấm, qua ba bài ca nói về sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long. Theo như lời ông đã nói với gia đình, trường ca này đã phải tốn mất 4 năm để hoàn tất.

Một sáng tác lãng mạn và để đời thứ hai trong thập niên 50 đã gắn liền vào tên tuổi Phạm Đình Chương, đó là ca khúc bất hủ phổ thơ Đinh Hùng nhan đề Mộng Dưới Hoa. Riêng nói về Mộng Dưới Hoa, ca khúc này đã theo năm tháng để trở thành một trong những bài tình ca được ưa chuộng và hát nhiều nhất của nhạc Việt. Qua khía cạnh chuyên môn, nhất là về lãnh vực nhạc phổ từ thơ, ta cứ đọc phần phê bình và ca ngợi của nhạc sĩ Vũ Thành sau đây. Nhạc sĩ Vũ Thành viết: “Tác phẩm thành công nhất của Phạm Đình Chương, theo tôi, là Mộng Dưới Hoa, thơ Đinh Hùng phổ nhạc. Nét đặc thù của tác phẩm này là hơi nhạc tuy rất Việt Nam, mà lại được viết theo âm giai tây phương, chứ không cần đến ngũ cung như hầu hết các sáng tác có âm hưởng thuần túy Việt Nam khác. Ngoài ra, Mộng Dưới Hoa còn đặc biệt ở điểm rất cân đối và được cấu tạo như cung cách một bản nhạc “mẫu” trong các sách giáo khoa về sáng tác. Mộng Dưới Hoa còn đáng được coi là một kỳ công vì phổ nhạc vào thơ Việt Nam là một việc cực khó. Người phổ nhạc chẳng những phải lệ thuộc vào số chữ mà còn phải lựa cung bậc cho đúng luật bằng trắc của bài thơ, không như trường hợp phổ nhạc thơ Pháp hay thơ Anh, chỉ cần theo đúng số chữ mà thôi. Vì vậy, thường thường các bài thơ Việt Nam được phổ nhạc đều viết theo thể tự do, không gò bó, thì mới theo sát được [âm] bằng trắc của từng chữ. Làm theo thể mẫu hết sức cân đối mà vẫn giữ đúng được bằng trắc của từng chữ, ta phải ngả nón trước Phạm Đình Chương.

Bìa bản nhạc Xóm Đêm

Trong thập niên 60, ông đã sáng tác một loạt ca khúc phổ thơ rất thành công và được yêu chuộng như Nửa Hồn Thương Đau, Ngợi Ca Tình YêuĐêm Màu Hồng (thơ Thanh Tâm Tuyền), Khi Cuộc Tình Đã Chết (Du Tử Lê), Người Đi Qua Đời Tôi (Trần Dạ Từ) và nổi bật nhất là ca khúc Đôi Mắt Người Sơn Tây (Quang Dũng). Từ đó, Phạm Đình Chương thường được cho là một trong những nhạc sĩ phổ thơ hay nhất. Giai đoạn này cũng là lúc ông lập ra phòng trà tên gọi Đêm Màu Hồng và với ban hợp ca Thăng Long, đã biến nơi này thành chỗ hội tụ của các văn nghệ sĩ đương thời.

Thái Thanh hát Hội Trùng Dương

Sau biến cố 1975, Phạm Đình Chương vượt biên sang định cư tại California, Hoa Kỳ vào năm 1979. Ông định cư tại quận Cam cùng gia đình từ đó. Tại khoảng thời gian sống tại Hoa Kỳ, ông đã viết một số ca khúc cuối cùng, gồm những tác phẩm phổ thơ như Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn, Quê Hương Là Người Đó, Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển (phổ thơ Du Tử Lê), Hạt Bụi Nào Bay Qua (Thái Tú Hạp) v.v.. Ngoài ra, ông đã hoạt động rất thành công qua những buổi trình diễn tại các cộng đồng người Việt trên toàn thế giới.

Vào mùa hè năm 1991, ông lâm bệnh và qua đời vào ngày 22 tháng 8 năm 1991 tại quận Cam, California, hưởng dương được 62 tuổi. Theo như gia đình ông kể lại, sau khi người anh của ông là nghệ sĩ lão thành Hoài Trung qua đời tám năm sau đó, vào một buổi sáng nắng ấm năm 1998 tại miền nam Cali, gia đình ông đã đem cốt của hai ông và rải ngoài biển, như trong một ca khúc ông viết trong thời gian cuối cùng, nhan đề “Khi Tôi Chết, Hãy Đem Tôi Ra Biển”, phổ từ thơ của thi sĩ Du Tử Lê.

Danh sách các tác phẩm do nhạc sĩ Phạm Đình Chương viết gồm có :

01 – Anh đi chiến dịch (1962)
02 – Bài ca tuổi trẻ (1950)
03 – Bài ngợi ca tình yêu (thơ Thanh Tâm Tuyền)
04 – Bên trời phiêu lãng (thơ Hoàng Ngọc Ẩn)
05 – Buồn đêm mưa (thơ Huy Cận)
06 – Cho một thành phố mất tên (thơ Hoàng Ngọc Ẩn)
07 – Dạ tâm khúc (thơ Thanh Tâm Tuyền)
08 – Đất lành
09 – Đêm cuối cùng
10 – Đêm màu hồng (thơ Thanh Tâm Tuyền)
11 – Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê)
12 – Đến trường
13 – Định mệnh buồn – Phạm Thành
14 – Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng)
15 – Đón xuân
16 – Đợi chờ (viết với Nhật Bằng)
17 – Được mùa
18 – Hạt bụi nào bay qua (thơ Thái Tú Hạp)
19 – Heo may tình cũ (thơ Cao Tiêu)
20 – Hò leo núi
21 – Trường ca Hội Trùng Dương
22 – Khi cuộc tình đã chết (thơ Du Tử Lê)
23 – Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển (thơ Du Tử Lê)
24 – Khúc giao duyên
25 – Kiếp Cuội già
26 – Lá thư mùa xuân
27 – Lá thư người chiến sĩ
28 – Ly rượu mừng
29 – Mắt buồn (thơ Lưu Trọng Lư)
30 – Mầu kỷ niệm (ý thơ Nguyên Sa)
31 – Mỗi độ xuân về
32 – Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng)
33 – Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn)
34 – Mười thương
35 – Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ)
36 – Nhớ bạn tri âm
37 – Nửa hồn thương đau (ý thơ Thanh Tâm Tuyền)
38 – Quê hương là người đó (thơ Du Tử Lê)
39 – Ra đi khi trời vừa sáng (lời Phạm Duy)
40 – Sáng rừng
41 – Ta ở trời tây (thơ Kim Tuấn)
42 – Thằng Cuội
43 – Thuở ban đầu
44 – Tiếng dân chài
45 – Trăng Mường Luông
46 – Trăng rừng
47 – Xóm đêm
48 – Xuân tha hương

