Hà Nội

Chùm ảnh lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội vào những năm 1920-1929

222 views

Hà Nội, đền thờ Hai Bà Trưng, còn gọi là Đền Đồng Nhân vốn dựng từ năm 1160 đời vua Lý Anh Tông ở phường Bố Cái, tức là bãi Đồng Nhân, bên bờ sông Hồng. Năm 1819, vì bãi bị lở, dân dời đền vào khu vực trường Giảng Võ cũ của thời Lê, thuộc đất thôn Hương Viên, tổng Thanh Nhàn huyện Thọ Xương tức địa điểm hiện nay.

Từ nhiều thế kỷ qua đến nay, đền là nơi thờ Hai Bà Trưng linh thiêng bậc nhất ở kinh đô Thăng Long và miền Bắc nói chung. Ngôi đền đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích Lịch sử Quốc gia ngay đợt đầu tiên vào năm 1962.

Mỗi năm đền tổ chức một lễ hội lớn diễn ra từ ngày 3-6/2 Âm lịch để tưởng nhớ công lao của Hai Bà Trưng. Mồng 4, làng vào đám bằng tế nhập tịch và mồng 5 là hội rước nước. Đám rước đi từ đền ra phố Huế, lên Hàng Bài đến tận đền Bà Kiệu ở Hồ Gươm, rẽ ra Cột đồng hồ ở phố Trần Nhật Duật, rồi đưa choé xuống thuyền ra giữa sông lấy nước về nấu với trầm hương để tắm tượng. Hai lão bà trong làng, tính cách khiêm nhường, đức hạnh, được dân cử để tắm tượng, mặc áo mới cho Hai Bà trong ngày hội lớn.

Cùng nhau xem loạt ảnh đặc sắc về lễ hội này do người Pháp chụp vào những năm 1920-1929.

Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Khung cảnh ở sân đền. Trong điện thờ, các vị chức sắc đang làm lễ trước bàn thờ
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Một vị cao niên đọc sớ trong điện thờ
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Các hương chức, quan viên và nhạc công tập trung phía trước điện thờ
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Trẻ em cầm cờ đứng dọc lối vào điện thờ trong lễ hội đền Đồng Nhân
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Kiệu thờ và các đồ lễ được đặt ở sân đền để chuẩn bị cho đám rước tôn vinh Hai Bà Trưng
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Hai chiếc bình đựng nước thiêng sẽ được rước trong lễ hội
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Người hành lễ cầu khấn bên chiếc kiệu đặt ở sân đền trước lễ rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Các chức sắc mặc lễ phục, chụp ảnh kỷ niệm với tượng voi ở sân đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Các quan chức chụp ảnh kỷ niệm trước bức bình phong của đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Nhóm nam giới có địa vị trong làng chụp ảnh kỷ niệm
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Đám rước chuẩn bị khởi hành từ sân đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Tượng voi được đưa ra trước cổng đền để phục vụ lễ rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Chiếc kiệu lớn được đưa ra khỏi cổng đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Đám rước đi qua đường làng
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Dân làng tề tựu xem đám rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Người khiêng trống trong đám rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Bến sông Hồng gần đền Đồng Nhân tấp nập khách hành hương qua lại bằng thuyền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Một con thuyền chở đồ lễ phục vụ lễ hội

Theo Kiến Thức

Nội cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20

235 views

Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội là một trong những trường trung học nổi tiếng nhất ở Đông Dương, Trường được thành lập năm 1919, giải thể năm 1965. Sau khi đã khám phá lịch sữ hình thành của trường ở phần 1, chúng ta tiếp tục cuộc hành trình nhé !

Năm học đầu tiên (1924 – 25), trường đã thu nhận 800 học sinh, có cả học sinh Miên, Lào và 370 học sinh Việt Nam. Kể từ năm học sau (1925 – 26), với ông Autigeon làm Quyền Hiệu trưởng, trường hạn chế nhận học sinh Việt Nam nên chỉ có 510 học sinh trong đó có 210 học sinh VN, phần lớn học sinh VN vào học ở trường Bảo Hộ (Lycée du Protectorat) được thành lập năm 1924, sau này trở thành trường THPT Chu văn An. Cao điểm nhất là năm 1940, trường có tới 1405 học sinh.

Năm 1943, trường bị ném bom, phải sơ tán khỏi Hà Nội. Phần lớn nhà trường, đứng đầu là hiệu trưởng Loubet, sơ tán đến Tam Đảo, một bộ phận nhỏ ghép với trường Paul Bert, cùng hiệu trưởng Silhou, sơ tán vào Sầm Sơn. Một số học sinh chạy vào Đà Lạt, xin học tiếp ở trường trung học Yersin. Sau đảo chính 9 – 3 – 1945, trường tạm ngừng hoạt động.

Ngày 4 – 2 – 1947, dưới sự điều hành của bà Raspail, trước đây là hiệu trưởng Trường Con Gái Pháp (Collège des Jeunes Filles Francaises), trường Albert Sarraut mở cửa trở lại đón 700 học sinh, tạm thời ở địa điểm của Trường Con Gái phố Félix Faure, nay là phố Trần Phú, bởi một phần trường sở cũ bị hư hại do chiến tranh, cần có kinh phí và thời gian để sửa chữa. Tháng 9 – 1948 trường trở về địa điểm cũ và liên tục phát triển, đến niên khóa 1953 – 54, số học sinh lên tới 2400.

Sau hiệp định Genève năm 1954, chính phủ Pháp ký với chính phủ Việt Nam một Thỏa ước văn hóa (7 – 4 – 1955), theo đó trường trung học Albert Sarraut được tiếp tục hoạt động trong 10 năm nữa song phải dời về địa điểm của trường Paul Bert ở phố Rollandes (nay là phố Hai bà Trưng) trước đây và trở thành một trường tư thục do Tổ chức Lương Hội Pháp (Mission laique francaise) mở, giảng dạy theo chương trình 10 năm của Việt Nam, bằng tiếng Việt Nam, trừ môn Toán, tiếng Pháp chỉ là ngoại ngữ chính, được học từ cấp I; học sinh không phải đóng học phí. Năm học 1955 – 1956 trường bắt đầu hoạt động theo quy chế mới như trên với 590 học sinh. Số học sinh cao nhất là vào năm học 1959 – 60 (1420 học sinh), năm học cuối cùng 1964 – 65 có 966 học sinh. Sau năm học này, trường trung học Albert Sarraut Hanoi chính thức ngừng hoạt động hẳn.

