Hình Ảnh

Lễ tế Nam Giao của Vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 (Phần 2)

65 views

Loạt ảnh quý về lễ tế đàn Nam Giao của vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 do nhiếp ảnh gia Đặng Châu thực hiện. Đây là lễ tế đàn Nam Giao cuối cùng trong thời gian trị vì ngắn ngủi của nhà vua.

Xem phần 1 của bài

Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lối đi trung tâm sân của vòng thành thứ ba. Bàn thờ cho các Thiên tài và nhạc cụ cổ xưa được bầy xunh quanh sân. Chúng ta có thể thấy phía xa là Nhà Vàng và Nhà Azure.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Như ảnh trước, đây là góc chụp trái của sân của vòng thành thứ ba.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Ba bước thang dẫn đến sân trên có hình vuôn của vòng thành thứ hai, trên đó “Ngôi nhà màu vàng” được dựng lên. Phía sau, chúng ta có thể thấy mái nhà của “Maison Azurée” được dựng trên gò tròn của vòng thành thứ nhất.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Các bàn thờ sử dụng trong lễ tế đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Mỗi bàn thờ được phụ trách bởi một viên quan do triều đình phân công.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn vũ công bước ra sân tế.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tòa Thanh Ốc, một khu nhà dạng lều trùm bằng vải xanh được dựng lên làm nơi đặt bàn thờ trời trong lễ tế đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Trâu, dê và lợn được xẻ thịt để phục vụ lễ tế ở khu vực Thần Trù, Đông Bắc đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đám rước vua Khải Định tiến về đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Kiệu vua tiến vào đàn Nam Giao.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Cận cảnh kiệu vua. Có thể nhìn thấy khuôn mặt vua khải định sau ô cửa của kiệu.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định 28
Vệ binh hoàng gia cưỡi ngựa, cầm giáo, có nhiệm vụ bảo vệ trị an khi lễ tế được thực hiện.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đám rước của cung đình di chuyển từ Ngọ Môn vào điện Thái Hòa ở Hoàng thành Huế để đón rước vua Khải Định đi thực hiện lễ tế đàn Nam Giao năm 1924.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Kiệu của vua Khải Định được rước từ điện Thái Hòa qua Ngọ Môn để đến đàn Nam Giao ở phía Nam kinh thành Huế.

Lễ tế Nam Giao của Vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 (Phần 1)

88 views

Loạt ảnh quý về lễ tế đàn Nam Giao của vua Khải Định vào tháng 3 năm 1924 do nhiếp ảnh gia Đặng Châu thực hiện. Đây là lễ tế đàn Nam Giao cuối cùng trong thời gian trị vì ngắn ngủi của nhà vua.