Nguồn từ : phamdinhchuong.com

Tuyệt phẩm “Mùa thu chết” và Julie Quang

465 views

Sau người vợ đầu Julie, Duy Quang có nhiều bóng hồng khác trong đời mình nhưng ngày anh nằm ở bệnh viện Hoa Kỳ vì căn bệnh ung thư gan, cũng vẫn Julie là người sớm hôm túc trực bên giường bệnh.
Julie sinh năm 1951, mang hai dòng máu Việt – Ấn. Cha cô là một người lính trong quân đội Pháp tham chiến tại VN (trước năm 1954). Mẹ cô tên Phạm Thị Hoài quê ở Cần Thơ, khi Julie vừa tròn 1 tuổi thì mẹ con cô phải theo ông bố qua Pondichery (Ấn Độ). 5 năm sau bà mẹ mới đưa mấy chị em cô trở về VN sống với ông bà ngoại.
Đàn con của bà Hoài vẫn “tiếp tục phát triển” và Julie là chị cả của 5 đứa em còn lại. Lúc này gia đình cô rất nghèo, thiếu thốn đủ thứ nhưng mẹ cô vẫn tằn tiện cho cô theo học trường Tây và không hề tiếc tiền khi phải chắt chiu từng đồng mua cho cô rất nhiều bài hát để cô sưu tầm cũng như tập dượt. Julie nói và hát được thông thạo tiếng Pháp và tiếng Anh (dĩ nhiên cả tiếng Việt nữa!)

Được sự khuyến khích của mẹ (đang lúc vấn đề kinh tế thúc bách) Julie bước vào con đường nghệ thuật bằng cách đi hát với những ban nhạc trẻ vào những năm cuối thập niên 60. Cô hát nhạc Anh, Pháp cho các căn cứ quân đội Hoa Kỳ ở Long Bình, Biên Hòa, Nha Trang, Ban Mê Thuột, Tân Sơn Nhất… Và trong một lần đi hát như thế, cô đã gặp Duy Quang. Trong Tự truyện Môi son Julie, cô đã viết:

“… Thời gian khởi đầu ca hát, những năm cuối thập niên 1960, tôi tuổi teen như con thiêu thân, tự mình chắp đôi cánh nhung thiên thần “lao vào lửa”. Tự mình lao vào hát nhạc Pháp nhạc Anh cho các căn cứ quân đội Hoa Kỳ ở Long Bình, Biên Hòa, Nha Trang, Ban Mê Thuột, Tân Sơn Nhất… Lúc đó tôi nào biết Duy Quang là con trai nhạc sĩ Phạm Duy.
Câu hát đầu tiên trên môi anh ngọt: “Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây. Lòng anh mở với quạt này. Trăm con chim mộng về bay đầu giường …” (Ngậm Ngùi, thơ Huy Cận, nhạc P.D). Làm sao em quên được nỗi hạnh phúc run rẩy khi hai đứa lần đầu tiên cắn vào trái cấm.
Đây là thời kỳ trăng mật của hai chúng mình. Em nhớ không sai. Hai chúng ta ra Nha Trang để được Tự Do yêu mà không bị giám sát bởi gia đình…
Hai trẻ chắt chiu dành dụm được một số tiền để mua lại một số dụng cụ âm thanh, đàn trống, do những ban nhạc Mỹ khi về nước họ để lại.
Và chúng tôi đã thành lập ban nhạc gia đình: The Dreamers. Nhờ Chàng, tôi bắt đầu tập ca nhạc Việt. Không bao lâu sau, tôi được khán thính giả Việt biết đến với bài Mùa Thu Chết, nhạc Phạm Duy phổ thơ Apollinaire. Rồi tôi bắt đầu nổi danh với một lọat tình ca thời chinh chiến…
”.

Mùa thu chết - Julie Quang

Như vậy, Duy Quang gặp và yêu Julie, rồi khi lập ban nhạc The Dreamers chàng đưa nàng về nhập nhóm và Julie trở thành một thành viên chính thức trong đại gia đình Phạm Duy.
Julie kể trong tự truyện Môi son Julie rằng: Thuở đầu đời mới làm quen với nhạc Việt và khán thính giả Việt qua nhạc ngoại quốc lời (Việt) của Phạm Duy, cô chỉ được biết đến qua cái tên rất ngắn gọn: Julie…
Cô cũng không biết Bùi Giáng là ai, dù lúc đó ông ấy đã là một “thi sĩ lẫy lừng tên tuổi, một thiên tài trong Thi văn nước Việt” (nguyên văn). Cô không thuộc thơ, cho nên cũng chưa bao giờ nghe nói tới “ông thi sĩ ngoại quốc Guillaume Apolinaire”…
Cho đến một hôm thi sĩ Bùi Giáng đến thăm nhạc sĩ Phạm Duy. Bố Phạm Duy khoe với thi sĩ: “Để Moi bảo bọn nhỏ đàn hát cho Toi nghe! Julie, con hát bài “Vòng tay nữ sinh” và bài “Hai khía cạnh cuộc đời nhé!” (tức ca khúc To Sir With LoveBoth Sides Now – cả 2 bài đều do P.D đặt lời Việt-NV).
Trong lúc Julie hát thì Bùi Giáng cầm cây bút chì hí hoáy vào một tờ giấy… Rồi ông khen Julie hát hay, và nói: “Ông và Bố sẽ có bài hát dính liền với tên con!
Mà “dính” thật! – khi Julie đang hát thì ông dịch bài thơ L’autaumne est morte của thiên tài Guillaume Apolinaire ra tiếng Việt tại chỗ, và cũng trong ngày hôm ấy “Phù thủy” Phạm Duy đã cho ra đời ca khúc Mùa thu chết. Dĩ nhiên, bài hát này ông dành cho giọng ca của Julie.

Ca khúc Mùa thu chết cũng là bài hát đầu tiên của Julie được thu thanh vào đĩa nhựa. Tuy nhiên Cô Sáu – chủ hãng đĩa Việt Nam đã yêu cầu Julie phải có một cái tên Việt, để những người Việt ở tận vùng nông thôn cũng có thể đọc được, gọi tên được…
Khi Julie còn đang lúng túng, chưa nghĩ ra được một cái tên Việt cho mình, thì đã thấy xuất hiện trên bao bì đựng đĩa (và cả in trên đĩa nhạc) cái tên Julie Quang. Đó là quyết định của “Bố già” Phạm Duy. Julie nói: “Bố ghép tên chúng tôi lại, như một lời chúc phúc cho đôi trẻ”.