Sau 46 năm tồn tại và hoạt động (1919 – 1965), trường trung học Albert Sarraut Hanoi đã đào tạo hàng chục ngàn học sinh, trong đó có hàng ngàn học sinh Việt Nam, nhiều người nổi tiếng như đại tướng Võ Nguyên Giáp, thủ tướng Phạm Văn Đồng, học giả Hoàng Xuân Hãn, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, nhà thơ Phạm Huy Thông (tốt nghiệp Tú tài Triết học năm 1934), nhà triết học Trần Đức Thảo (tốt nghiệp Tú tài Triết học năm 1935). Có người như Phạm Duy Khiêm học giỏi, được học bổng sang Pháp, đã thi đỗ vào trường danh tiếng bậc nhất của Pháp là trường Cao đẳng Sư phạm
phố Ulm (Ecole Normale Supérieure rue d’Ulm), tốt nghiệp năm 1931…Một số học sinh Lào đã từng học ở trường An-be Sa-rô, về sau cũng rất nổi tiếng như hoàng thân
Xu-va-na Phu-ma, hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Các cựu học sinh An-be Sa-rô kể trên, với các cống hiến to lớn của mình, xứng đáng là những tấm gương sáng cho các thế hệ thanh niên noi theo. Nhiều thế hệ học sinh An-be Sa-rô sau này ở Việt Nam cũng đã nêu cao tinh thần yêu nước, tích cực tham gia 2 cuộc kháng chiến chống Pháp vàchống Mỹ; nhiều học sinh của trường những năm học sau 1954 đang hăng hái tham gia vào công cuộc Đổi Mới, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà.

Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Trong phòng khám răng của bệnh xá
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Bên trong sảnh chính
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Không gian thư viện
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Phòng ăn của học sinh nhỏ tuổi
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Giờ học lịch sử
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Giờ học vật lý
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Giờ học vật lý
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Giờ học môn lịch sử tự nhiên
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Một góc phòng thí nghiệm
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Giờ học môn địa lý
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Các học sinh làm thí nghiệm vật lý
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Giờ học toán
Nội cảnh ở Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Bên trong phòng ký túc xá

Tác giã : Nguyễn Minh Vũ – Cựu học sinh chuyên khoa (1951 – 54)

Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20

717 views

Trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội là một trong những trường trung học nổi tiếng nhất ở Đông Dương, Trường được thành lập năm 1919, giải thể năm 1965. Đây là nơi nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Đông Dương từng học.

Do nhu cầu học tập của con em người Pháp, năm 1902 trường Paul Bert
(Collège Paul Bert) được thành lập, đặt ở đại lộ Rollandes (Boulevard Rollandes), nay là phố Hai Bà Trưng, hiệu trưởng là Simonin. Lúc đầu trường chỉ có các lớp trung học đệ nhất cấp (classes du 1er cycle), từ năm 1912 mới bắt đầu có các lớp trung học đệ nhị cấp (classes du 2e cycle), với 143 học sinh, trong đó có 2 người Trung Hoa và 1 người Nhật.

Năm 1914 Toàn quyền Albert Sarraut ra quyết định xây dựng một trường trung học lớn, hoàn chỉnh, giống như một trường trung học ở chính quốc, thu nhận học sinh Pháp và cả một số học sinh con em các quan lại cao cấp Việt, Miên, Lào.

Mặc dù gặp khó khăn do Thế chiến I (1914 – 1918), năm 1914 công trình vẫn
được khởi công trên một khuôn viên rộng, vuông vắn, nằm trước Phủ Toàn Quyền, tiếp giáp với đại lộ Cộng Hòa (Avenue de la République) sau đổi là Honoré Tissot, nay là phố Hoàng Văn Thụ, đại lộ Brière de l’Isle nay là phố Hùng Vương, đại lộ Carnot nay là phố Phan Đình Phùng, và phố Destenay nay là phố Nguyễn Cảnh Chân; cổng chính nhìn ra đại lộ Cộng Hòa. Công trình do kiến trúc sư Adolphe Bussy thiết kế gồm khu trường chính (khu học đường, khu hiệu bộ, khu nội trú – y tế) và khu giáo dục thể chất, hoạt động thể dục thể thao. Khu học đường và khu hiệu bộ đều nằm trong 2 dãy
nhà cao 2 – 3 tầng được xây song song với đại lộ Cộng Hòa; giữa 2 dãy nhà này là 2 sân chơi ngoài trời rộng, ngăn cách bởi một giàn cây hình vòm xanh mát, giữa có treo chiếc chuông để đánh báo giờ. Giáp đầu ngoài 2 sân có 2 nhà chơi khá lớn kèm hàng chuc phòng tắm có gương sen. Khu nội trú – y tế nằm trong dãy nhà thứ 3 ở phía sau dãy thứ 2, các hành lang có mái che lợp ngói nối liền 2 dãy nhà này với nhau. Một cổng phụ mở ra trên phố Destenay đón học sinh đến học hàng ngày, đồng thời cho phép thầy trò dễ dàng đi sang khu giáo dục thể chất. Khoảng năm 1948 mở thêm một cổng phụ nữa nhìn ra đại lộ Brière de l’Isle. Khu giáo dục thể chất gồm sân quần vợt, sân bóng đá, sân bóng rổ, sân bóng chuyền, khu điền kinh (hố cát để tập nhảy cao, nhảy xa, xà đơn, xà kép, xà lệch…), ngăn cách với khu trường chính bởi phố Destenay. (Từ năm 1954 khu này đã được dùng để xây trụ sở Ban Tuyên Giáo trung ương còn khu trường chính được dùng làm trụ sở Trung ương Đảng CS Việt Nam).