Xin đọc tiếp phần 2

Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tại đàn tế : bức bình phong nơi cửa phía nam được trang trí bên trên bằng hai con rồng giấy.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Bộ Lễ rước tượng “đồng nhân” vào hoàng cung.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tượng người bằng đồng, dùng trong lễ tế Nam Giao của triều Nguyễn.
Tượng người “đồng nhân” có cầm thẻ bài có khắc 3 chữ. Hai chữ phía trên là “trai giới”, chữ dưới cùng là chữ “bài”: 牌, chữ bài có nghĩa cái biển hay bảng. “Trai giới bài” 齋 戒 牌
Theo điển lệ nhà Nguyễn, bốn ngày trước ngày tế, Bộ Lễ rước tượng đồng nhân vào hoàng cung hoặc trai cung (nhà tại đàn Nam Giao để vua tạm trú chờ cử hành tế lễ) để vua bắt đầu một cuộc trai giới ba ngày, giữ mình trong sạch, chuẩn bị cho lễ tế thiêng liêng. Tượng là hình người mặc lễ phục, đứng thẳng, hai tay chắp lại, cầm thẻ bài có khắc hai chữ “trai giới” . Trong thời gian trai giới, tượng được để trước mặt vua, có công dụng giúp cho vua tập trung nghĩ tưởng điều trong sạch.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Trai cung: sau 24 giờ trai tịnh và hoàn tất nghi lễ tế giao, nhà vua rời Viên đàn trở lại trai cung, tại đây các quan chúc mừng nhà vua đã hoàn thành nghi lễ tế giao và vua lên đường trở về điện riêng của mình (là điện Kiến Trung, trong trường hợp của vua Khải Định và vua Bảo Đại).
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Vua Khải định rời điện Kiến Trung
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Tại trai cung, các quan trong lúc chờ để chúc mừng vua đã hoàn tất lễ tế giao. Bìa trái là ông Nguyễn Hữu Bài, thứ ba từ trái qua là ông Hồ Đắc Trung.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Các quan trong lúc chờ vua xuất phát lên đường từ điện Cần Chánh để đến đàn lễ giao.
Bên trái là Tả Vu, bên phải là Tả Dược Lang nối vào Đại Cung Môn nằm ngoài ảnh.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn rước vua Khải Định tử cổng Ngô Môn về phía cung điện Thái Hòa.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn rước vua Khải Định qua đoạn đường Đông Ba dọc theo bờ sông Hương.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đội lính bảo vệ hoàng gia, trong bộ đồng phục đầy màu sắc, đang dừng lại trên một đoạn đường trong thành cổ. Đoàn rước sau khi vượt qua cổng Ngô Môn, đi đến cổng Đông Nam (Mirador VIII) qua đó sẽ ra khỏi Thành cổ. Phía bên trái của hình, chúng ta có thể thấy một nhíp ảnh gia.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đông Nam Môn – Cửa Thượng Tứ (Mirador VIII)
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Đoàn Ngự đạo rời Kinh thành Huế qua cửa Thượng Tứ (tức cửa Đông Nam, Mirador VIII theo tên gọi của người Pháp).
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Những người đánh trống trong đội lễ nhạc.
Lễ tế Nam Giao của vua Khải Định
Cổng đàn Nam Giao trước khi đám rước tới nơi.

Hình ảnh : Association des amis du vieux Huê

Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định, tháng 9 năm 1924 (Phần 2)

67 views

Trong 9 năm trị vì ngắn ngủi của mình (1916-1925), vua Khải Định cũng làm được một số việc được người đời nhắc đến, trong đó có chuyến Bắc tuần năm 1918 và cuộc Pháp du rầm rộ năm 1922. Trong những năm còn lại của đời mình, nhà vua cũng còn kịp tổ chức một lễ tứ tuần đại khánh với những nghi thức long trọng nhất.

Đọc phần 1

Tháng 6 Âm lịch năm 1924, Bộ Lại và Bộ Binh dâng lên nhà vua danh sách các Tổng đốc, Tuần vũ, Đề đốc, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh, Quản đạo tại tất cả các tỉnh. Nhà vua áp dấu son lên tên những người được đại diện các tỉnh về dự lễ, thông thường mỗi tỉnh ông chọn một người. Mặt khác, Bộ Lễ chỉ thị cho tỉnh Thừa Thiên mời các quan văn võ đã nghỉ hưu hay đang nghỉ phép có phẩm trật từ hàng ngũ phẩm trở lên cùng những bô lão từ 70 tuổi trở lên dự buổi lễ sẽ diễn ra trong vòng 10 ngày cuối tháng 8 Âm lịch năm 1924. Ở các tỉnh, những thành phần trên sẽ đi theo các quan tỉnh đến vọng cung chúc thọ vua. Phủ tôn nhơn (cơ quan phụ trách các vấn đề trong hoàng tộc) lập danh sách các hoàng thân, tôn tước, công tử, công tôn và tôn thất tham dự buổi lễ.