Julie Quang nói về Mùa thu chết như sau: “Mùa thu chết là một kết hợp của Thi Ca – East meets West (Đông Tây gặp gỡ) – thai nghén và sinh ra bởi những Cổ Thụ như Apolinaire, Bùi Giáng và Phạm Duy thì làm sao không đáp ứng được nhu cầu Thời Thế. Duyên may cho tôi kết tụ tại đấy… Là người chuyên chở bài hát chẳng đánh Bắc dẹp Nam hay cậy mình tài giỏi, tôi tin rằng đã có người hát hay hơn mình, và sẽ có người thể hiện bài Mùa thu chết “tới” hơn Julie Quang…”.

Ca khúc Mùa thu chết và cái tên Julie Quang được khai sinh cùng lúc như một định mệnh, lời của bài hát hình như cũng vận vào cuộc tình của hai người: Duy Quang và Julie…
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo.
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi…
Em nhớ cho: đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa trên cõi đời này…
Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo.
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em…

(viết đến đây, tôi nhớ hồi các ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy mới được phép hát lại (đầu những năm 2000) và Công ty Văn hóa Phương Nam đã mua độc quyền các bài hát (được cấp phép) của ông thì có một chiến dịch chống đối của các nhạc sĩ phía Bắc diễn ra một cách rất khiên cưỡng và hàm hồ. Tiêu biểu là nhạc sĩ Nguyễn Lưu đã viết một bài báo, trong đó cho rằng ”đỉnh điểm của tư tưởng chống phá Cách Mạng của P.D là viết bài hát Mùa thu chết. ”Mùa thu chết” chính là Cách mạng mùa Thu”- (tức Cách mạng tháng 8). Suy luận như thế thật… khôi hài. Sau đó báo Thanh Niên đã đăng một bài “phản pháo” chỉ rõ những lỗ hổng kiến thức của nhạc sĩ Nguyễn Lưu, ông này biết “bị hớ” nên im re!).

Nhưng Julie Quang đâu chỉ hát có mỗi Mùa thu chết. Cô còn hát nhiều ca khúc khác của Phạm Duy như: Giết người trong mộng, Huyền thoại trên một vùng biển, Một ngày một đời, Thu ca điệu cô đơn, Thú đau thương, Tưởng như còn người yêu (phổ thơ Lê Thị Ý), Nước mắt mùa thu… và cả Mùa thu còn đó (Châu Kỳ), Số phận bẽ bàng (Thanh Phong)… Nói chung, giọng của Julie Quang thích hợp với những bản nhạc buồn thật buồn và đã để lại dấu ấn “Julie Quang” trong lòng khán giả mộ điệu.

Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, Duy Quang đã viết ca khúc Bài thơ vu quy (phổ thơ Tuệ Mai), bìa là ảnh ca sĩ Julie Quang trong trang phục cô dâu mặc áo váy, đội khăn voan trắng muốt… Họ có với nhau một con gái tên Lylan.
Rồi ly thân “Chẳng còn nhìn nhau nữa…” vì một lý do rất nhạy cảm. Julie Quang lấy lại cái tên ban đầu: Julie!
Mùa Giáng sinh năm 1974, Julie Quang sang Pháp và ở lại đó bởi những thay đổi ở quê nhà. Duy Quang và 3 em trai cũng kẹt lại VN trong khi bố mẹ cùng với 4 em nhỏ của anh đã qua Mỹ. Đó là một giai đoạn đầy khó khăn, Duy Quang phải trân mình tìm chỗ đàn hát để tự tồn tại và nuôi sống các em. Ngoài khả năng về ca nhạc, anh đâu biết nghề nghiệp gì khác, nhưng để được đàn hát cũng không phải dễ, đôi khi anh còn bị tủi nhục vì sự nghi kỵ vì anh là con của “ông Trùm”!
Tuy đã ly thân nhưng đến năm 1978, Julie vẫn bảo lãnh Duy Qung qua Pháp. Một thời gian sau (1980), anh qua Mỹ để đoàn tụ cùng gia đình.

Mùa thu chết - Julie Quang

Những ngày cuối cùng của Duy Quang và…

Khi phát hiện mình bị ung thư gan ác tính, nhiều bạn bè lo lắng còn Duy Quang thì vững vàng bảo: “Chắc không sao đâu, mình sang Mỹ sẽ có thuốc hay, rồi chắc qua khỏi thôi”. Và khi căn bệnh đã cướp dần sinh lực của Duy Quang, anh mới được người bạn thân là bác sĩ đưa sang Mỹ điều trị. Tại đây, Duy Quang nằm tại Bệnh viện Orange Coast nhưng tình trạng sức khỏe anh ngày một xấu đi.

Điều cảm động là khi hay tin Duy Quang nhập viện với tình trạng sức khỏe rất xấu, Julie – người tình đầu tiên của anh cùng với con gái (Phạm Lylan) đã bỏ hết công việc để vào bệnh viện chăm sóc anh. Dưới đây là những đoạn hồi ký trích trong Son môi Julie:
“… Cô y tá bước vào phòng bệnh nhân thay thuốc và chào mọi người buổi sáng .
Trong phòng người thăm hầu hết là thân nhân.
– Đau quá. Duy Quang nói.
– Anh lập lại: “Ôi đau quá
”.

Mọi người hoảng hốt không biết anh đau ở mô ?
– Anh đau đâu ? Cô y tá hỏi.
– Anh để tay lên ngực: “Đau lòng”. Anh nói.
Anh vẫn thích đùa đến giờ phút cuối. hẳn nhiên là anh không chọn nhìn thấy chúng ta phân ưu bịn rịn thế này.
Lúc này vẫn chưa phải là vĩnh viễn không còn nhìn thấy nhau để nói câu giã từ vĩnh biệt… Vì em tin rằng không giã từ có nghĩa là một ngày nào đó chúng ta lại gặp nhau trên một con đừờng khác có âm nhạc cho 2 ta cùng song ca như thuở trước. Có các em đàn trống theo sau. Có Thái Hiền chờ anh tập hát…
Anh còn là thần tượng của Bố đấy, anh biết không. Bố xây Tượng đài cho anh từ lâu, có lẽ từ bài hát đầu tiên Thà như giọt mưa, thơ Nguyễn Tất Nhiên. Bố tôn giọng hát của anh thành thần tượng trong lòng âm nhạc của Bố. Trong suốt chặng đường dài cống hiến cho cuộc đời, từng bài hát Bố sáng tác cho riêng anh hát là từng khối Đá vàng nạm kim cương, làm bục bệ, để con trai Bố trở thành ngôi sao lấp lánh trong lòng người hâm mộ …
Và sắp tới đây người ta sẽ được nghe anh hát những bài hát cuối đời. Trong loạt bài hát phổ thơ Bích Khê này, Chàng hát thật đắm say, thật lạ, thật hay, như kể chuyện cho chỉ một người nghe… một Chuyện dài…