Sau 4 năm công trình được hoàn thành và ngày 1 – 1 – 1919 trường trung học Hà Nội (Lycée de Hanoi) ra đời. Trường gồm 2 phân hiệu, phân hiệu I chỉ mở các lớp trên được đặt ở đây, phân hiệu II chỉ mở các lớp dưới nằm ở đại lộ Rollandes. Để phân biệt, phân hiệu II được gọi là Petit Lycée (trường Trung học Nhỏ), còn phân hiệu I được gọi là Grand Lycée (trường Trung học Lớn). Năm 1923, phân hiệu I được xây bổ sung mặt tiền chính (façade principale) và được đặt tên là trường Trung học An-be Sa-rô (Lycée Albert Sarraut) để tỏ lòng tri ân Toàn quyền An-be Sa-rô, người đã ra quyết định xây dựng trường trước đây, còn phân hiệu II lấy lại tên là trường Paul
Bert như trước. Trường An-be Sa-rô được tổ chức và giảng dạy giống như một lycée ở Pháp, lực lượng giảng dạy gồm các giáo sư cử nhân (professeur licencié) và các giáo sư thạc sĩ (professeur agrégé), trang thiết bị đầy đủ gồm các phòng thí nghiệm kèm bên cạnh các phòng học bộ môn cho các môn khoa học thực nghiệm Lý Hóa Sinh, các phòng học vẽ, học nhạc, một thư viện riêng cho các giáo sư và một thư viện cho học sinh với đầy đủ các sách giáo khoa và các sách tham khảo cho tất cả các bộ môn, học sinh có thể ký quỹ thuê sách ở thư viện để học, các phòng học đều đúng tiêu chuẩn, rộng rãi, sáng sủa.

Mời các bạn đọc tiếp lịch sữ của trường trung học Albert Sarraut ở bài sau

Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Mặt tiền của trường nằm trên đại lộ Cộng Hòa (nay là đường Hoàng Văn Thụ), phía xa là Dinh Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch).
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Toàn cảnh trường Albert Sarraut nhìn từ Dinh Toàn quyền
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Trường trung học Albert Sarraut nhìn từ ngã ba đại lộ Brìere – đại lộ Cộng hòa (nay là ngã ba Hùng Vương – Hoàng Văn Thụ, trước cổng Phủ Chủ tịch).
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Lối vào trước tòa nhà chính của trường
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Khu vực cổng trường giờ tan học
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Xe đưa đón học sinh
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Một Khu nhà trong khuôn viên trường
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Khu bệnh xá của trường
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Sân chơi cho trẻ em trong trường
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Sân quần vợt
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Sân quần vợt
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Một góc sân trường
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Trên sân bóng đá
Ngoại cảnh của trường Trung học Albert Sarraut ở Hà Nội đầu thế kỷ 20
Toàn cảnh khu vực sân thể thao nhìn từ một tòa nhà của trường

Tác giã : Nguyễn Minh Vũ – Cựu học sinh chuyên khoa (1951 – 54)

Vài tấm ảnh rất hiếm học sinh trường Albert Sarraut ở Hà Nội (1939-1942)

244 views

Trường Trung học Albert Sarraut (tiếng Pháp: Lycée Albert Sarraut) là một trong những trường trung học nổi tiếng nhất ở Đông Dương, được thành lập từ năm 1919 tại Hà Nội.

Trường Trung học Alber Sarraut là một trong số 69 trường Trung học do Pháp thành lập trên các thuộc địa, phản ánh quan điểm đào tạo đội ngũ công chức kế thừa làm việc cho chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương.

Vài năm sau khi trường thành lập, ngoài những học sinh người Pháp chiếm phần đông số học sinh, còn có cả con em các quan chức cao cấp người Việt Nam, người Miên, người Lào, người Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản.

Dưới đây là vài hình ảnh quý hiếm về học sinh trường Albert Sarraut chụp vào những năm 1939-1942. Những bức ảnh quý nầy thuộc quyền sở hữu của bà BRUGIERE (Claudie BEAUCARNOT).

Học sinh trường Albert Sarraut ở Hà Nội
Lớp 3èmeA (1939)
Học sinh trường Albert Sarraut ở Hà Nội
1. Than Khoi LÊ
2. Georges LITOLFF
3. Jeanine ESQUER
4. Marguerite DOUGUET
5. Thi An TRAN
6. Claudie BEAUCARNOT
7. Yvonne FONTANNE
8. Paulette GARCIN
9. Odette RABUT
10. Micheline RIVERE
12. Pierre GUIRIEC
13. Van De HOANG
14. Ông LE DIZES (Thầy dậy
tiếng Pháp và tiếng La Tin)
18. J. P. LE MEILLOUR
19. Claude de FEYSSAL
21. Maurice DELFOUR
25. DIGO
30. Claude FABRE
31. Maurice DASSIER
32. R. BRAVARD
33. René FABRE
35. Jean LE DIZES
36. Jacques HUMBERT
37. François-Xavier ORTOLI
38. Georges ROUAN
39. Pierre MILLOUR
41. Jules DIEN
Học sinh trường Albert Sarraut ở Hà Nội
Khóa học 1942-1943
Học sinh trường Albert Sarraut ở Hà Nội
1. Monique ÉRARD
2. Raymonde CAURIERE
3. Éliane PERRIN
4. Jacqueline PARENT
5. Nicole ROLLE
6. Raymonde AMBROIX
7. Solange RENUCCI
8. Janine MICHAUD
9. Geneviève JOGUET
11. M. M. HUONG
12. H. Phuc NGUYEN
13. Michel LEFÈVRE
14. Georges GALLAIS
15. Camille MAYAUX
16. Louis SCHUTZ
17. H. Duc NGUYEN
18. Jean DARIUS
19. V. Minh TRAN
20. Maurice MILLOUR
23. Jean CHATEAU
24. Trang
25. O. An TRAN
26. H. Can PHAN
27. D. Tack NGUYEN
28. Pierre PERRIN
29. Pierre CHATEAU
30. Georges MONLAÜ
31. Georges MAMOSA
Học sinh trường Albert Sarraut ở Hà Nội
Khóa học 1941-1942

Tổng hợp từ trang của ông Philippe Millour

Những bức ảnh quý hiếm về nền giáo dục ở Tonkin (Bắc Kỳ)

579 views

Hãy cùng chúng tôi khám phá vài bức hình rất hiếm của nền giáo dục ở Tonkin (Bắc Kỳ) trong thời kỳ Pháp thôn tính Việt Nam.
Những bức ảnh quý giá này (không tác giả) được giới thiệu với công chúng lần đầu tiên tại triển lãm thuộc địa Đông Dương ở Paris vào năm 1931.