Trước đó, bộ Lễ cũng đã thông tri cho quan lại thuộc các tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, yêu cầu chọn những người có khả năng ca hát và tổ chức các trò chơi truyền thống, báo về bộ để tấu trình nhà vua biết. Hai tháng sau, bộ Lễ tập trung các viên chức của bộ, các nhạc công, ca công, tập luyện để biểu diễn trong buổi lễ tổ chức tại điện Thái Hòa và buổi đại yến tại điện Cần Chánh. Năm ngày trước chính lễ, Bộ Lễ hướng dẫn những người này đến Duyệt Thị đường (nhà hát trong cung điện) để tổng dượt trước sự chứng kiến của nhà vua.

Tháng 8 Âm lịch, Bộ Lễ ra thông báo cho các tòa án bản xứ biết là không được tuyên án trong 15 ngày, gồm 10 ngày trước buổi lễ, ngày lễ chính và 4 ngày sau buổi lễ. Các công sở và nhà dân treo cờ và thắp đèn suốt 5 ngày kể từ hai ngày trước buổi lễ. Bộ này cũng yêu cầu Khâm Thiên giám chọn hai ngày tốt trong tháng 8 để các hoàng thân, tôn tước thay mặt nhà vua làm lễ Kỳ cáo (công bố lễ sẽ diễn ra) ở Nam giao, Triệu miếu, Thái miếu, Hưng miếu. Riêng vua Khải Định sẽ đích thân hành lễ tại Thế miếu (nơi thờ các vua triều Nguyễn). Sau đó, vào một ngày không định trước, nhà vua sẽ thân hành đến chào các bà thái hậu.

Lễ vật do các quan lại ở Huế và các tỉnh dâng lên vua được bộ Lễ tập trung, kiểm soát trước khi chuyển đến địa điểm hành lễ. Trước cửa Ngọ môn, người ta dựng lên một “chánh lâu” (khán đài chính) là nơi để lễ vật của hoàng thái hậu, phủ tôn nhơn, văn võ đại thần, các cung phi, công chúa, Phụ lộc phu nhơn (bà ngoại vua Khải Định), vợ và con các hoàng thân, thích lý (bà con của mẹ vua) và phu nhơn các văn võ đại thần. Ngoài chánh lâu, còn có:

– Sáu đắc lâu (khán đài phụ) chứa lễ vật của Tả trực, Hữu trực, Tả kỳ, Hữu kỳ, Bắc kỳ và Thừa Thiên.
– Hai trường bằng (khán đài rộng) là nơi tập hợp các thành viên của phủ Tôn nhơn, các quan lại trong triều.
– Một khán đài trước Phu Văn Lâu được dựng lên cho công chúng đứng xem lễ
– Một thủy lâu và thủy bằng (khán đài nổi trên sông) trước Nghinh hương đình (bến thuyền của vua)

Mười ngày trước lễ, lúc 6 giờ sáng, người ta bắn 9 phát súng thần công, cờ treo khắp nơi, và đèn đuốc thắp sáng. Một ngày trước lễ, nhà vua cùng các hoàng thân, văn võ đại thần đi xem các khán đài.

Cuối cùng thì buổi lễ cũng đã diễn ra long trọng tại điện Thái Hòa. Nhân dịp này, vua Khải Định ban các ân chiếu phong thưởng những người có công và mở tiệc khoản đãi Toàn quyền Đông Dương, Khâm sứ Huế cùng các viên chức Pháp khác. Tối đến, vua Khải Định cùng các hoàng thân và văn võ đại thần ra Ngọ môn xem các trò chơi và đốt pháo bông.

Tham dự bữa tiệc ở điện Cần chánh có các hoàng thân, văn võ đại thần cùng tôn tước có phẩm trật từ tam phẩm trở lên. Các cung phi đời trước, cung phi tại triều, vợ và con gái các hoàng thân, vợ các đại thần dự yến phía sau điện Cần chánh, trong các bộ thành phục (áo dài có tay rộng). Buổi chiều, tiệc lại được dọn ra ở Duyệt thị đường dành cho các tôn tước từ tứ phẩm trở xuống, các công tôn, công tử, tôn thất, thích lý và quan lại đang làm việc tại Huế có phẩm trật từ tứ phẩm đến thất phẩm, cùng các quan đã về hưu từ ngũ phẩm trở lên. Ba ngày sau buổi lễ, các bô lão từ 70 tuổi trở lên được mời dự tiệc tại Thừa Thiên phủ.