(Julie chăm sóc Duy Quang được 44 ngày. Đến 11 giờ 39 sáng ngày 19/12/2012 tại Bệnh viện Orange Coast- giờ Hoa Kỳ, anh đã về cõi vĩnh hằng-NV).
Tang lễ anh… Con gái Lylan và tôi không có mặt trong đám tang anh. Với bạn bè là một điều khó hiểu. Tôi khó lòng giải thích điều này trong lúc này. Mong có dịp thuận tiện để giải bày.
Riêng với các khán thính giả và bạn đọc, xin tạ lỗi …
Bởi trong đời có những nỗi rất riêng, không thể chia sẻ cùng ai. Tôi xin giữ lại cho riêng mình.
Tôi xem tang lễ qua TV.
Tang lễ anh và cũng là show diễn cuối cùng
Có khán giả có đại gia đình, có MC, có ca sĩ, có báo chí bạn bè thân hữu … rộn lên cả phố Bolsa.
Nhưng trong show diễn cuối cùng, anh không diễn. Anh làm khán giả. Một Duy Quang khán giả nằm yên đó ngắm nhìn.
Chợt nhớ một buổi chiều sau khi anh đã nằm trong lòng đất, tôi đi thăm nghĩa trang. Sau đó tôi viếng mộ mẹ Thái và mộ bác Mai Thảo. Trên mộ bác Mai Thảo người ta khắc lại bốn câu thơ của ông.
Tôi thấy bốn câu thơ cũng đã đúng cho anh vào những phút giây nào đó …
Thế giới có triệu điều không hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao khi đã nằm trong đất
Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi

(Trích “Tự truyện Son môi Julie)
Hà Đình Nguyên

Chương Trình Dạ Lan 19 – Dáng Xưa

446 views

Chương Trình Dạ Lan 19 mang tên “Dáng Xưa” với những giộng ca hàng đầu của làng nhạc Việt hải ngoài: Hoàng Oanh, Ngọc Lan, Tuấn Vũ, Hương Lan, Ngọc Mai, Băng Châu…

Vài dòng tâm sự về “Chuyến đò vỹ tuyến” của nhạc sĩ Lam Phương

741 views

Nếu như Câu hò bên bờ Hiền Lương là tiếng lòng của người dân Việt ở bờ bắc sông Bến Hải thì Chuyến đò vỹ tuyến là tiêu biểu cho tâm tình của những người anh em ở bờ Nam.
Nhạc sỹ Lam Phương sáng tác bản Chuyến đò vỹ tuyến độ năm 1956-1957, khi cuộc tổng tuyển cử để thống nhất hai miền đã gần như đi vào ngõ cụt và sự chia cắt không biết bao giờ mới chấm dứt.
Sinh năm 1937, nhạc sỹ Lam Phương khi đó chỉ mới là chàng trai trẻ, vừa tròn 20 tuổi. Thế nhưng qua nét nhạc tài tình và một tâm hồn nhạy cảm với hoàn cảnh đau thương của dân tộc, ông đã cho ra đời một nhạc phẩm để đời mà 60 năm sau, khi các “vết thương chia cắt” đã lành thì “Chuyến đò vỹ tuyến’ vẫn mãi là khúc ca êm đềm ‘sưởi ấm cõi lòng“.
Khi nhắc đến Chuyến đò vỹ tuyến sẽ là một thiếu sót nếu như không nhắc đến ca sỹ Hoàng Oang, người đã gắn liền tên tuổi trong hơn 40 năm qua với bản này. Có lẽ Hoàng Oanh không phải là ca sỹ đầu tiên thể hiện Chuyến đò vỹ tuyến vì cô sinh năm 1950 mà thời điểm bản nhạc ra đời là khoảng 1956-1957. Tuy nhiên có một điều mà không một thính giả yêu nhạc xưa nào phủ nhận là Hoàng Oanh là người thể hiện thành công và lột tả được cái hồn của bản nhạc.

(Theo Dòng Nhạc Xưa)

Chuyện về “Đêm Tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước

514 views

Lời 1:

Ai về bến Ngự cho ta nhắn cùng
Nhớ chăng non nước Hương Bình!
Có những ngày xanh,
Lưu luyến bao tình,
Vương mối tơ mành!

Hàng cây soi bóng nước Hương,
Thuyền xa đậu bến Tiêu Tương
Lưu luyến thay phút say hương dịu buồn.
Nhưng thoảng nghe khúc ca Nam Bình sầu than!
Như nức nở khóc duyên bẽ bàng!
Thấp thoáng trăng mờ,
Ai than ai thở đời vui chi trong sương gió.
Ai nhớ thương ai!
Đây lúc đêm tàn, tình đã lạt phai.

Thuyền ơi đưa ta tới đâu ?
Tìm trăng, trăng khuất đã lâu,
Sương xuống trên bến cô liêu, thêm sầu.
Bèo nước gió mây đêm ngắn tình dài.
Có ai nhớ, ai nơi giang đầu.

Lời 2:

Ai về bến Ngự cho ta nhắn cùng.
Bến xưa non nước Hương Bình
Những phút tàn canh
Vương vấn bao tình,
Ai rứt sao đành.

Thuyền mơ trong khúc Nam Ai,
Đàn khuya trên sông ngân dài.
Ai luyến ai tiếc khúc ca Tần Hoài!
Ôi! vẳng nghe tiếng ai âm thầm trầm ngân
Như nhắn nhủ mối duyên thờ ơ,
Sông nước lững lờ,
Ai mong ai chờ đời vui chi trong sương gió.
Đây phút cô đơn
Ai oán cung đàn sầu vọng trần gian.

Thuyền ơi, đưa ta tới đâu!
Hồn thơ vương vấn canh thâu,
Thương tiếc chi phút bên nhau thêm sầu.
Bao kiếp giang hồ ly biệt thường tình.
Có ai nhớ ai nơi Hương Bình.