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Tiểu học Nữ sinh Hà Nội - Bệnh Viện
Trường Tiểu học Nữ sinh Hà Nội – Bệnh Viện

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Sư phạm Nữ sinh người Việt tại Hà Nội 0
Trường Sư phạm Nữ sinh người Việt tại Hà Nội 0

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Pugnier Hà Nội
Trường Pugnier Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường dậy tiếng Trung Hoa
Trường dậy tiếng Trung Hoa

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội
Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Cao đẳng Tiểu học Nữ sinh Hà Nội
Trường Cao đẳng Tiểu học Nữ sinh Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Cao đẳng Tiểu học Hà Nội
Trường Cao đẳng Tiểu học Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường cao đẳng công nghệ ở Hải Phòng
Trường cao đẳng công nghệ ở Hải Phòng

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Amiral Courbet ở Hà Nội
Trường Amiral Courbet ở Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Lớp thủ công mỹ nghệ 1
Lớp thủ công mỹ nghệ

Nền giáo dục ở Tonkin - Lớp thủ công mỹ nghệ 0
Lớp thủ công mỹ nghệ

Nền giáo dục ở Tonkin - Lớp học chữ Nôm
Lớp học chữ Nôm

Nền giáo dục ở Tonkin - Chơi đánh đáo
Chơi đánh đáo

Nơi bán sách và nghề in sách mọc bản ở Hà Nội đầu thế kỷ XX

720 views

Hà Nội xưa nay luôn tự hào là trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước, nổi tiếng với 36 phố phường. Quả đúng như Lý Thái Tổ đã từng nhận xét khi dời đô về Hà Nội: “… Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi Kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời…” để rồi đặt cho kinh thành cái tên thật ý nghĩa – Thăng Long. Sự hội tụ tinh hoa ấy không chỉ biểu hiện ở địa linh nhân kiệt, mà còn có thể thấy ngay từ tên gọi phố phường Hà Nội. Thật hiếm có đất nước nào trên thế giới lại có Thủ đô độc đáo như Hà Nội: mỗi phố phường đều gắn liền và là kết tinh của một nghề truyền thống: Hàng Lược, Hàng Hài, Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Giấy, Hàng Gai, Hàng Bè, Hàng Bột, Hàng Thiếc, Hàng Khay, Hàng Thùng, Hàng Quạt, Hàng Bạc, Hàng Than, Hàng Da, Hàng Mành, Hàng Nón, Hàng The, Hàng Nhiễu, Hàng Giày, Hàng Thuốc Bắc, Hàng Vải, Hàng Chỉ, Hàng Mã, Hàng Mụn, Hàng Mã Vĩ, Hàng Bún, Hàng Trống, Hàng Đậu, Hàng Mắm, Hàng Muối, Hàng Chĩnh, Hàng Vải Thâm… Kinh đô Thăng Long đồng thời cũng là nơi tiêu biểu cho truyền thống văn hiến của dân tộc. ấy vậy mà lần tìm trong số mấy chục “hàng” của Hà Nội, không thấy có “hàng” nào có tên hay mang bóng dáng của việc in sách và bán sách.

Giờ đây, chúng ta đang cận kề với thế kỷ XXI. Người ta có thể mua sách ở bất kỳ một hiệu sách lớn, nhỏ nào trên các đường phố Hà Nội bởi vì giờ đây các ấn phẩm ngút ngàn “trên trời, dưới sách”. Thế ở đầu thế kỷ XX, người ta mua sách ở đâu ? Hà Nội bấy giờ có những nơi nào bán và in sách ?
Trong những trang sách viết về Hà Nội xưa, cụ Hoàng Đạo Thúy – một người rất am hiểu về Hà Nội cũng đã từng băn khoăn một điều là “đất văn vật mà lại không có lấy một nơi gọi là phố Hàng Sách”. Đối với một đất nước” vốn xưng nền văn hiến đã lâu” như nước ta, điều này kể ra cũng thật đáng tiếc. Song như thế không có nghĩa là Hà Nội hồi đầu thế kỷ XX không có những điểm bán sách. Điều này ít nhiều liên quan tới nghề in sách mộc bản của ta.
Trong lịch sử xưa nay, nghề in với văn hóa của một đất nước bao giờ cũng có mối quan hệ mật thiết. Trước khi văn minh phương Tây cùng kỹ thuật in lối mới (hoạt tự) xâm nhập vào Việt Nam thì nền văn hóa xã hội Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng từ nghề in mộc bản. Với đặc điểm của nền văn hóa Nho giáo, lấy chữ Hán làm văn tự chính thống cùng chế độ giáo dục khoa cử, nghề in mộc bản thực sự trở thành một phương tiện đắc lực phục vụ đời sống chính trị, xã hội của dân tộc. Thực ra, nghề in mộc bản xuất hiện ở Việt Nam từ khá sớm. Nó gắn liền với việc khắc in những bộ kinh sách để truyền bá đạo Phật khi Phật giáo thịnh hành ở Việt Nam thời Lý- Trần. Song phải đợi đến khi Thám hoa Lương Như Hộc triều Lê, sau hai lần đi sứ (Thái Hòa1-1443 và Thiên Hưng 1-1459) đã đem nghề in mộc bản của Trung Quốc truyền cho dân làng mình thì bấy giờ nghề in sách của ta mới có bước phát triển rõ rệt và dần được truyền đi rộng khắp. Ban đầu phạm vi in ấn hết sức hạn hẹp (chỉ trong khu vực triều đình và nhà chùa. Hơn nữa, kinh phí cũng hết sức tốn kém). Có những khi triều đình phong kiến quản lý việc in ấn khá nghiêm ngặt. Thời Lê, ngay cả những kinh sách đạo Phật, đạo Lão cũng như thơ văn mà triều đình không cho phép thì người dân không được khắc in. Hay như dưới thời Minh Mệnh, người nào muốn in ấn phải có đơn gửi lên cấp quản lý chuyên trách. Tuy vậy, nghề in sách vẫn không vì thế mà không có bước phát triển. Đặc biệt vào cuối thế kỷ XIX, khi nền kinh tế hàng hóa nảy nở, mạng lưới giao thông phát triển, các đô thị lớn nhỏ xuất hiện thì đời sống xã hội Việt Nam có những biến chuyển nhanh chóng, cùng với nhu cầu về đời sống tinh thần của người dân đã khiến cho nghề in nở rộ và trở thành một nghề kinh doanh trong xã hội. Các cơ sở tư nhân mọc lên khắp nơi. Chính vì thế, số thư tịch của ta hiện còn, phần lớn được làm ở giai đoạn này.
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam lại có những chuyển biến quan trọng. Văn minh phương Tây xâm nhập, đã làm đảo lộn những khuôn phép mà triều đình phong kiến Việt Nam cố công duy trì bấy lâu nay. Các giá trị văn hóa Nho giáo không còn được tôn sùng như trước nữa. Nó đã bị lung lay, khô cứng và trở nên méo mó đến thảm hại:

Nào có ra gì cái chữ Nho
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co….

Lúc này cùng với bước chân xâm lược của thực dân Pháp, một số sản phẩm của nền văn minh hiện đại bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam. Trong đó phương thức in bằng con chữ rời đã có những ảnh hưởng lớn tới việc in ấn xuất bản của Việt Nam. Như trên đã nói, nghề in mộc bản gắn liền với văn hóa chữ Hán và giáo dục khoa cử. Thế nhưng ở vào thời điểm nền Nho học nước nhà bắt đầu suy thoái, thêm nữa lối in chữ rời hết sức tiện lợi đã xuất hiện song nghề in mộc bản không phải đã mất đi vai trò của mình. Không những thế lại còn xuất hiện thêm nhiều cơ sở in ấn mới. Tại sao lại như vậy ? Điều này hoàn toàn được quyết định bởi những nguyên nhân lịch sử xã hội:
Sự lỏng lẻo về vương quyền bên cạnh sự biến chuyển dữ dội của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khiến nhu cầu về sách vở, và các tri thức khoa học trở nên thiết yếu, khiến cho hàng loạt những hiệu, đàn, trai, lâu…. ra đời, báo hiệu một thời kỳ nở rộ của nghề in, kéo theo sự lụi tàn dối già của nền Nho học nước nhà”.
Với tư cách là kinh đô của đất nước, đương nhiên việc in ấn sách ở Hà Nội giữ một vị trí quan trọng. Ngoài hai khu vực đền chùa (chủ yếu in kinh sách ấn tống phục vụ nhu cầu tôn giáo) và triều đình (chủ yếu là các bộ sử) thì ở Hà Nội đầu thế kỷ XX, các nhà in tư nhân hết sức phát triển. Nổi tiếng nhất là phố Hàng Gai với những tên: Liễu Văn đường, Tụ Văn đường, Phúc Văn đường, Đồng Văn đường, Quảng Thịnh đường, Cẩm Văn đường, Quan Văn đường, rồi tới phố Hàng Đào với áng Hiên hiệu… Phố Hàng Ngang, Hàng Đào có bán cả sách Trung Quốc. Nơi bán sách cũ thì nằm trên phố Hàng Quạt…

Mảng sách phục vụ khoa cử:
Mặc dù chế độ khoa cử Việt Nam đầu thế kỷ XX có nhiều xáo trộn, song tới tận năm 1919 mới kết thúc bằng khoa thi Hương cuối cùng. Nhu cầu về sách vở phục vụ thi cử là không thể thiếu. Có điều, do nội dung thi cử có phần thay đổi, từ kinh nghĩa, thơ phú chuyển sang văn sách, luận và thêm cả một phần quốc ngữ (dùng chữ cái La-tinh) nên các tập luận và văn sách được chọn lọc và bán khá nhiều như như Luận thể tân thức do hiệu Cát Thành số 3 Hàng Gai in năm 1911, Hội đình văn tuyển (từng được cơ sở Liễu Chàng in năm 1838, sau được Liễu Văn đường, Đồng Văn đường, úc Văn đường nhiều lần tái bản), Hương thí văn tuyển (Liễu Văn đường, úc Văn đường, Trường Văn đường xuất bản), rồi Hà Nam hương thí văn tuyển (Gia Liễu đường, Liễu Văn đường), Luận ngữ tinh hoa ấu học (Lạc Tĩnh viên). Bên cạnh đó là các bộ sử như Trung học Việt sử toát yếu (ván in để tại số 22 Hàng Bè), Nam quốc địa giáo khoa thư, Văn minh tân học sách… của nhóm Đông Kinh nghĩa thục. Bộ Danh gia quốc âm, được hiệu Long Đức ở Hàng Thiếc in hai lần vào hai năm gần nhau 1902,1904……
Bên cạnh mảng sách khoa cử phục vụ tầng lớp Nho sinh, mảng truyện Nôm vốn ra đời ở thế kỷ XVII, phát triển mạnh ở thế kỷ XVIII, XIX đến đầu thế kỷ XX lại tiếp tục phát triển. Ngoài việc tái bản những cuốn cũ còn có thêm nhiều đầu sách mới nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của người dân. Riêng cuốn Phạm Công – Cúc Hoa, từ năm 1907 đến năm 1936, được in cả thảy 15 lần (trong phạm vi cả nước). Đặc biệt là Truyện Kiều được in cả thảy 32 lần. Trong số 25 lần in có ghi rõ thời gian và nhà tàng bản thì có tới 16 lần được in tại Hà Nội. Các truyện Nôm khác, với những đề tài cũ, mới không ngừng ra đời như Lưu Bình Dương Lễ tân truyện, Lưu Nguyễn nhập Thiên Thai tân truyện, Quan m chính văn tân truỵện, Mỹ nữ cống Hồ, Bạch Viên tân truyện, Nam nữ đối ca, Đồng tiền truyện… rồi những bản diễn trò như trò Hà Ô Lôi, trò Nghiêu Thuấn… cũng rất phổ biến.
Ngoài ra, còn có những loại sách thuộc lĩnh vực khác như luật, toán, và một số cuốn kinh Phật do cá nhân tự bỏ tiền ra in như bà Trần Thị Trường ở Hàng Gai… Đặc biệt đã xuất hiện những sách cổ động duy tân của nhóm Đông Kinh nghĩa thục. Những sách này, theo Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập I, được tạo nên ngoài phương thức in mộc bản truyền thống, còn có cả lối in hoạt tự (xem mục Văn minh tân học sách). Một điều không thể không nhắc đến là một số cơ sở in ấn ở Hà Nội đầu thế kỷ XX, cùng với các thiện đàn” khác trong cả nước, tiếp tục in ấn nhiều thơ văn giáng bút. Nếu như trước đó văn giáng bút chỉ đơn thuần là lời của Phật, Tiên, Thánh khuyên răn con người ăn ở thiện tâm thì sang đầu thể kỷ XX nó đã mang thêm nội dung mới. Ta đã biết, giữa thế kỷ XIX, phong trào Cần vương diễn ra khá sôi nổi. Bằng những vần thi ca đầy nhiệt huyết, các nhà Nho tích cực kêu gọi nhân dân chống Pháp. Sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp ra sức khủng bố phong trào, cấm lưu hành thơ văn “chống đối”. Để hợp pháp hóa việc tuyên truyền, nhiều nhà Nho của ta liền mượn ngày lời của Phật Tiên Thánh khuyên răn con người ăn ở thiện tâm thì sang đầu thế kỷ XX nó đã mang thêm những nội dung mới. Ta đã biết, giữa thế kỷ XIX, phong trào Cần Vương diễn ra khá sôi nổi. Bằng những vần thơ ca, các nhà Nho tích cực kêu gọi nhân dân chống Pháp. Sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp ra sức khủng bố, cấm lưu hành thơ văn “chống đối”. Để hợp pháp hóa việc tuyên truyền các nhà Nho liền dùng lời của Phật, Tiên, Thánh kêu gọi nhân dân đoàn kết, chống thói hư tật xấu, chống cường quyền áp bức, nhằm chấn hưng văn hóa dân tộc, văn hóa Thăng Long. Lời của Phật, Tiên, Thánh ở đây không chỉ lấy lời của những nhân vật bên Trung Quốc nữa mà chính là lời của những vị anh hùng dân tộc, những vị” thánh” của dân tộc Việt. Hình thức thể hiện cũng trở nên gần gũi qua những vần thơ Nôm dễ thuộc, dễ nhớ. Chính vì thế nó đã khơi gợi được tinh thần dân tộc, kêu gọi nhân dân đứng lên cứu nước cứu nòi.

Sau năm 1919 chế độ khoa cử chấm dứt song nghề in sách mộc bản ở Việt Nam vẫn tồn tại lác đác đến tận kháng chiến chống thực dân Pháp, và dần thu hẹp phạm vi trong các đền chùa chỉ để in kinh, in thẻ…
Các cơ sở in sách mộc bản trên phố phường Hà Nội đầu thế kỷ XX:
– Áng Hiên hiệu (Hàng Đào)
– Cát Thành hiệu (Hàng Gai)
– Cẩm Văn đường (Hàng Gai)
– Công Thiện đường (?)
– Đông Kinh ấn quán (?)
– Đồng Văn đường (Hàng Gai)
– Lạc Tĩn Viên (?)
– Lạc Khuyến đường (?)
– Liễu Văn đường (Hàng Gai)
– Long Đức hiệu (Hàng Thiếc)
– Mạc Đình Tư hiệu (Hàng Bông)
– Mỹ Văn Đường (?)
– Nghĩa Lợi hiệu (?)
– Nhà in Lê Văn Tân (?)
– Nhà in Viễn Đông (?)
– Phúc An hiệu (?)
– Phúc Văn đường (Hàng Gai)
– Quan Văn đường (Hàng Gai)
– Quảng Thịnh đường (Hàng Gai)
– Thịnh Mỹ đường (Hàng Gai)
– Tụ Văn đường (Hàng Gai)

Đặc biệt có một số cơ sở in còn ghi cả địa chỉ cụ thể như:
Hiệu áng Hiên số 24 Hàng Đào.
Hiệu Cát Thành số 3 Hàng Gai.
Hiệu Mạc Đình Tư 136 Hàng Bông.
Số nhà 22 Hàng Bè.

Hà Nội không chỉ là nơi địa linh nhân kiệt mà còn là nơi nổi tiếng Thi Thư. Chính những cơ sở in này đã góp phần làm nên diện mạo văn hiến một thời của dân tộc ta nói chung cũng như diện mạo văn hiến Thăng Long nói riêng. Nó đã ghi lại đời sống văn hóa của dân tộc trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Nghề in và các cơ sở in ấn ở Hà Nội đầu thế kỷ XX đã có một vai trò tích cực trong việc chấn hưng văn hóa dân tộc, văn hóa Thăng Long.

@Nguyễn Thi Dương

Những điều bạn cần biết về Nhà hát Lớn Hà Nội

868 views

Nhà hát Lớn Hà Nội là công trình có kiến trúc hoàn hảo, quy mô bậc nhất, góp phần định hình kiến trúc, diện mạo của Thủ đô Hà Nội ở nửa đầu thế kỷ XX. Nơi đây vẫn lưu giữ những câu chuyện bí ẩn như: Tác giả thực sự của công trình này, nhà hát không hề có tiếng khi thử âm lần đầu tiên… Cuối tháng 6, Nhà hát Lớn Hà Nội chính thức mở cửa phục vụ du khách trong và ngoài nước tham quan, khám phá…

Tại sao công trình lại quá đồ sộ ?

Theo tư liệu chính thức từ website của Nhà hát Lớn Hà Nội, nhà hát vốn nằm trên một vùng đầm lầy thuộc đất của hai làng Thạch Tần và Tây Luông thuộc Tổng Phúc Lân, huyện Thọ Xương. Vào năm 1899, Hội đồng thành phố nhóm họp dưới quyền chủ tọa của Richard, Công sứ Pháp tại Hà Nội đề nghị lên Toàn quyền Fourer cho xây nhà hát. Tác giả đồ án thiết kế là hai kiến trúc sư Harlay và Broyer. Bản thiết kế này phải sửa đổi nhiều lần do nhận được sự góp ý của nhiều kiến trúc sư. Công trình được khởi công vào ngày 7-6-1901, dưới sự giám sát kỹ thuật của thanh tra đô thị, kiến trúc sư Harlay, một trong hai tác giả thiết kế. Người phụ trách thi công là hai ông: Travary và Savelon.
Việc san lấp mặt bằng diễn ra rất vất vả. Hằng ngày có 300 công nhân làm việc, 35.000 cọc tre được đóng với khối bê tông làm nền dày 90cm. Công trình đã sử dụng hơn 12.000m3 vật liệu, gần 600 tấn gang thép; chiếm diện tích 2.600m2, chiều dài là 87m, chiều rộng là 30m, điểm cao nhất so với mặt đường là 34m. Mặt trước của công trình rất bề thế, những bậc thềm chạy dài trước nhà hát để đón thẳng xe của các quan chức thuộc địa đến xem.
Những người thiết kế công trình đã tìm tòi, tham khảo kiểu kiến trúc cổ Hy Lạp Coranhtơ kết hợp với kiểu lâu đài Tuylơry và Nhà hát Opéra Paris để tạo nên một khối kiến trúc riêng biệt.
Bên trong nhà hát trước đây có sân khấu rộng và một phòng khán giả chính diện tích 24x24m, chứa 870 chỗ ngồi, ghế bọc da, một số chỗ bọc nhung. Tầng giữa có nhiều phòng nhỏ dành cho khán giả có vé riêng. Cầu thang giữa lên tầng hai là một sảnh chính rộng. Cầu thang phụ và hành lang ở hai bên. Phía sau nhà hát là một phòng quản trị, có 18 buồng cho diễn viên hóa trang, 2 phòng tập hát, 1 thư viện và phòng họp. Nhà hát là nơi biểu diễn các loại hình nghệ thuật cổ điển như Opéra, nhạc thính phòng, kịch nói… phục vụ cho tầng lớp quan lại thượng lưu người Pháp và một số ít người Việt giàu có.
Lịch biểu diễn một tuần 4 lần vào thứ ba, thứ năm, thứ bảy và chủ nhật. Kinh phí xây dựng nhà hát được duyệt là 2.000.000 franc Pháp – một khoản tiền rất lớn vào thời đó. Không chỉ báo chí, nhiều quan chức trong Chính phủ Pháp đã đặt câu hỏi: Tại sao lại bỏ khoản tiền lớn như vậy để xây một nhà hát bề thế trong khi dân số ở thành phố thuộc địa này ít hơn rất nhiều so với Paris; phải chăng có sự cấu kết ngầm giữa quan chức có quyền duyệt chi với các công ty thầu? Hay cho tương lai của Hà Nội? Đó vẫn là những câu hỏi còn tồn tại cho đến hôm nay.

Nhà hát Lớn Hà Nội

Ai là “cha đẻ” của Nhà hát Lớn ?

Có nhiều người cho rằng, Nhà hát Lớn Hà Nội giống Nhà hát Opéra Garnier của Pháp xây dựng vào nửa cuối thế kỷ XVIII. Tuy nhiên KTS Hoàng Đạo Kính lại không đồng tình quan điểm này, ông chia sẻ: “Tôi đã từng nhiều lần đến thăm Nhà hát đó ở Paris và thấy rằng Nhà hát Lớn Hà Nội không phải là phiên bản của Nhà hát Garnier. Bởi vì Nhà hát Opéra Garnier rất đồ sộ, nguy nga và rất cầu kỳ với 2.600 chỗ, trong khi Nhà hát Lớn Hà Nội chưa đầy 1.000 chỗ. Nếu có giống nhau thì có chăng là về chức năng, cấu trúc, không gian mặt bằng mà thôi.
Còn về mặt kiến trúc, Nhà hát Lớn Hà Nội là một sự phát triển đặc trưng của lối kiến trúc Pháp ở một nước thuộc địa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong đó có sự biểu hiện, tiếp nối của kiến trúc tân cổ điển và kiến trúc tân Ba rốc. Thậm chí có những nhân tố bản địa hóa rất đặc biệt, độc đáo và có giá trị thẩm mỹ tự thân chứ không bắt chước một cái nào của Opéra Garnier cả. Nếu đặt Nhà hát Lớn Hà Nội bên cạnh các nhà hát tiêu biểu trên thế giới thì nó rất độc lập, không giống nhà hát nào về mặt kiến trúc”.
Cũng theo một tài liệu mà người viết có được thì GS.KTS Hoàng Đạo Kính, người chủ trì công cuộc trùng tu Nhà hát Lớn vào những năm 90 của thế kỷ trước cũng từng băn khoăn rằng tác giả của công trình này cho đến nay vẫn là một ẩn số. Nhiều kiến trúc sư đã tìm trong không ít hồ sơ cả ở Việt Nam và ở Pháp nhưng cho đến nay vẫn chưa biết được ai là tác giả của công trình này. Vì vậy, cũng dễ hiểu khi không chỉ các kiến trúc sư mà ngay cả chúng ta đều có mong muốn được tìm hiểu, làm rõ ai là tác giả thực sự của một công trình độc đáo ở xứ Đông Dương thuộc địa xa vời với nước Pháp mà lại chín muồi đến thế…(còn nữa)
KTS Hồ Thiệu Trị, người sáng lập kiêm Tổng Giám đốc HTT Group, đồng thời cũng là người tham gia vào việc trùng tu Nhà hát Lớn Hà Nội trong giai đoạn 1995-1997 cho biết: “Năm 1994, lần đầu tiên từ Pháp về Việt Nam, tôi đến thăm nhà hát. Nhìn thoáng qua, tôi thấy công trình giống như những nhà hát ở Pháp và Châu Âu, nhưng khi quan sát kỹ, lại thấy phảng phất đường nét, chi tiết rất Việt Nam.
Nhà hát Lớn được thiết kế rất đúng với tinh thần của kiến trúc thuộc địa, ở thời điểm đó, tại Việt Nam chưa có mô hình nhà hát lớn nào làm hình mẫu. Sự tồn tại của Nhà hát Lớn Hà Nội đến giờ được coi là duy nhất ở Đông Nam Á”.

© Lâm Vũ

Nhà Đấu Xảo Hà Nội vào thế kỷ XIX

787 views

Nhà Đấu Xảo Hà Nội, Hà Nội năm 1902.
Đấu Xảo là khu triển lãm – hội chợ cũ của Hà Nội, do kiến trúc sư Adolphe Bussy thiết kế. Hình được chụp vào một ngày lễ đánh dấu khai mạc hội chợ. Hội chợ được khánh thành ngày 16 tháng 11 năm 1902 và kéo dài đến ngày 15 hay 16 tháng 2 năm 1903, do Toàn quyền Paul Bert chủ trì. Sau hội chợ, tòa nhà chính trở thành Bảo tàng Maurice Long – Viện bảo tàng kinh tế đầu tiên và lớn nhất của Đông Dương.
Trong Thế chiến lần thứ 2, tòa nhà bị bom Mỹ phá hủy. Di tích còn lại là hai bức tượng sư tử bằng đồng nay đặt tại rạp xiếc Hà Nội trong khu vực công viên Thống Nhất.


Le Palais d’Expositions de Hanoi en 1902. Il fut dessiné par l’architecte Adolphe Bussy. La photo fut d’un jour de festivités marquant l’inauguration de l’Exposition. L’Exposition de Hanoi dura quatre mois, du 16 novembre 1902 au 15 ou 16 février 1903 et voulue par le Gouverneur général Paul Doumer. Après l’Exposition, le Palais Central devînt le Musée Maurice Long – le premier et le plus grand Musée d’Economie de l’Asie du Sud-Est.
Pendant la Seconde Guerre Mondiale, le monument fut détruit par les bombardements américains. Les seuls vestiges qui subsistent jusqu’à nos jours sont deux lions en bronze que l’on peut voir dans l’enceinte du cirque de Hanoi, situé dans le Parc de la Réunification (parc Thống Nhất).


The Hanoi Exhibition Center in 1902. The site of the fair, the Palais d’expositions, was designed by the architect Adolphe Bussy. The picture was taking a day of festivities marking the inauguration of the Exhibition. The Hanoi Exhibition was held between November 16, 1902 and February 15 or 16,1903 and wanted by the Governor General Paul Doumer. After the Exhibition, the site of the fair became the Museum Maurice Long – the first and largest Economy museum in Southeast Asia.
During World War II, the monument was destroyed by American bombing. The only vestiges that remain nowaday are two bronze lions that can be seen inside the circus Hanoi, located in the Park of Reunification (Thống Nhất).

Nhà Đấu Xảo Hà Nội 1902

Tứ Đại Mỹ Nhân Hà Thành

426 views

“Tứ Đại Mỹ Nhân” Hà Thành: cô Phượng Hàng Ngang, cô Síu Cột Cờ, cô Nga Hàng Gai và cô Bính Hàng Đẫy. Bốn bông hồng của Hà Thành, vào giữa thập niên 30, được xem như đặc trưng của người Tràng An. Vẻ đẹp của bốn nàng thơ Hà Nội làm say đắm biết bao trái tim của nhiều công tử si tình, cũng như khiến bao tay nhiếp ảnh phương Tây mê mẩn và say đắm theo chân.


“Les Quatre Beautés” du Tonkin: Mlle Phượng Hàng Ngang, Mlle Síu Cột Cờ, Mlle Nga Hàng Gai et Mlle Bính Hàng Đẫy.  Considérées comme les quatre plus belles femmes du Tonkin, au milieu des années 30, tant sur la beauté que sur la grâce et les valeurs de la femme vietnamienne de l’époque, elles ont fait vibrer le coeur de tous les jeunes hommes de bonne famille du Tonkin et servirent de modèles à beaucoup de photographes étrangers de passage au Tonkin.


“Four Beauties” of Tonkin: Miss Phượng Hàng Ngang, Miss Síu Cột Cờ, Miss Nga Hàng Gai and Miss Bính Hàng Đẫy. Considered as the four most beautiful women of Tonkin in the mid of the 30s, in beauty and in grace, also in the values of the Vietnamese woman of the time, they have thrilled the hearts of all the young men from the good family in Tonkin and served as models for many foreign photographers While passing through Tonkin.

Hồ Gươm năm 1948

353 views

Hồ Gươm, Hà Nội tháng 07 năm 1948


Le lac Hoan Kiem ou lac de l’Epée,
(Hanoi, Juillet 1948)


Hoan Kiem Lake, meaning “Lake of the Returned Sword” or “Lake of the Restored Sword”, also known as Hồ Gươm (Sword Lake),


(Hanoi, July 1948)