Cũng cần nhắc lại là khoảng nửa năm trước cuộc lễ, Khâm sứ Huế Pasquier đã gửi cho Cơ mật viện một văn thư loan báo việc Toàn quyền Đông Dương Merlin quyết định gửi tặng vua Khải Định một con bạch tượng (voi trắng) do các thợ săn bắt được ở Đắc Lắc. Trong thư, có đoạn viết: “Quan Toàn quyền Đông Dương rất sung sướng được tặng hoàng đế kỷ vật này khi Ngài bắt đầu vào tuổi 40, và đối với ông, việc bắt được trên đất An Nam và chuyển giao lại cho triều đình một con bạch tượng trong năm nay chỉ có thể là một điều hạnh phúc đối với hoàng đế và nhân dân của ngài…”.

Tại buổi lễ chính, toàn quyền Merlin đích thân tham dự, hai bên trao đổi với nhau những bài diễn văn đầy tính ngoại giao. Trong sớ tấu, chỉ dụ về buổi lễ, người ta nói nhiều đến sự giản dị, tiết kiệm, song nếu những gì thật sự diễn ra đúng với chương trình đã vạch thì kinh phí bỏ ra không phải là nhỏ.

Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Cung đình Huế bên dòng sông Hương
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Khải Hoàn Môn và khán đài
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Gian nhà trưng bày các lễ vật
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Một đoàn hát tuồn Nam Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Vũ công từ một nhóm dân tộc thiểu số
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Nhóm vũ công và hát của vùng Vinh và Thanh Hóa
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Cổng Ngọ Môn
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Các quan lại đang chờ ở điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Các quan lại đang quỳ ở điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Các quan lại đang quỳ ở điện Thái Hòa
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Vua Khải Định dùng bửa ăn trưa ở điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Tiệc dành cho các quan ở điện Cần Chánh
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Điện Thái Hòa
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Thuyền của các Thái Hậu và Hoàng Hậu
Lễ Tứ Tuần của vua Khải Định
Thái tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại tương lai)

Tác giã bài : Lê Nguyễn
Hình của ông Ngô Văn Đức Vincent de Bordeaux

Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định, tháng 9 năm 1924 (Phần 1)

82 views

Vua Khải Định sinh năm 1885, tính đến năm 1924 là đủ 40 tuổi (ta). Song trước đó một năm, triều đình đã chuẩn bị dần lễ mừng tứ tuần đại khánh của ông

Ngày 17/5/1923, các thành viên Phủ Tôn nhơn (đúng ra là Phủ Tông nhơn) cùng văn võ đại thần dâng lên nhà vua một sớ tấu nhắc lại những đại lễ tứ tuần khánh tiết (mừng 40 tuổi) được tổ chức trọng thể vào các đời vua Minh Mạng (năm 1830), Thiệu Trị (năm 1846), Tự Đức (năm 1868), và ân cần “lưu ý” nhà vua rằng ông đang ở tuổi 39, chỉ còn một năm nữa để tổ chức lễ mừng 40 tuổi.

Tất nhiên là tờ tấu này được nhà vua hoan hỉ chấp nhận. Ông ban hành một chỉ dụ nêu lên sự cần thiết phải thực hiện việc này vì từ 50 năm qua, chưa từng có một lễ tứ tuần đại khánh nào được tổ chức (vì lẽ dễ hiểu là các vua sau vua Tự Đức, không có ai ở ngôi đến 40 tuổi cả). Tuy nhiên nhà vua cũng lưu ý là ngân quỹ năm 1924 không dồi dào như trước (do Pháp khống chế mọi khoản chi của triều đình), mặt khác nhiều lăng miếu đang xuống cấp, đang cần tiền tu sửa, nên phải tiết kiệm kinh phí trong buổi lễ.