 

Minh Trang x Dương Thiệu Tước
Trong làng âm nhạc Việt Nam, những cô gái xứ Huế từng là nguồn cảm hứng cho không biết bao nhạc phẩm ra đời. Như trong âm nhạc Trịnh Công Sơn, ngoài nhạc phẩm “Chiều trên phá Tam Giang”, còn lại gần như không hề có một danh từ nào chỉ địa danh Huế. Ấy nhưng người ta vẫn nhận ra Huế bàng bạc trong ca từ của ông. Và nữa, thật nhiều những bóng hồng xứ Huế, ví như thật mơ hồ “vai em gầy guộc nhỏ, như cánh vạc về chốn xa xôi”, và có khi thật rõ ràng không trộn lẫn với “Diễm xưa” huyền thoại… Có một câu chuyện khác ít người biết, nàng “Thu Hương” của Huế những năm 1940 đã khiến nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác bài tình ca đầu tiên “Hương giang dạ khúc” theo phong cách dân ca Huế. Đó là một ca khúc hiếm hoi nhạc sĩ lừng danh này viết về miền sông Hương núi Ngự…

Lạ lùng thay, cũng trong những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ 20, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (sinh năm 1915, quê Hà Đông, Hà Nội) có một chuyến rời Hà Nội đến Huế rồi vào Sài Gòn; để rồi từ Huế, âm nhạc Dương Thiệu Tước được chắp cánh bởi lời ca của một người con gái Huế, ca sĩ Minh Trang.

Huế ngày ấy ắp đầy màu tím biếc thành quách cổ kính rêu phong, lưu dấu bao tình. Sông Hương ngày ấy, bãng lãng mây chiều với những con đò như chiếc lá chầm chậm trôi giữa lau lách ven sông và những bóng cây cổ thụ ven bờ. Sông Hương ngày ấy, vầng trăng như mắt người thương xa vắng u hoài, buồn đến trĩu lòng như câu thơ của đại thi hào Nguyễn Du: “Hương Giang nhất phiến nguyệt, kim cổ hứa đa sầu” (Một mảnh trăng trên sông Hương, xưa nay gợi biết bao mối sầu)… Khung cảnh Huế đầy mộng mơ, khiến tâm hồn lãng tử của Dương Thiệu Tước như dây đàn tơ rung trước gió, những giai điệu như chỉ cần một bàn tay mềm mảnh mai chạm tới, sẽ trào ra con sóng trên sông Hương.

Huế vào cuối thế kỷ 19, người ta biết nhiều đến Bà Chúa Nhứt là chị ruột vua Thành Thái. Bà là người dòng dõi song tính tình rất nghệ sĩ, không câu nệ, nuôi hẳn cả một ban nhạc trong nhà. Bà Chúa Nhứt chính là bà ngoại của ca sĩ Minh Trang. Do cha thường đi kinh lý xa nhà, Minh Trang thường được gần gũi với bà ngoại và từ nhỏ đã thuộc nhiều làn điệu dân ca Huế như Nam Ai, Nam Bình, Kìm Tiền, Lưu Thủy… Những năm 40, tiếng hát của Minh Trang phát trên sóng phát thanh hay đến nổi nhiều nhạc sĩ miền Bắc hồi đó đã gửi bài hát về nhờ ca sĩ hát, trong đó có các nhạc sĩ Vũ Thành, Hoàng Giác, Nguyễn Văn Khánh, Thẩm Oánh… và cả Dương Thiệu Tước. Rồi như duyên tiền định, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước bất ngờ gặp ca sĩ Minh Trang trong một lần ca sỹ ra Hà Nội hát, mở ra một kết cục có hậu sau này cho cuộc tình nghệ sĩ.

Quay trở lại thời gian dừng chân ở Huế, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sưu tầm và ký âm rất nhiều làn điệu dân ca Huế. Cũng trong thời gian này, Dương Thiệu Tước đã có những ca khúc trữ tình mang âm hưởng dân tộc, trong đó có cả nhạc phẩm “Tiếng Xưa”, mở đầu cho nhiều ca khúc mang âm hưởng dân tộc sau này. Sau những ngày lênh đênh trên sông Huế, Dương Thiệu Tước quyết định rời Cố đô vào Sài Gòn sinh sống.

Trước ngày lên đường, Dương Thiệu Tước được bạn bè tổ chức nhiều cuộc rượu tiễn đưa. Đêm cuối cùng rời Huế, chiếu rượu giang hà ngập sương trăng được một người bạn bày ra trong một con thuyền trôi trên sông Bến Ngự. Cho đến khi vầng trăng hạ tuần lên đầu non về sáng, Dương Thiệu Tước chợt nhiên đứng dậy, ra đầu mũi thuyền ngồi một mình, mắt suy tư nhìn ra cửa sông mơ hồ bãng lãng. Nhạc hứng bỗng từ đâu giữa trời đầy trăng sao sông nước dâng lên, Dương Thiệu Tước vội vàng lấy giấy ra ghi lại ngay bên mạn thuyền. Nhạc sĩ viết một mạch xong ca khúc, trở vào khoang thuyền đặt bài hát vừa hình thành dưới ngọn đèn dầu và cất tiếng ca tặng bạn. Những người tham dự cuộc rượu tiễn đưa lòng ai nấy đều nao nao trong ánh trăng sáng ven trời. Dương Thiệu Tước hát xong liền đặt tên cho sáng tác mới này là “Đêm tàn Bến Ngự”.

Với người Huế ly hương thì bài hát này khiến họ phải tê buốt lòng, mong ngóng về cố xứ. Nhạc sĩ Phạm Duy nhận xét: “Dương Thiệu Tước ít khi chịu rời khỏi lĩnh vực nhạc tình tứ và cao sang đặc biệt của ông. Về sau, khi nhạc dân ca được coi như phản ánh đúng tâm hồn dân tộc, Dương Thiệu Tước quay hẳn về nhạc ngũ cung để cống hiến những bài hát bất hủ như “Tiếng xưa”, “Đêm tàn Bến Ngự”… Năm 1960, khi viết về Dương Thiệu Tước trong cuốn “Nhạc sĩ danh tiếng hiện đại”, nhạc sỹ Lê Hoàng Long đã xếp “Đêm tàn Bến Ngự” là nhạc phẩm có giá trị vĩnh cửu hay nhất của Dương Thiệu Tước.

Ngày 1/8/1995, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước vĩnh viễn ra đi, để lại cho âm nhạc Việt Nam những ca khúc bất hủ: “Ai về Bến Ngự, cho ta nhắn cùng… Nhớ chăng…”. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi đến viếng ông đã viết: “Anh đã sống một cuộc đời thầm lặng và muốn lãng quên cuộc đời bằng cách xa lìa mọi hệ lụy của cuộc sống này để cưu mang một tình riêng dù đời có hiểu hay không. Anh sống như vậy cũng có một màu sắc riêng biệt của đời anh…”.

(Theo Thanh Ngọc)

70 năm tình ca Việt Nam – Kỳ 5 (Dương Thiệu Tước)

606 views

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sinh ngày 14.01.1915. Quê ông ở làng Vân Đình, quận Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây). Xuất thân từ một giòng họ khoa bảng. Ông là cháu nội cụ Dương Khuê (1836-1898). Cụ đỗ Tiến Sĩ và làm quan dưới triều Nguyễn. Cụ cũng là một nhà thơ có tiếng trong văn học Việt Nam. Thân phụ ông là cụ Dương Tự Nhu làm bố chánh tỉnh Hưng Yên. Mang máu nghệ sĩ trong người, ông chọn con đường âm nhạc ngay từ lúc ấu thơ. Có cái may là cụ Dương Tụ Nhu là người trọng văn học, không coi âm nhạc là “xướng ca vô loại”, nên ông đã được khuyến khích học nhạc từ lúc còn nhỏ. Cụ Nhu mua cho ông Đàn Nguyệt lúc ông 7 tuổi. Ngoài Đàn Nguyệt ông còn học thêm Đàn Tranh tại các bậc thầy miền Trung. Đến lúc 14 tuổi, ông bắt đầu chú ý đến nhạc Tây phương và chuyển qua học đàn dương cầm với một thầy người Pháp…

(Tiểu sử của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước sẽ được nói đến trong một bài tới)

70 năm tình ca Việt Nam – Kỳ 4 (Văn Cao) – Phần 2

396 views

Từ ca khúc đầu tay Buồn tàn thu, Văn Cao đã sử dụng ngũ cung để viết về một hình ảnh quen thuộc trong nghệ thuật châu Á: người phụ nữ đan áo ngồi chờ đợi. Sau Buồn tàn thu, ông còn viết hai ca khúc khác về mùa thu là Thu cô liêuSuối mơ. Trong đó Suối mơ vốn là một đoạn của bản Trương Chi 1 được Văn Cao phát triển thêm và cùng Phạm Duy hoàn tất.
Bên cạnh đề tài mùa thu, Văn Cao cũng viết hai ca khúc nổi tiếng khác về mùa xuân là Cung đàn xưaBến xuân. Nhạc phẩm Bến xuân có sự tham gia của Phạm Duy, nhưng về sau Văn Cao viết lại lời mới cho ca khúc này và đặt tên Đàn chim Việt

Phần 4 của chương trình « 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam » do Hoài Nam phụ trách và được phát trên đài phát thanh SBS ở Úc sẽ nói về nhạc sĩ Văn Cao.

70 năm tình ca Việt Nam – Kỳ 3 (Văn Cao) – Phần 1 về tình ca

187 views

Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại Lạch Tray (nay là phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền), thành phố Hải Phòng, nhưng quê gốc ở thôn An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Xuất thân trong một gia đình viên chức, cha của Văn Cao vốn là giám đốc nhà máy nước Hải Phòng. Thuở nhỏ, Văn Cao hoc ở trường tiểu học Bonnal, sau lên học trung học tại trường dòng Saint Josef, là nơi ông bắt đầu học âm nhạc. Năm 1938, khi mới 15 tuổi, vì gia đình sa sút, Văn Cao bỏ học sau khi kết thúc năm thứ hai bậc thành trung. Ông làm điện thoại viên ở sở Bưu điện tại Hải Phòng, nhưng được một tháng thì bỏ việc…
Trong giai đoạn sáng tác đầu tiên, giống như những nhạc sĩ tiền chiến khác, Văn Cao viết các nhạc phẩm trữ tình, nhưng ít ảnh hưởng bởi chủ nghĩa lãng mạn Pháp mà mang nặng âm hưởng phương Đông…

Phần 3 của chương trình « 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam » do Hoài Nam phụ trách và được phát trên đài phát thanh SBS ở Úc sẽ nói về nhạc sĩ Văn Cao.

Vài dòng về tiểu sử và tác phẩm của Nhạc Sĩ Hoàng Quý

322 views

Hoàng Quý sinh ngày 31.10.1920 tại Hải Phòng, là anh trai của Hoàng Phú, tức nhạc sĩ Tô Vũ. Theo Phạm Duy, Hoàng Quý từng là học trò của Lê Thương tại trường Trung học Lê Lợi ở Hải Phòng vào cuối thập niên 1930. Hoàng Quý theo học nữ giáo sư âm nhạc Leperète dạy nhạc ở các trường trung học ở Hải Phòng. Nhờ có năng khiếu và ham học, Hoàng Quý tiếp thu âm nhạc khá tốt, chỉ một thời gian sau trở thành giáo viên dạy nhạc của trường Bonnal.
Và vào năm 1939, đúng lúc phong trào Nhạc cải cách vừa ra đời, cùng với các ca nhạc sĩ tài tử ở đất Cảng lúc đó là Phạm Ngữ,Canh Thân và em trai Hoàng Phú, Hoàng Quý là người đầu tiên trình diễn nhạc Lê Thương tại Nhà hát Lớn Hải Phòng.
Suốt trong một thời gian từ năm 1943 cho tới 1945, Hoàng Quý đã quy tụ được một số bạn bè như Phạm Ngữ, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao, và Hoàng Phú lập thành nhóm Đồng Vọng cùng nhau sáng tác. Nhóm Đồng Vọng được nhà xuất bản Lửa Hồng rồi tạp chí Tri Tân ở Hà Nội giúp đỡ. Lửa Hồng đã ấn hành 12 tập nhạc, mỗi tập có từ 8 đến 12 bài như các tập: Bên sông Bạch Đằng, Nước non Lam Sơn, Tiếng chim gọi đàn, Bóng cờ lau, Nắng tươi, Chiều quê của Hoàng Quý, Về đồng quê của Văn Cao, Ngày xưa của Hoàng Phú… Tổng cộng Đồng Vọng đã sáng tác và ấn hành khoảng trên 60 ca khúc chủ yếu theo xu hướng nhạc hùng có nội dung ca ngợi đất nước, ca ngợi truyền thống anh hùng của dân tộc. Riêng về phần Hoàng Quý, đã soạn ra những bài ca giá tri như Trên sông Bạch Đằng, Gọi bạn lên đường, Tiếng chim gọi đàn, Bóng cờ lau, Nước non Lam Sơn, Lời vọng ngàn xưa, Dưới bóng thông xanh, Chiều xuân, Nắng tươi
Trước khi trở thành người soạn nhạc tiền đạo của xu hướng nhạc hùng, Hoàng Quý cũng đã đi vào lãnh vực nhạc tình, với những bài nhạc tình yêu như Tú Uyên, hay những bài nhạc tình quê như Chiều quê, Đêm trăng trên vịnh Hạ Long, Chùa Hương… mà nổi tiếng hơn cả là ca khúc bất hủ Cô láng giềng.
Cô láng giềng ra đời khoảng năm 1942-1943. Lúc đó Hoàng Quý rời Hải Phòng lên Sơn Tây để đến làm thư ký cho một trang trại nuôi bò. Chuyến ra đi đó anh đã phải chia tay với “bóng hồng” của mình. Khoảng 6 tháng sau, anh không làm việc ở Sơn Tây nữa và trước khi trở về Hải Phòng anh ghé thăm người em Hoàng Phú đang ở tại Hà Nội. Chính trong dịp này nhạc sĩ Hoàng Quý đã cho người em mình xem bài hát Cô láng giềng của ông.

Hôm nay trời xuân bao tươi thắm
Dừng gót phiêu linh về thăm nhà
Chân bước trên đường đầy hoa đào rơi
Tôi đã hình dung nét ai đang cười
Tôi mơ trời xuân bao tươi thắm
Đôi mắt trong đen màu hạt huyền
Làn tóc mây chiều cùng gió ngàn dâng sóng
Xao xuyến nỗi niềm yêu…

Nhạc sĩ Tô Vũ kể lại: “Với Cô láng giềng, anh tôi chỉ sáng tác lời 1. Đó là những vần thơ đầy lạc quan, phấn khởi khi chia tay người yêu và hy vọng một ngày trở về gặp nhau trong vui mừng. Còn lời 2 là do tôi sáng tác thêm, đó là cảnh chàng trở về, ngày có một đám cưới làng quê tưng bừng rộn rã của chính người yêu, và chàng buồn tình lặng lẽ ra đi… Thật ra lời 2 này không phải là tâm tư của Hoàng Quý mà do tôi hư cấu và Hoàng Quý đã đồng ý, xem như là một tác phẩm nghệ thuật chứ không phải là sự miêu tả một mối tình có thật, vì thực tế Hoàng Quý không có một bi kịch về tình yêu như nội dung của lời 2

Trước ngõ vào thôn vang tiếng pháo
Chân bước phân vân lòng ngập ngừng
Tai lắng nghe tiếng người nói cười xôn xao
Tôi biết người ta đón em tưng bừng…
Đành lòng nay tôi bước chân ra đi
Giơ tay buồn hái bông hồng tường vi
Ghi chút tình em nói chờ đợi tôi
Đừng nói tới phân ly.
Cô láng giềng ơi
Nay mối duyên thơ đành đã lỡ rồi
Chân bước xa xa dần miền quê
Ai biết cho bao giờ tôi về.

Về Hoàng Quý, Phạm Duy đã nhận xét: “Đánh giá Hoàng Quý không nên chỉ thu hẹp vào những sáng tác của ông, bởi vì sự hoạt động cho nền nhạc hùng còn là một điều khiến chúng ta phải ghi nhớ và ghi ơn. Ông là linh hồn của đám nhạc sĩ trẻ ở Hải Phòng, thúc đẩy mọi người sáng tác và ông làm cho những sáng tác đó có một đời sống hẳn hoi, nghĩa là in ra, hát lên trong những sinh hoạt hướng đạo hay học sinh của ông“. Văn Cao cũng thường nhắc tới Lê Thương và Hoàng Quý là hai nhạc sĩ có ảnh hưởng tới con đường âm nhạc của anh.
Hoàng Quý tham gia Việt Minh sớm, trong cao trào kháng Nhật cứu nước, nhà Hoàng Quý là cơ sở của một số người Việt Minh hoạt động bí mật ở Kiến An, Hải Phòng. Tháng 5-1944 Hoàng Quý viết bài Cảm tử quân, Sa trường hành khúc và tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Tháng 10-1945, Tiếng gọi non sông ra đời, mặc dù lúc này sức khỏe đã giảm sút nhiều. Đầu năm 1946, bệnh tình của anh ngày một nặng, nhưng Hoàng Quý vẫn tham gia các cuộc biểu tình, mít tinh ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh, phản đối Việt Quốc, Việt Cách.
Hoàng Quý qua đời ngày 26 tháng 6, 1946 vì một chứng bệnh nan y tại Hải Phòng, lúc 26 tuổi, khi tài năng của anh đang độ phát triển.

Một số tác phẩm tiêu biểu:

– Bóng cờ lau
– Cảm tử quân
– Chiều quê
– Chiều xuân
– Chùa Hương
– Cô lái đò
– Cô láng giềng
– Đêm trăng trên vịnh Hạ Long
– Đêm trong rừng
– Đợi chờ
– Dưới bóng thông xanh
– Gọi bạn lên đường
– Hương quê
– Lời vọng ngàn xưa
– Nắng tươi
– Nước non Lam Sơn
– Tiếng chim gọi đàn
– Trên sông Bạch Đằng
– Tú Uyên
– Xuân về

Vài dòng về tiểu sử và tác phẩm của Nhạc Sĩ Lê Thương

464 views

Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1914, tại phố Hàm Long, Hà Nội, trong một gia đình bố mẹ là những nghệ sĩ cổ nhạc. Một bài viết khác cho rằng Lê Thương sinh tại Nam Định. Chi tiết về cuộc đời ông rất ít được nhắc tới. Theo hồi ký của Phạm Duy, Lê Thương sinh năm 1913 và là một thầy tu nhà dòng hoàn tục.

Năm 1935, Lê Thương hành nghề dạy học ở Hà Nội, sau đó ông chuyển về dạy ở Hải Phòng. Lê Thương cùng Hoàng Quý, Hoàng Phú (tức nhạc sĩ Tô Vũ), Phạm Ngữ, Canh Thân tụ họp thành một nhóm ca nhạc sĩ trẻ để bắt đầu sáng tác và hát phụ diễn cho những buổi diễn kịch nói của nhóm kịch Thế Lữ tại Hải Phòng, hay theo ban kịch đi hát tại Hà Nội, Vĩnh Yên. Họ cũng là những hướng đạo sinh và hay tổ chức đi cắm trại hay đi hát tại các tỉnh lân cận bằng xe đạp.
Năm 1941, Lê Thương vào miền Nam. Ban đầu ông ở An Hóa, tỉnh Bến Tre, sau đó Lê Thương chuyển về sống tại Sài Gòn. Tuy là một nhạc sĩ tài danh, nhưng nghề chính của ông là dạy học. Ông từng là giáo sư Sử Địa, có một thời gian giảng dạy tại một số trường trung học tư ở Sài Gòn. Ông cũng từng là giáo sư Pháp ngữ tại trường trung học Pétrus – Ký vào thập niên 60. Lê Thương cũng từng làm công chức ở Trung tâm Học liệu, bộ Quốc gia Giáo dục và là giảng viên Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ thời Việt Nam Cộng hòa.
Lê Thương là một trong những nhạc sĩ Việt Nam tiên phong viết tân nhạc với bài Bản đàn xuân. Ngoài Bản đàn xuân, trong thời kỳ ở miền Bắc, Lê Thương còn sáng tác những tác phẩm khác như Tiếng đàn đêm khuya, Một ngày xanh, Trên sông Dương Tử, Thu trên đảo Kinh Châu
Từ khi vào miền Nam năm 1941, Lê Thương phổ thơ nhiều bài như Lời kỹ nữ (thơ Xuân Diệu), Lời vũ nữ (thơ Nguyễn Hoàng Tư), Bông hoa rừng (thơ Thế Lữ), Tiếng thùy dương(tức Ngậm ngùi thơ Huy Cận) và Tiếng thu (thơ Lưu Trọng Lư)…
Lê Thương là nhạc sĩ tiên phong của nhiều thể loại âm nhạc. Thời kỳ kháng chiến, ông có soạn một ca khúc rất nổi tiếng Lòng mẹ Việt Nam hay Bà Tư bán hàng nói về một bà mẹ thành phố có các con tham gia kháng chiến. Và bài hát đó là một trong những lý do Lê Thương bị Pháp bắt giam vào khám Catinat cùng Phạm Duy và Trần Văn Trạch vào năm 1951.
Lê Thương thuộc những người đầu tiên viết truyện ca và đã để lại những bản truyện ca hay nhất như Nàng Hà Tiên, Lịch sử loài người, Hoa thủy tiên… Đặc biệt hơn cả là bộ ba Hòn vọng phu, được xem như một trong những tác phẩm lớn nhất của tân nhạc Việt Nam. Văn Cao cũng từng thừa nhận ảnh hưởng bởi Lê Thương với phong cách âm nhạc bắt nguồn từ âm nhạc cổ truyền Việt Nam.
Lê Thương cũng là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết nhạc hài hước với những bản Hoà bình 48 (phê phán sự mỵ dân đội lốt hoà bình), Làng báo Sài Gòn (đả kích báo giới bồi bút, bất tài và ham tiền), Đốt hay không đốt (châm biếm máu Hoạn Thư), Liên Hiệp Quốc… Những bản này được nghệ sĩ Trần Văn Trạch trình diễn nhiều lần vào thập niên 1940. Lê Thương còn đặt lời cho những bản nhạc ngoại quốc ngắn như Nhớ Lào (nhạc Lào), Bông hoa dại tức Ô Đuồng Chăm Pá (nhạc Lào), Lòng trẻ trai (nhạc Hoa Kỳ), Hoa anh đào tức Sakura (cổ nhạc Nhật Bản), Màn Brúc đánh giặc (dân ca Pháp)…
Một thời gian, Lê Thương có cùng nhạc sĩ Lê Cao Phan phụ trách ban nhạc Măng Non cho trẻ em, phát thanh các truyện cổ tích, khúc dân ca, bài ca nhi đồng. Và cùng Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương được xem như những nhạc sĩ mở đầu của dòng nhạc dành cho thiếu nhi với những bản Tuổi thơ, Cô bán bánh, Con mèo trèo cây cau, Thằng bé tí non, Ông Nhang bà Nhang, Truyền kỳ Việt sử, Học sinh hành khúc… Nổi tiếng hơn cả là bài Thằng Cuội thường được trẻ em hát trong mỗi dịp tết Trung Thu, mặc dù nhiều người không biết đó là một ca khúc của nhạc sĩ Lê Thương:

Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mơ
Lặng yên ta nói Cuội nghe
Ở cung trăng mãi làm chi
Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mợ…

Ngoài âm nhạc, Lê Thương còn gia nhập vào ban kịch của Thế Lữ vào những năm thập niên 1930, và ban kịch Sầm Giang của Trần Văn Trạch khi ông sống ở Sài Gòn. Lê Thương đã sáng tác ca khúc cho nhiều kịch bản, và viết nhạc phim cho hãng phim Mỹ Vân.
Lê Thương lập gia đình cùng một phụ nữ học ở Pháp về và họ có 9 người con. Ông cũng có hai người tình, người tình đầu là một cô hát ả đào nổi tiếng ở Hà Nội. Người thứ hai là một vũ nữ tại Chợ Vườn Chuối Sài Gòn.
Sau 1975, ông không tham gia hoạt động văn nghệ. Vào thập niên 1990, ông bị mất hẳn trí nhớ và qua đời ngày 17 tháng 9 năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Một số tác phẩm tiêu biểu:
Bản đàn xuân, Bông hoa rừng, Cô bán bánh, Con mèo trèo cây cau. Đàn bao tuổi rồi, Đàn tình xưa, Đốt hay không đốt, Hoa thủy tiên, Học sinh hành khúc, Hòn vọng phu, Làng báo Sài Gòn, Lịch sử loài người 1 – 2, Lời kỹ nữ, Lời vũ nữ, Lòng mẹ Việt Nam, Một ngày xanh, Nàng Hà Tiên, Người chơi độc huyền, Nhớ Lào, Nhớ thày xưa, Ông Nhang bà Nhang, Ông Nỉnh, Ông Nang, Tâm sự ca nhân, Thằng bé tí non, Thu trên đảo Kinh Châu, Tiếng đàn đêm khuya, Tiếng thu, Tiếng thùy dương, Trên sông Dương Tử, Truyền kỳ Việt sử, Tuổi thơ, Xuân yêu đương

70 năm tình ca Việt Nam – Kỳ 2 (Hoàng Quý và Lê Thương)

184 views

Phần 2 của chương trình « 70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam » do Hoài Nam phụ trách và được phát trên đài phát thanh SBS ở Úc sẽ nói về hai nhạc sĩ: Hoàng Quý và Lê Thương.

Hoàng Quý sinh năm 1920 tại Hải Phòng, anh là anh trai của Hoàng Phú, tức nhạc sĩ Tô Vũ. Theo Phạm Duy, Hoàng Quý từng là học trò của Lê Thương tại trường Trung học Lê Lợi ở Hải Phòng vào cuối thập niên 1930. Hoàng Quý theo học nữ giáo sư âm nhạc Leperète dạy nhạc ở các trường trung học ở Hải Phòng. Nhờ có năng khiếu và ham học, Hoàng Quý tiếp thu âm nhạc khá tốt, chỉ một thời gian sau trở thành giáo viên dạy nhạc của trường Bonnal…

Còn Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1914, tại phố Hàm Long, Hà Nội, trong một gia đình bố mẹ là những nghệ sĩ cổ nhạc. Một bài viết khác cho rằng Lê Thương sinh tại Nam Định. Chi tiết về cuộc đời ông rất ít được nhắc tới. Theo hồi ký của Phạm Duy, Lê Thương sinh năm 1913 và là một thầy tu nhà dòng hoàn tục…