Ngày 1/6/1923, Cơ mật viện chuyển qua tòa Khâm sứ Huế một bản sao tờ sớ tấu về lễ tứ tuần đại khánh của vua Khải Định để xin ý kiến. Trong thư phúc đáp, Khâm sứ Pasquier tỏ ý tán thành việc tổ chức lễ, nhưng cũng nhắc khéo với Cơ mật viện những lời lẽ của vua Khải Định muốn cho buổi lễ diễn ra trong sự giản dị và trang trọng, phù hợp với nghi thức của tổ tiên xưa. Mặc dầu lễ tứ tuần đại khánh sẽ diễn ra vào năm 1924, nhưng chương trình chi tiết buổi lễ đã được triều thần soạn thảo từ tháng 10/1923, căn cứ vào những gì đã diễn ra trong lễ tứ tuần của vua Tự Đức tổ chức vào năm 1868.

Xin xem phần 2 tiếp theo

Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Trên sân điện Thái hòa
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Điện Thái hòa
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Sân điện Cần Chánh trang hoàng trong dịp lễ mừng
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Gian nhà trưng bày các lễ vật của các quan tỉnh dâng tặng vua Khải Định vào dịp lễ mừng thọ vua 40 tuổi (Tứ Tuần Đại Khánh)
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924
Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định 1924

Tác giã bài viết : Lê Nguyễn

Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975

97 views

Trước năm 1975, bến Bạch Đằng là con đường dọc bờ sông Sài Gòn ở khu vực trung tâm quận 1, đoạn từ Nhà máy Ba Son đến đầu đường Hàm Nghi nối với đường Bến Chương Dương.

Bến Bạch Đằng những năm cuối 1950, đầu 1960 là nơi hẹn hò lý tưởng của những đôi tình nhân. Cùng xem loạt ảnh về bến Bạch Đằng giai đoạn trước 1975.

Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Bến Bạch Đằng, đoạn gần rạch Bến Nghé (phía trên), phía đối diện là khách sạn Majestic (bên phải), tháng 5/1968
© Bettmann/ CORBIS
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Một góc bến Bạch Đằng năm 1972
© Habans Patrice
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Bến Bạch Đằng, đoạn gần rạch Bến Nghé (phía trên), phía đối diện là khách sạn Majestic (bên phải), tháng 5/1968
© Bettmann/ CORBIS
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Khung cảnh thanh bình ở bến Bạch Đằng năm 1961, nhìn từ khách sạn Majestic
© Wilbur E. Garrett/ National Geographic/ Getty Images
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Công viên Bến Bạch Đằng, thập niên 1960
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Tàu quân sự Hàn Quốc neo đậu ở bến Bạch Đằng, 1967
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Trẻ em bơi lội gần nhà hàng Mỹ Cảnh, 1962 – 1963
© Ken Schumacher
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Bốc dỡ gỗ từ thuyền ở bến Bạch Đằng, thập niên 1960

Những bức hình màu sinh động về chợ Phan Thiết năm 1967

109 views

Có lịch sử hình hành vào năm 1697, chợ Phan Thiết ở miền Tây là nơi lưu giữ những nét văn hóa đặc sắc có từ lâu đời của mảnh đất Bình Thuận.

Khi chưa có người Việt định cư, người Chăm gọi vùng đất này là “Hamu Lithít” – “Hamu” là xóm ruộng bằng, “Lithít” là ở gần biển. Khi bắt đầu có người Việt định cư, vẫn chưa ai có ý định đặt ngay cho vùng đất này một tên gọi mới bằng tiếng Việt.

Khi chưa có người Việt định cư, người Chăm gọi vùng đất này là “Hamu Lithít” – “Hamu” là xóm ruộng bằng, “Lithít” là ở gần biển. Khi bắt đầu có người Việt định cư, vẫn chưa ai có ý định đặt ngay cho vùng đất này một tên gọi mới bằng tiếng Việt. Lâu dần, âm cuối “Lithit” lại được gắn liền với âm “Phan” tách từ phiên âm của tên hai vùng Phan Rang, Phan Rí mà thành ra Phan Tiết (tên gọi ngày xưa) và sau này người ta gọi chuẩn với cái tên là Phan Thiết.

Vào năm 1967, Bob Kelly, cựu binh Tiểu đoàn Trực thăng tấn công 227 của Mỹ, đã thực hiện một loạt hình ảnh màu cực sinh động về chợ Phan Thiết. Những bức ảnh thật quý hiếm giữ lại những giây phút sinh hoạt hàng ngày của bà con vùng Phan Thiết nói riêng và miền Tây nói chung.

Chợ Phan Thiết năm 1967
Một góc chợ Phan Thiết năm 1967
Chợ Phan Thiết năm 1967
Hầu hết những người có mặt ở chợ là phụ nữ, và họ đều đội nón lá để che nắng
Chợ Phan Thiết năm 1967
Các quầy bán rau ở chợ Phan Thiết
Chợ Phan Thiết năm 1967
Các gánh hàng mía thu hút khá nhiều người. Mía được cắt khúc và rọc vỏ tại chỗ
Chợ Phan Thiết năm 1967
Bánh mì được chất thành đống
Chợ Phan Thiết năm 1967
Em bé bên quầy bánh mì
Chợ Phan Thiết năm 1967
Quầy bán bánh canh cua khá đông khách
Chợ Phan Thiết năm 1967
Một quầy bánh trầu câu
Chợ Phan Thiết năm 1967
Cửa hàng đồ khô
Chợ Phan Thiết năm 1967
Hàng thịt lợn

Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967 (phần 1)

153 views

Ngay trong những năm chiến tranh tàn khóc ở Việt Nam, nhà báo Mỹ Lee Lockwood đã ghi nhận lại một loạt ảnh quý giá về miền Bắc Việt Nam năm 1967. Những bức ảnh lưu lại cho những thế hệ mai sau sự tàn phá, chết chóc mà chịu ảnh hưởng nhiều nhất vẫn là người dân.

Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Cầu phao ở ngoại ô thành phố Nam Định
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Vât dụng thu được từ các phi công Mỹ bị bắt giữ
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Giấy tờ tùy thân của một phi công Mỹ bị bắt tại miền Bắc Việt Nam
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Những hố bom ngập nước tại Nam Định
Một khu nhà bị hủy diệt do bom Mỹ ở Phủ Lý, tỉnh Nam Hà (Hà Nam ngày nay)
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Chân dung phi công Mỹ William A. Robinson bị miền Bắc Việt Nam bắt sống
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Chân dung phi công Mỹ Arthur N. Black bị miền Bắc Việt Nam bắt sống
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Một phi công Mỹ – Trung úy Joseph Crecca – cho gà Tây ăn trong trại giam ở Hà Nội
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Trâu được buộc trong hầm tránh bom ở nông thôn miền Bắc, 1967
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Dân quân diễn tập trên đống đổ nát vì bom
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Dân quân Hà Nội diễn tập cứu thương khi bị không kích
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Bên trong một ngôi chùa tại Hà Nội sau cuộc không kích
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Chùa Phúc Lâm ở Hà Nội đổ nát do trúng bom
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Dân quân khiêng các thùng gỗ ra khỏi nhà máy xe đạp bị ném bom gần Hà Nội
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Những tượng Phật còn lại của ngôi chùa sau trận bom

Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở miền Nam Việt Nam

182 views

Nhìn lại khoảng thời gian những năm 60 của thế kỉ trước, hình ảnh những con người Việt nghèo khó ở miền Nam Việt Nam. Cùng với đó là những chiếc xe đạp, xe hơi chở khách, xe đò, xe lam, những bức ảnh cho chúng ta thấy các phương tiện giao thông ở Việt Nam hồi những năm 1960 rất đa dạng. Nhưng đó là những con người sống thật nhất, không có cảnh chen lấn xô đẩy như cuộc sống hiện tại.

Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN