Cuộc Sống Đời Thường

Người Sài Gòn trước 1975 và những chuyến bay qua ống kính của Bill Eppridge

264 views

Nhiếp ảnh gia nổi tiếng người Mỹ Bill Eppridge đã ghi lại những bức ảnh đặc sắc trong một chuyến bay dân sự ở sân bay Tân Sơn Nhất (Sài Gòn) ngày 14/7/1965

Trước 1975, sân bay Tân Sơn Nhứt có nhiều chuyến bay nhất Đông Nam Á, quỹ đất để mở rộng sân bay đến 3.600 ha, gấp 3 lần sân bay Changi của Singapore.

Người Sài Gòn Xưa Đi Máy Bay
Các con đường dẫn vào sân bay Tân Sơn Nhất được kiểm tra an ninh nghiêm ngặt
Người Sài Gòn Xưa Đi Máy Bay
Xe buýt của sân bay đón khách
Người Sài Gòn Xưa Đi Máy Bay
Bên trong ga hành khách sân bay Tân Sơn Nhất
Người Sài Gòn Xưa Đi Máy Bay
Tại quầy làm thủ tục
Người Sài Gòn Xưa Đi Máy Bay
Hành khách bước vào khu phòng chờ sau khi làm xong thủ tục
Người Sài Gòn Xưa Đi Máy Bay
Hành khách chờ lên máy bay
Người Sài Gòn Xưa Đi Máy Bay
Nữ tiếp viên dẫn khách ra máy bay
Người Sài Gòn Xưa Đi Máy Bay
Một hành khách đặc biệt: Thiền sư Thích Nhất Hạnh (người quàng khăn tối màu)
Người Sài Gòn Xưa Đi Máy Bay
Một hành khách đặc biệt: Thiền sư Thích Nhất Hạnh (người quàng khăn tối màu)
Người Sài Gòn Xưa Đi Máy Bay
Hành khách phải đi bộ một quãng đường khá dài để lên máy bay. Người khuyết tật cũng không phải là ngoại lệ
Người Sài Gòn Xưa Đi Máy Bay
Hành khách mới hạ cánh xuống sân bay đi bộ vào nhà ga

“Dễ thương dễ sợ”, câu nói cửa miệng của dân Sài Gòn

428 views

Hồi những năm 1970 – 1980 ở Sài Gòn thịnh hành câu nói cửa miệng: “dễ thương dễ sợ”, nhất là trong giới trẻ học sinh, sinh viên.

Không hay ca ngợi bằng những tính từ như đẹp, sang trọng, quý phái… mà người Sài Gòn hay khen ai đó (thường là phụ nữ), một việc làm nào đó là “dễ thương”. Dễ thương, là thấy có cảm tình, quý mến, dễ chịu qua dung nhan, cư xử, hành vi, ngôn ngữ. Phụ nữ ở tuổi nào tầng lớp nào cũng có thể là người “dễ thương”. Thường nghe mấy bạn trai trò chuyện “nhỏ đó dễ thương” khi nói về cô bạn hàng xóm hay cùng lớp, mấy ông hay nói “chị đó, cô đó dễ thương” khi nói về đồng nghiệp, bạn bè… Phụ nữ thượng lưu cũng muốn được khen dễ thương, vì ngoài sự sang trọng còn là sự duyên dáng, ý nhị.

Nhưng đừng tưởng khen người ta “dễ thương” là có thể “thương dễ”, tán tỉnh sàm sỡ, coi vậy chớ “thương không dễ” đâu nha. Ngược với “dễ thương” là “dễ ghét” hay “thấy ghét” nhưng có khi không phải là “ghét” thiệt!

Nếu “dễ thương” là… dễ thương thiệt thì “dễ sợ” không hẳn là “sợ”, nhất là khi được các cô gái nói ra với ngữ điệu kéo dài chữ “dễ” và nhấn vào âm “s” của chữ “sợ” thì không có gì… dễ thương bằng. “Dễ sợ” là ngạc nhiên, trầm trồ, khi lại là chê trách, khi là câu trả lời vô thưởng vô phạt khi nghe câu chuyện nào đó. “Dễ sợ” là sự bày tỏ thái độ trước sự việc, hiện tượng, câu chuyện chứ ít dùng với người như một tính từ.

Vậy nhưng người Sài Gòn lại hay nói ghép thành “dễ thương dễ sợ”! Đó là dễ thương lắm á, đến nỗi không chỉ bày tỏ sự cảm mến mà còn thán phục, ngưỡng mộ. Mà cũng chỉ thấy những nàng trẻ trung duyên dáng được “đánh giá” là dễ thương dễ sợ, chớ có chồng con rồi, nếu được ai khen câu này – nhất là mấy ông chồng – thì chắc là phần “dễ sợ” nhiều hơn.

Lần đầu nghe thấy hai từ “dễ thương”, “dễ sợ” tôi đã kết ngay. Có lẽ ít có từ nào thể hiện sự hồn hậu của người Sài Gòn phổ biến như thế: là nhẹ nhàng khen ngợi và không nặng nề chê bai… Tuy có phần “cảm tính” nhưng lịch sự, thật lòng, không “khẳng quyết” nên người được khen là “dễ thương” không bối rối hay ngượng ngùng, người hay hành vi “dễ sợ” cũng không buồn, đôi khi còn vui vui vì nhận ra sự “tán thưởng” ngầm trong đó. Ai không đồng tình cũng không cần phản bác, dễ thương hay dễ sợ chỉ hơn bình thường chút thôi, đôi khi là trong một khoảnh khắc một ngữ cảnh nhất định, đâu cần phải tranh cãi. Người Sài Gòn, người miền Tây vẫn cởi mở như thế và từ đó luôn nhận thấy xung quanh có nhiều điều “dễ thương dễ sợ”.

Như nhiều người đã biết, ngôn ngữ là một trong những thành tố văn hóa quan trọng nhất vì nó là biểu hiện trực quan của thái độ, cảm xúc con người, đời sống xã hội và sắc thái văn hóa địa phương. Cùng với ngữ điệu, ngôn ngữ thể hiện sự phong phú và tinh tế của tình cảm, những mối quan hệ của con người và phần nào cả lịch sử một cộng đồng, nhất là ở những đô thị lớn.

Ngày mới vô Sài Gòn, khi ra chợ tôi rất ngạc nhiên khi nghe cách chào hỏi: cậu, dì, con, cháu… những xưng hô thân tộc bên mẹ chiếm ưu thế ở chợ – một xã hội thu nhỏ. Lối xưng hô này nay chỉ còn trong vài chợ nhỏ lâu đời, nơi mà người bán người mua đều quen thuộc nhau đến vài mươi năm, thậm chí còn là bà con lối xóm. Cùng với “cậu dì con cháu” là “mua giúp, mua giùm”. “Tiền trao cháo múc” vẫn coi là vui vẻ giúp nhau, quan hệ người mua người bán là dịch vụ đấy nhưng thân thiện và tình nghĩa. Không mua bán được thì “lần sau nhớ ghé mua giúp nghen” như một câu chào dễ thương.

“Dễ thương dễ sợ”, câu nói cửa miệng của dân Sài Gòn

Nhà tôi trong một hẻm nhỏ ở vùng Phú Nhuận gần sân bay Tân Sơn Nhứt, xung quanh toàn biệt thự và lối xóm là những gia đình công chức, phu nhân của tướng tá quan chức và các cô chiêu cậu ấm. Người Nam có người Bắc di cư 1954 cũng có, kín cổng cao tường ít khi gặp mặt nhưng khi nhìn thấy nhau luôn chào hỏi niềm nở. Người bán hàng rong mỗi ngày qua đây cũng thành người quen của xóm, bữa nào có thiếu dư chút đỉnh tiền bạc không sao. Đặc biệt cách trả giá của mấy dì mấy cô rất nhẹ nhàng, không chê bai hàng hóa xấu đẹp hay miệt thị người bán đắt rẻ, được giá thì mua không thì thôi… Cứ lựa hàng tính tiền, bữa nào giá cả lên xuống thì nói trước, còn cho thêm nắm hành trái ớt… Việc chi tiêu tốn kém hơn dường như làm cả người bán cũng thấy xót xa chớ không chỉ người mua, ấy là hồi những ngày khó khăn thập niên 70, 80 của thế kỷ trước.

Hồi đó ra đường vẫy chiếc xích lô, bác tài không đi được thì xin lỗi mà khách cũng cám ơn. Cám ơn là câu cửa miệng của cả người bán người mua. Gặp người lạ muốn hỏi thăm thì xin lỗi trước, được việc xong là cám ơn liền… Một nụ cười đáp trả như nói “không có chi” mang lại sự vui lòng cho cả hai bên. Cám ơn xin lỗi từ mọi giọng nói Bắc Trung Nam, từ khu biệt thự sang trọng tới xóm nhà lá, từ trường học đến công sở…

Cho tới giờ, dù mất đi nhiều ngôn ngữ thịnh hành hồi cuối thế kỷ trước nhưng cũng may nhiều người Sài Gòn còn giữ được thói quen “cám ơn” và “xin lỗi” – mừng nhất là thói quen này ở con nít và người trẻ. Đi ngoài đường nhắc nhau gạt chân chống, tắt đèn xinhan, cuốn sợi dây cột đồ… rồi chạy tuốt, người được nhắc vẫn nói với theo câu “cám ơn” dù mặt mũi ai cũng bịt kín mít chẳng biết xưng hô thế nào cho đúng.

Hồi đó ở Sài Gòn có đám đánh lộn chửi nhau không? Có chớ! Trong hẻm, trong chợ, ở quán nhậu… Bình thường xưng hô ông tui, lúc “cao trào” thì chửi thề và “mày, tao” với nhau, khi gọi “mày tao” với người lớn tuổi hơn là hỗn hào nhất rồi. Giận mấy thì giận cũng chỉ ngang hàng “bình đẳng”, không trèo leo đòi làm “ông bà cha mẹ” ai. Chắc vậy nên oánh nhau chửi lộn xong thì cũng… thôi, không để bụng thù dai.

Hồi đó ở Sài Gòn nghe giọng Sài Gòn, giọng miền Tây nhiều, giọng Bắc giọng Trung cũng không ít, nhưng tất cả đều mang âm sắc nhẹ nhàng, âm lượng vừa đủ, lịch sự. Ngữ điệu cũng vậy, dễ nghe, dường như ai đến thành phố này giọng nói cũng “lai” một chút để có thể tiếp xúc với nhau một cách thân thiện dễ dàng. Những giọng nói như vậy tiếc là Sài Gòn nay ngày càng ít đi. Khi xem những bộ phim về Sài Gòn “hồi đó” thấy ngôn ngữ trong phim như của một nơi xa lạ, hổng phải Sài Gòn như bây giờ…

Ngôn ngữ bây giờ phong phú và “đáo để” hơn trước, nhiều tính từ trực diện mạnh bạo, tiếng lóng, sự ám chỉ, liên tưởng cũng nhiều, âm sắc cao hơn, tốc độ nhanh hơn và âm lượng thì hiếm nơi nào chỉ vừa đủ nghe… Người đi xa mà nghe TV hay đọc “báo mạng” thì khó hiểu, thậm chí khó chịu. Thật ra đây cũng là một quy luật của văn hóa: Cộng đồng dân cư thế nào thì ngôn ngữ như thế: sự phong phú, phức tạp, biến đổi dân cư quá nhanh, tâm thức và vị thế của các nhóm dân cư cũng thể hiện bằng và qua ngôn ngữ.

Có cảm giác như ngôn ngữ Sài Gòn không chỉ thay đổi theo cộng đồng dân cư thành phố mà còn thay đổi do tốc độ cuộc sống: thời thong thả tản bộ, thời của những chiếc xe đạp mini, xe Solex hay xe máy Honda đã thay thế bằng xe máy phân khối lớn và xe hơi, âm thanh máy quay đĩa và dàn Akai đã thay thế bằng âm thanh của Video và loa thùng karaoke “kẹo kéo”… Những tiếng nói “dễ thương” cứ bị khuất chìm dười những thanh âm “dễ sợ” của một thành phố ngày càng xô bồ nhộn nhạo…

Vẫn biết cuộc đời dâu bể mà sao cứ nhớ thương hoài về Sài Gòn “dễ thương dễ sợ” ngày xưa…

Tác giã : Nguyễn Thị Hậu

Xà bông Cô Ba hương xưa một thuở

952 views

Cô Bà có trước Cô Ba, nhưng không ai nhớ Cô Bà là ai. Khoảng 1910 công ty xuất nhập cảng Pachod Frères có đại lý ở VN từng bán một sản phẩm tên “Savon Cô Bà” do họ đặt Cty F. Moreau & Fils bên Pháp sản xuất. Đầu thập niên 1920 họ đổi tên thương hiệu từ “Cô Bà” thành “Cô Ba”. Khi Pháp rời Đông Dương, nhãn hiệu cầu chứng “Cô Ba” của Pachod hết hiệu lực. Sau này người Việt quen gọi “Xà Bông Việt Nam” của ông Trương văn Bền là xà bông Cô Ba vì có hình một phụ nữ nhiều người lầm tưởng là cô Ba Trà nức tiếng thuở nào…

Xà bông Cô Ba

Không biết bạn tôi kiếm đâu ra cục xà bông thơm Cô Ba mang ra khoe với bạn bè. Anh kể: “Về Sài Gòn đi mua đồ ở siêu thị bỗng dưng bắt gặp mấy hộp xà bông Cô Ba trưng bày trong một góc trên kệ khá khiêm tốn, tiện tay mua vài ba hộp mang về tặng cho các bạn làm quà…” Anh bạn tôi nói anh mua mấy cục xà bông, “Một là để nhớ lại hương xưa; hai là ghi nhớ công lao của người mở đường cho nền kỹ nghệ sản xuất xà bông Việt Nam mà cha tôi từng có thời gian dài làm tài xế chuyên chở cho công ty Xà Bông Việt Nam có trụ sở trên đường Kim Biên, ở Chợ Lớn”. Thuở đó, hồi năm 1960, ông Trương Văn Bền không còn làm chủ tại công ty, và cha anh chỉ thấy ông qua tấm ảnh lớn treo trong phòng làm việc của ông Tổng giám đốc Trương Khắc Trí. Anh nhớ cha kể lại rằng năm đó cha anh xin được công việc tài xế lái xe tải cho công ty. Ông làm công việc này khá lâu, cho đến năm 1980 qua các đời Tổng giám đốc Trương Khắc Huệ, rồi đến ông Trương Khắc Cần. Ông được nghe nhiều câu chuyện kể rằng ông Trương Văn Bền giao công ty lại cho các con từ năm 1948, sang Pháp sống tại Paris cho đến khi qua đời vào năm 1956.

Ðể có một công ty sản xuất xà bông lớn nhất Nam kỳ vào thời ấy không phải dễ dàng, chưa kể những đối thủ cạnh tranh trong lãnh vực chế tạo xà bông đã xuất hiện trước đó cũng như sau khi ông thành lập Công ty Trương Văn Bền và các con – Dầu và Xà Bông Việt Nam (Truong Van Ben & fils – Huilerie et Savonnerie Vietnam) vào năm 1932 tại 40 Rue du Cambodge tức đường Kim Biên ngày nay. Trước đó Nam kỳ đã có công ty Savon 72 (tức xà bông 72 phần dầu), và sau đó Kỹ sư hoá chất Nguyễn Thành Nam du học bên Pháp về thấy xứ dừa quê mình là nguồn nguyên liệu chế biến dầu làm xà bông dồi dào nên ông mở công ty sản xuất xà bông; nhưng rất tiếc là ông thất bại. Sau khi thất bại trên thương trường, ông tự tu học và thành lập giáo phái riêng gọi là Ðạo Dừa, mở đạo tràng tại cồn Phụng, Bến Tre, rồi sau đó xây Chùa Hoà Ðồng Tôn Giáo ở Phú Lâm.

Xà bông Cô Ba
Công ty Trương Văn Bền và các con trên đường Kim Biên

Trước khi thành lập Công ty Dầu và Xà Bông Việt Nam, ông Trương Văn Bền nối nghiệp cha, bắt đầu theo nghề buôn đậu xanh, đậu phộng, đường… Nói chung là một tiệm bán sỉ hàng ngũ cốc tại chính địa chỉ công ty Trương Văn Bền và các con sau này. Nói là tiệm buôn nhưng thực chất quy mô không nhỏ trên diện tích đất của công ty vào thuở đó. Ngay cả các kho hàng lớn bên đường Ðồng Tháp gần đấy cũng là của cha ông Trương Văn Bền để lại cho mấy anh em của ông.

Là người biết cách làm ăn, năm 1905 ông Trương Văn Bền mua máy ép dầu chạy bằng hơi nước từ bên Pháp về, mở xưởng sản xuất và luyện tinh dầu ở Thủ Ðức. Công việc làm ăn thuận lợi, ông lấn sân sang các nhà máy xay gạo, xây dựng nhà hàng khách sạn. Tuy vậy những loại việc kinh doanh này không thu lợi bằng việc sản xuất các loại dầu. Năm 1918, ông mua thêm máy móc, khuếch trương sản xuất các loại dầu nấu ăn từ đậu phộng, dầu dừa, dầu cao su… kể cả các loại dầu dùng trong kỹ nghệ.

Trong ký sự “Một tháng ở Nam Kỳ” viết năm 1918, nhà báo Phạm Quỳnh có nhắc đến Trương Văn Bền: “Ông Trương Văn Bền là một nhà công nghiệp to ở Chợ Lớn, năm trước cũng có ra xem hội chợ ở Hà Nội, đem xe hơi ra đón các phái viên Bắc Kỳ về xem nhà máy dầu và nhà máy gạo của ông ở Chợ Lớn. Xem qua cái công cuộc ông gây dựng lên, đã to tát như thế mà chúng tôi thấy hứng khởi trong lòng, mong mỏi cho đồng bào ta ngày một nhiều người như ông, ngõ hầu chiếm được phần to trong trường kinh tế nước nhà và thoát ly được cái ách người Tàu về đường công nghệ thương nghiệp”.

Xà bông Cô Ba
Tỷ phú Trương Văn Bền

Trong đoạn ký của Phạm Quỳnh viết về ông Trương Văn Bền có hàm ý không coi ông là một người Tàu. Thực chất gốc gác tổ tông của ông Trương Văn Bền là người Quảng Ðông chạy sang Việt Nam lánh nạn nhà Thanh. Từ đời ông nội của ông là ông Trương Quốc Thái có thể được xem là người Việt Nam rồi. Ông Thái từng giữ chức Huyện thừa ở Rạch Giá; đến đời Tự Ðức được phong làm Phủ doãn Bình Thuận. Sau khi ông nội mất, cha ông là Trương Quanh Thanh về Chợ Lớn lập gia đình, làm ăn buôn bán. Trương Văn Bền sinh ở Chợ Lớn. Thuở nhỏ ông thừa hưởng nền giáo dục Hán học Tây học; lớn lên ông mang quốc tịch Liên bang Ðông Dương (xứ thuộc địa của Pháp), để thuận lợi làm ăn và phát triển sự nghiệp trên thương trường.

Nhờ những thành công trên thương trường, ông Trương Văn Bền được nhiều quan chức Pháp biết đến và mời ông tham gia vào những hoạt động kinh tế, chính trị ở xứ Nam kỳ, kể cả toàn cõi Ðông Dương. Ông hoạt động kinh tế trong nhiều lãnh vực. Một tài liệu ghi nhận, năm 1941 số tiền thuế của ông đóng cho chính phủ là 107,000 đồng (giá vàng thời điểm đó là 60đ/lượng).

Chiến tích thương trường của ông Trương Văn Bền kể ra thì không xiết. Bạn tôi cầm cục xà bông Cô Ba đưa lên mũi, thả hồn theo hương thơm Cô Ba từ một thuở xa xăm. Bạn nói ông nội tôi hồi còn sống kể rằng, thuở đời ông xà bông dùng trong nước và cả Ðông Dương đều nhập từ Pháp. Trong nước có sản xuất rất ít, chỉ là một loại xà bông đá dùng để giặt quần áo. Ngay cả xà bông đá, hầu hết người Việt mình cũng hiếm khi xài vì nghèo. Người nghèo thường dùng nước tro từ củi nấu, lắng lấy nước rồi ngâm quần áo, giặt giũ, đem phơi. Xà bông cho dùng là xà bông đá cũng là thứ hàng xa xỉ.

Ông Trương Văn Bền khôn khéo khai thác tâm lý người tiêu dùng. Mặt khác ông gia tăng sản xuất, hạ giá thành để có thể bán đến tay từng gia đình khắp xứ Ðông Dương. Trong báo Nam kỳ Lục Tỉnh Tân Văn năm 1932, khi Công ty Xà bông Việt Nam của ông Trương Văn Bền khai trương, ông đăng lời quảng cáo: “Người Việt Nam nên xài xà bông Việt Nam”. Việc lấy thương hiệu Savon Việt Nam hẳn là một chiến lược tiếp thị khôn ngoan của ông Trương Văn Bền.

Xà bông Cô Ba
Tỷ phú Trương Văn Bền cùng vợ và các con

Trong một đoạn hồi ký của ông Trương Văn Bền viết vào những năm cuối đời tại Paris, ông viết: “Tôi phải làm quảng cáo dữ lắm cho thương hiệu xà bông Cô Ba. Một mặt phải kiếm thế ép mấy hàng tạp hóa mua xà-bông Việt Nam về bán, vì tiệm tạp hóa hầu hết của khách trú, chúng xấu bụng không mấy khi chịu mua đồ của người Việt Nam chế tạo về bán, chỉ trừ khi nào món đồ ấy đã được thông dụng đem cho chúng một mối lợi hàng ngày thì chúng mới chịu mua. Tôi bèn huy động một tốp người cứ lần lượt hàng ngày đi hết các tiệm tạp hóa hỏi có xà bông Cô Ba bán không? Hễ có thì mua một, hai xu, bằng không thì đi chỗ khác, trước khi bước chân ra khỏi tiệm nói với lại một câu: “Sao không buôn xà bông Việt Nam về bán? Thứ đó tốt hơn xà bông khác nhiều”. Hết người này tới người khác rồi chủ tiệm cũng phải để ý lấy làm lạ, phải hỏi lại chỗ bán xà bông Việt Nam, cho người mua thử về bán. Tôi còn tổ chức những tốp quảng bá thương hiệu. Tốp thì ôm đờn ca vọng cổ tán dương tính chất của xà bông của hãng mình, tốp thì đi đánh võ rao hàng, rồi đá banh tôi cũng cho mặc áo thêu thương hiệu xà bông của hãng. Nói tóm lại tôi không bỏ lỡ một dịp nào mà không làm quảng cáo, nên xà bông Việt Nam bán chạy lắm”.

Các chiêu thức tìm khách, quảng cáo món hàng xà bông của ông Trương Văn Bền bày tỏ trong hồi ký còn rất nhiều. Tôi nghĩ đây là một cuốn sách hay cho những ai làm nghề thương mại. Thủ đoạn kinh doanh nhưng không làm hại người khác, mục đích là làm sao tiêu thụ được sản phẩm, đưa nó trở thành thương hiệu. Ngay cả bây giờ, khi nhắc đến xà bông thơm, người Sài Gòn ai cũng nhớ đến xà bông Cô Ba – hương xưa một thuở cho dù về sau có thêm nhiều mặt hàng xà bông thơm khác lần lượt bước vào thị trường.

Cô Ba là ai mà được ông Trương Văn Bền chọn biểu tượng cho sản phẩm xà bông thơm và các loại mỹ phẩm dưỡng da? Ông Nguyễn Ðức Hiệp ghi lại là: “Một trong những tin đồn huyền thoại dân gian kể lại thì Cô Ba chính là con gái Thầy Thông Chánh ở Trà Vinh, người đàn bà đẹp nhứt Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ 20. Theo ông Hứa Hoành viết về Những nhà phú hộ và người lừng danh ở Nam kỳ, thì cái hay của ông Trương Văn Bền là biết áp dụng tâm lý, đưa hình ảnh Cô Ba, người đẹp huyền thoại trong dân gian làm nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hoá của mình bán chạy. Nhưng các giai thoại và tin đồn như trên về Cô Ba đều không đúng. Thật ra người phụ nữ ấy chính là người vợ của ông. Ta có thể thấy hình ảnh trên nhãn hiệu và ảnh của phu nhân ông Trương Văn Bền là một. Vả lại, trước kia trong phòng làm việc của ông tại công ty Xà Bông Việt Nam có tượng bằng đồng đen hình vợ ông dùng làm mẫu cho hình trên hộp xà bông”.

Tác giã : Trang Nguyên (Báo trẻ online)

Hồi ức về góc phố ẩm thực Bưu Điện Sài Gòn

978 views

Ngày trước khu ăn uống trước Bưu điện Sài Gòn không một ông học sinh Taberd nào không biết. Bởi đơn giản là trường Taberd nằm trên đường Nguyễn Du bên hông Bưu điện, chỉ vài bước chân là đã tới khu vực ăn uống nằm trên vỉa hè rộng ở hai bên lối vào Bưu điện.

Taberd là một trường Tây tư thục nổi tiếng, học sinh đa số là con nhà giàu, trong túi lúc nào cũng rủng rỉnh tiền ăn hàng. Mỗi ngày một ông nhỏ đi học thôi bét nhất là 50 đồng (tiền thời bấy giờ), với số tiền này mấy ông có thể ăn một dĩa bột chiên, uống một ly chè là vừa đủ cho buổi sáng, đó là con nhà “nghèo”. Còn con nhà giàu thì trong túi từ 100 đồng trở lên. Đã vậy mỗi cuối tuần còn được thêm mấy trăm gọi là cho các ông mua truyện, mua đồ chơi cho khỏi “tủi thân” với bạn bè! Nhưng lấy tiền mấy ông nhỏ này không phải dễ, vì con nhà giàu nên ông nào cũng kén và sành ăn hàng một cây. Bằng chứng là trong trường có hai quán bán đồ ăn cho mấy ông, mà mấy ông hay gọi là quán Patiserie đọc trại ra là Pa-tí-xệ, nhưng các ông miễn cưỡng ăn vào giờ ra chơi mà thôi. Mấy ông chỉ thích ăn sáng ở ngoài khu Bưu Điện nhiều món ăn lạ hơn.

Trước cửa Bưu điện hai bên có hai quầy bán bánh mì mà tụi tôi hay gọi là bánh mì bưu điện, quầy nằm bên trái là tiệm Hương Lan (Nguyễn Văn Ngãi). Quầy bánh Hương Lan bán đủ loại bánh ngọt, bánh kem nhỏ. Bánh pâté chaud ở đây rất ngon với cái vỏ bán giòn tan và mềm mại bên trong. Nhưng quầy Hương Lan nổi tiếng nhất với bánh mì gà hoặc jambon xúc xích. Ổ bánh mì nhỏ thôi mà tụi tôi còn gọi là bánh mì cóc, với nước sốt beurre béo ngậy và thịt gà chiên xé nhỏ kèm thêm miếng jambon mặn, đồ chua và cái cọng hành lá ló cái đuôi xanh xanh ra ngoài , cắn vào một phát thì lên mây ngay, ăn một ổ cũng đủ ngán.

Phố ẩm thực Bưu Điện Sài Gòn - Bánh mì Hương Lan

Quầy bán bánh mì và bánh ngọt bên tay phải không bề thế bằng quầy Hương Lan, nhưng mấy ông anh lớn lại khoái cái quầy này vào bởi bên cạnh quầy có trổ một cánh cửa ra vào, kê vài cái ghế đẩu là chỗ để các ông ngồi nhâm nhi cà phê sáng và phì phèo đốt thuốc cho gọn.

Mỗi sáng ghé vào cái xe hàng ăn này là phải chờ vì bà con khoái món này lắm, xe cũng chỉ có 5 – 6 cái ghế để ngồi, đông quá có khi vừa đứng vừa ăn. Có bữa đi học trễ ,thèm dĩa bột chiên, thế là sà vào. Nhằm bữa chú Mạ đông khách nên phải đợi. Đến chừng dĩa bột chiên của mình cũng được đem ra nóng hổi, vừa thổi vừa nhai ngấu nghiến vài miếng thì tiếng chuông trường kêu leng keng giục giã vào học. Vội lùa thêm một vài miếng bột chiên nữa là ông nhỏ ôm cặp táp chạy thục mạng, có bữa quên cả trả tiền dĩa bột (nhưng không sao ,vì là khách ruột nên hôm sau trả cũng được).

Có cái xe đạp bán gỏi khô bò của một ông Tàu khác. Khô bò của ông này thuộc loại tuyệt hảo vừa ngon vừa cay, miếng khô bò hay miếng gan của ông ướp gia vị đậm đà lắm. Khô bò của ông có hai loại: loại gan mềm ăn rất béo và bùi , loại khô bò cứng và rất cay với nước gia vị sền sệt. Bốc một nhúm gỏi đu đủ đã bào sẵn vào cái đĩa bằng sắt ,tay cầm kéo của ông nhanh nhẹn cắt khô bò hay gan ra từng miếng, rưới một chút nước cốt dùng để ướp miếng khô bò lên trên dĩa gỏi, xắt thêm ít rau răm lên trên, rồi dích miếng tương ớt cắn một miếng nhai sừng sực gân guốc thấy đã làm sao! Bữa nào có tiền thì chơi thêm miếng gan béo ngậy vô nữa là sướng rên mé đìu hiu, nhất là khi nghe tiếng cây kéo trên tay ông lách cách rất điệu nghệ. Nếu chưa đã thì có khi tụi tôi quay sang cái xe bò bía bên cạnh, chơi thêm vài cuốn cho chắc bụng.

Món bò bía cũng của ông ba Tàu, nó đơn giản và rẻ tiền nên mấy ông nhỏ chỉ ăn chơi cho thêm phần thú vị. Nhưng có khi đông không kém, mấy ông đứng chầu rìa quanh cái xe đạp với nồi nước luộc những miếng củ đậu sôi sùng sục. Bàn tay chú thoăn thoắt gắp mấy miếng củ đậu vào cái bánh tráng nhỏ xíu, thêm ít tôm khô và hai miếng lạp xưởng thái mỏng, ít rau xà lách thế là xong. Cuốn ra được cái nào là mấy ông nhóc giành giựt nhau cái đó, cãi nhau chí chóe.

Về thức uống thì có mấy cái xe bán đủ thứ đậu như đậu xanh, trắng, đỏ với nước cốt dừa béo ngậy, rồi sâm bổ lượng… nhưng mê nhất là những xe bán nước si rô và kem: ly si rô cho kem vào ăn vừa lạ vừa đã gì đâu; hay là ăn bánh mì loại ngọt tròn tròn rồi múc vài muỗng kem bỏ vô, cho một tí sữa bò đặc vào và thêm một nhúm đậu phộng rang giã nhỏ, thì còn gì bằng . Đây cũng là thức uống và thức ăn lạ của thời ấy. Toàn món lạ đời nhưng ít ông nào bị Tào Tháo rượt trong trường, thế mới tài!

Nếu chán mấy món ăn bên Bưu điện thì xẹt ngang qua con hẻm nhỏ cạnh cổng Bộ Nội vụ (bót Catinat thời Pháp thuộc) sát bên trường ăn hàng cũng được. Chỗ này có hàng cơm tấm sườn bì chả ăn cũng “nhức nách” lắm. Sáng nào đi ngang cũng bị cái đám khói nướng sườn thơm phức quyến rũ mù mịt bay xộc vào mũi. Riêng tôi thì chấm cái gánh bán bánh mì bì, chả lụa của một o miền Nam chuyên mặc áo bà ba và cái quần đen Mỹ A láng mượt. Ổ bánh mì của o vừa dai vừa mềm và có vài chỗ hơi bị cháy, mà bỏ bì rồi cho mỡ hành lá vô hay chả lụa rồi chan nước mắm (o pha nước mắm ngon tuyệt chiêu), thuận tay dích miếng ớt xay xong đưa lên miệng là quên đường về. Tôi còn nhớ mỗi lần ghé vào mua bánh mì là được o tiện tay nựng má tôi một cái, và thường thêm cho một miếng chả lụa hay ít bì heo.

Em nào thèm chua thì sẵn có chiếc ba gác chất một dãy thố đựng các loại ổi, xoài, me, cóc, tầm ruột và những trái cà na, ô quả trám ngâm dấm chua chua ngọt ngọt, cắn một phát nghe giòn tan trong miệng. Món này đắt nhất lúc trưa Thứ bảy hay những buổi trưa tan trường về, vì buổi sáng ai lại đi ăn đồ chua cho nó cào ruột?

Vào năm 1976 khi trường Taberd (nay là trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa) đóng cửa thì góc phố ẩm thực này mới giải tán.

Tác giã : Vũ Văn Chính (Người Đô Thị)

Chuyện kể về các thầy bói đất Sài Gòn xưa

999 views

Giai thoại kể lại, có quan chức chế độ Sài Gòn được thầy bói khuyên là nên luôn luôn thắt cà vạt màu xám có sọc màu hồng, và ông này đã âm thầm làm như vậy trong bao nhiêu năm trời. Vì sự mê tín của cả nhân dân và chính quyền, các vị thầy bói có ảnh hưởng rất lớn, nếu không nói là đã đóng những vai trò quan trọng trên chính trường.

Các thầy bói nổi danh ở Sài Gòn

Trong nghề bói toán ở Sài Gòn trước năm 1975, các thầy bói đều là những người làm ăn khá giả và rất có uy tín xã hội. Trong đó, số thầy bói từ miền Bắc di cư vào Nam chiếm một lượng lớn.

Thầy Khánh Sơn

Có lẽ, thầy Khánh Sơn là người nổi tiếng nhất và lâu nhất ở Sài Gòn trước năm 1975. Từ những năm Pháp thuộc, thầy đã tự xưng là Maitre Khánh Sơn. Báo chí thời ấy đã đăng ảnh thầy đeo kính trắng trí thức, một ngón tay chỉ vào cái chìa khóa, tượng trưng cho sự khám phá mọi điều huyền bí (?!). Thầy hành nghề từ những năm 1940, sau khi tốt nghiệp bằng sư phạm tại Hà Nội, chứ không phải vì thất nghiệp mà phải xoay nghề như một số thầy ở bên Tàu sang Việt Nam.

Theo nhiều giai thoại, thầy Khánh Sơn là người hào hoa phong nhã, lại làm ra tiền nên dù vợ con đàng hoàng, thầy vẫn được các bà, các cô mê mệt. Viên toàn quyền Pháp Pasquier trấn nhậm Đông Dương vào năm 1936, được thầy Khánh Sơn đã đưa ra một “câu sấm” để giải đoán trường hợp ông ta:

Bao giờ hai bảy mười ba
Lửa thiêng đốt cháy tám gà trên mây

Theo một số người, thầy Khánh Sơn cho rằng “tám gà” là “bát kê” (phiên âm của tên vị toàn quyền); và “trên mây” là “máy bay”. Sau đó ít lâu, máy bay trên chở viên viên toàn quyền bay về Pháp bị bốc cháy. Không những ông ta mà cả tám người trên phi cơ đều tử nạn. Thời gian hành nghề của thầy Khánh Sơn kéo dài rất lâu. Thầy đã từng là nhà đoán vận mạng riêng của rất nhiều nhân vật tên tuổi như: cựu hoàng Bảo Đại, cựu quốc vương Sihanouk…

Thầy Minh Nguyệt

Thầy Minh Nguyệt, là một người miền Nam, tự quảng cáo trên báo là giáo sư Minh Nguyệt, và mở văn phòng ở đường Đề Thám. Cùng với các thầy Huỳnh Liên, Khánh Sơn, thầy Minh Nguyệt là một nhà bói toán có đến hàng chục ngàn thân chủ.

Văn phòng của thầy lúc nào cũng đầy nữ thân chủ, phần đông là các cô có chồng quân nhân Mỹ đã bỏ Việt Nam. Các cô tới để nhờ thầy đoán xem bao giờ gặp lại cố nhân để cho đời sống được lên hương như trong quá khứ. Hàng chục cô trong đó mong được nâng khăn sửa túi cho giáo sư Minh Nguyệt, nhưng thầy nghiêm lắm, chẳng bao giờ “trăng hoa”.

Thầy Nguyễn Văn Canh

Thầy Nguyễn Văn Canh sinh quán tại Nam Định. Thầy Canh mù lòa từ thuở sơ sinh, nên được gia đình cho học nghề bói toán để làm kế sinh nhai. Thuở đầu đời, thầy hành nghề tại Thái Bình, Hà Nội, rồi di cư vào Sài Gòn. Dù bị mù nhưng thầy Canh có đến mười người con, tất cả đều được sinh trưởng trong cảnh no ấm sung túc nhờ nghề của thầy, vốn là một nghề rất sáng giá vào thời ấy. Thầy sở trường về tử vi và bói dịch, nổi tiếng như một nhà tiên tri.

Dáng người bệ vệ cao lớn, thầy có sức khỏe dồi dào và thần trí minh mẫn. Xem tử vi trên năm đầu ngón tay, thầy Canh chỉ cần nghe ngày sinh tháng đẻ của thân nhân một lần là nói ngay vanh vách sao nào đóng ở cung nào, cung thê có đào hoa hồng loan thì sao, cung mệnh không có chính diệu mà đắc tam không thì cuộc đời sẽ như thế nào. Nói rồi, thầy nhớ mãi, lần sau khách tới chỉ cần nói tên là thầy biết số này ra sao!

Thầy Ba La

Thầy Ba La cũng sinh quán ở ngoài Bắc, và di cư vào Sài Gòn. Trước năm 1975, thầy Ba La mở văn phòng bói toán, khách bước vào trông thấy ngay một cụ già tiên phong đạo cốt, râu tóc bạc phơ, chẳng khác gì các đạo sĩ trong truyện Tàu.

Thầy cũng mù lòa từ lúc trẻ nên đã chọn nghề này để sinh sống. Văn phòng thầy Ba La tiếp toàn là các vị trí thức, giáo sư, kỹ sư, luật sư… Có người không tới để nhờ thầy đoán vận mệnh, mà chỉ đến để xin được luận đàm về tử vi. Thầy Ba La không làm khó trong việc tiếp thân chủ, nhưng thầy hết sức thận trọng khi đặt một lá số, gieo một quẻ bói.

Chuyện kể rằng, có hai vợ chồng nọ cầu tự mãi mới có một đứa con trai. Năm lên ba tuổi, cậu bé bị bệnh mà mất. Hai vợ chồng lại tiếp tục “cầu tự” để xin được ‘trả lại’ đứa con trai. Ba năm sau, họ lại sinh được một bé trai. Đứa bé giống anh trai đã mất như đúc, kể cả nốt ruồi son giữa ngực. Vì vậy hai ông bà thân sinh lấy tên người anh đặt cho người em, cả giấy khai sinh đều giữ nguyên của người anh để đi học, dù họ cách nhau ba tuổi.

Cậu bé lớn lên, học hành đõ đạt và tìm đến thầy Ba La để nhờ giải đáp cuộc đời mình. Anh ta đưa thầy xem lá số tử vi của anh trai, thầy Ba La càng xem càng toát mồ hôi, miệng không ngớt thốt lên : ‘Lạ quá, lạ quá’. Sau cùng, thầy nói rằng :
Nếu thật anh sinh vào ngày giờ này, tháng này, năm này, thì anh đã mệnh yểu từ năm lên ba !

Thầy Ba La xem lại thật kỹ, vì bị mù, nên thầy gọi người nhà ra nhận xét và trả lời từng điểm: có phải cái trán thế này, cái mũi thế này, cặp mắt thế này, tầm vóc cao lớn như thế này…không ? Và nhất là có nốt ruồi son ở giữa ngực? Thầy lập lại :
Có nốt ruồi đỏ thật à ? Thế thì lạ quá ! Tôi chịu, không đủ tài đoán số này cho anh. Anh hãy cầm tiền về và chỉ đến khi nào anh… có được một lá số tử vi khác !

Thầy Ba La bực tức vì cảm thấy, lần đầu tiên, mình không tin ở khả năng của mình. Cũng bực tức nghi ngờ phần nào người thân chủ này đã có thể không thành thật. Anh thanh niên cảm phục đến sợ hãi, xin lỗi thầy và trình ra lá số tử vi với ngày tháng sinh thật.

Hầu hết những giai thoại trên đều không có sức thuyết phục, nhưng có một điều chắc chắn là nghề bói toán ở Sài Gòn trước năm 1975 rất thịnh hành. Thậm chí, các nhà cầm quyền thời điểm đó còn mời cả các thầy bói lên truyền hình để tiên đoán về vận mệnh chính trị quốc gia. Cuộc sống của các thầy bói này do đó cũng rất sung túc.

Những “bóng hồng” trong làng bói toán Sài Gòn

Tuy cũng thành công, nhưng so với quý ông thì số lượng các thầy bà thời ấy ít hơn nhiều. Thường thì, khách của các thầy bà là phụ nữ, nhưng đôi khi cũng còn là các thiếu gia lắm tiền nhưng mê tín.
Nghề bói toán dù hiện nay không được công nhận nhưng rất có sức hấp dẫn, đặc biêt đối với nữ giới.

Bà Anna Phán

Bà Anna Phán đã nổi tiếng một thời từ Hà Nội. Khi bà theo làn sóng di cư vào Nam thì chỉ còn hành nghề được ít năm nữa. Cũng có người cho rằng là vì tuổi già sức yếu nên con cháu không muốn bà tiếp tục, dù rằng… lộc thánh hãy còn.

Madame Claire

Trẻ hơn Bà Anna Phán, có một bà thầy gợi cảm mang cái tên rất đầm: Madame Claire. Madame Claire chẳng những bói hay mà còn là một người lịch lãm và gợi cảm. Có một công tử Bạc Liêu về già còn đem đến tặng Madame vài món nữ trang đáng giá.

Cô Bích

Cô Bích, một thiếu phụ người Đà Nẵng nổi danh về bói toán mà cũng có lập am, lên đồng. Xưa kia, hồi còn Pháp thuộc, cô đã từng có chồng sĩ quan Pháp nhưng không có con. Là người thất học nhưng khi “đồng lên”, cô Bích viết chữ Hán đẹp như rồng bay phượng múa. Đó là lời tiên thánh truyền dạy cho kẻ đến hầu cửa cô, một người mà khi đồng lên thì trở nên đẹp lộng lẫy với cặp mắt sắc như dao. Cô Bích đã tạ thế tại Đà Nẵng sau năm 1980.

Nhưng vị thầy bói nữ lừng danh hơn cả phải kể là bà Nguyệt Hồ ở đường Đinh Công Tráng. Vào khoảng cuối năm 1974, bà Nguyệt Hồ 43 tuổi, xưa kia đã từng nổi tiếng là hoa khôi.
Cả bốn vị nữ thầy trên đây đều đã thành công với nghề nghiệp và sống một cuộc đời sung túc, nếu không nói là vương giả. Các bà không những chỉ bóc bài, xem chỉ tay mà còn làm công việc giới thiệu tình duyên và gỡ rối tơ lòng. Các nữ thân chủ khi có chuyện rắc rối về gia đạo là tìm đến các bà như tìm đến những cái phao.

Đoạn kết buồn của các thầy bói nổi tiếng

Theo chuyện kể lại, trước 1975, nhờ làm ăn khấm khá, thầy bói Huỳnh Liên tậu một khu vườn nhà ở làng Vĩnh Phú, Lái Thiêu, Bình Dương để khi rảnh rỗi ông lại từ Sài Gòn về đây vui thú với vợ bé. Trong khi đó, bà cả vẫn ở Sài Gòn.

Sau năm 1975, nghề bói không còn được xem là hợp pháp, thầy Huỳnh Liên không có con và về ở hẳn với bà bé. Ông không tin tưởng bà vợ bé lắm, nên xâu chìa khóa mở tủ cất tiền và vàng ông luôn luôn giữ bên mình. Một hôm đường dây điện thoại tầng trên bị hỏng, ông sai bà đi gọi hai người cháu của bà lên sửa.

Tới chiều, hai đứa cháu tới nhà rồi theo ông chủ lên gác sửa điện, trong khi chị bếp đi bắt gà đãi khách. Khi chị bếp trở lại, nghe có tiếng động khả nghi, chị chạy lên tầng trên thì thấy một cảnh tượng hãi hùng: Một người cầm khúc dây điện ngắn xiết chặt cổ ông Huỳnh Liên, ông trợn mắt và không kêu la gì được.

Lúc công an đến thì ông Huỳnh Liên đã chết. Người ta thấy cái tủ cất giấu tiền, vàng của ông vẫn còn nguyên và đồ đạc trong nhà cũng không bị mất món nào. Trong lúc quýnh quáng tháo chạy, hai đứa cháu vợ ngoài việc cướp của còn quên mất hai cái áo còn cởi bỏ trong nhà. Trong túi áo hai kẻ sát nhân còn bỏ lại, có đầy đủ giấy tờ tùy thân của chúng. Nhờ đó, công an không mất nhiều công sức cũng tóm gọn cả hai tại nhà ngay trong đêm đó.

Ngày nay, nghề bói toán không được công nhận và các thầy bói chỉ hoạt động lén lút
Theo dòng chảy của lịch sử, các thầy bói của Sài Gòn cũ đã không còn những vị thế xã hội như xưa. Đoán vận mạng cho nhiều người nhưng cuối cùng thì các thầy cũng chẳng đoán được vận mạng cho chính mình. Những người lớn tuổi đã sống ở Sài Gòn lâu năm kể lại: cho đến năm 1972, thầy Khánh Sơn và các thầy Minh Nguyệt, Huỳnh Liên được mời lên truyền hình của chế độ cũ tiên đoán vận mệnh. Cả ba thầy đều nói những điều tốt đẹp. Không có thầy nào tiên đoán được biến cố long trời lở đất 30/4 để tháo chạy mà giữ lấy nghề.

Tác giã : Lăng Nhu

Vì sao gọi “TRONG Nam, NGOÀI Bắc”, “VÔ (VÀO) Nam, RA Bắc”?

896 views

Cách gọi “trong Nam, ngoài Bắc”, “vô/vào Nam, ra Bắc” bắt nguồn từ danh xưng ĐÀNG TRONG / ĐÀNG NGOÀI vào thế kỷ 17 & 18.

Tiếng Việt chúng ta khi nói “TRONG” tức là trung tâm so với “NGOÀI”; bao giờ “TRONG” cũng có vai vế hơn (về mặt thực tiễn) so với “NGOÀI”. Ta nói “trong kinh thành, ngoài biên ải”, chớ không ai đi phân định “trong biên ải, ngoài kinh thành” hết.
Trong một số trường hợp, “TRONG” còn mang tính chất mật thiết hơn so với “NGOÀI”. Ta nói “trong nhà, ngoài lộ”, chớ không ai đi nói “trong lộ, ngoài nhà”.

Cái thuở nước Việt chưa phân chia hai miền (chúa Nguyễn, chúa Trịnh) mà Thăng Long còn làm kinh đô chung, người ở trong kinh kỳ khi ngó ra chốn mù khơi như Bình Định gọi là ngó ra NGOÀI biên ải.
Đến thời phân tranh Trịnh – Nguyễn, lấy ranh giới nơi sông Gianh (Quảng Bình) mà phân chia đất nước. Nói “Nam hà” 南 河 để chỉ lãnh thổ từ phía Nam sông Gianh trở vô, “Bắc hà” 北 河 để chỉ lãnh thổ từ phía Bắc sông Gianh trở ra. Nhưng, danh xưng chính thức thì không gọi Nam hà / Bắc hà, mà gọi là: ĐÀNG TRONG / ĐÀNG NGOÀI.
Lạ không, lẽ ra phải gọi toàn lãnh thổ phía bắc sông Gianh là “Đàng Trong” bởi nó có kinh đô Thăng Long; còn toàn lãnh thổ phía nam sông Gianh lẽ ra phải gọi là “Đàng Ngoài” (bởi nằm quá xa ngoài biên cương luôn, vượt qua Phú Yên, vượt tới Cà Mau mịt mù) mới phải chớ?
Nhưng, hoàn toàn ngược lại!
Cõi phía nam được gọi là “Đàng TRONG”, còn cõi phía bắc dầu có kinh kỳ Thăng Long đi nữa nhưng lại trở thành “Đàng NGOÀI”.

“ĐÀNG” (Đàng Trong, Đàng Ngoài) nghĩa là gì? “Đàng” = “đường”, nhưng “đường” ở đây không phải là “con đường” (Nếu tưởng như vậy, không lẽ “Đàng Trong” nghĩa là… trong con đường, “Đàng Ngoài” là… ngoài con đường? Nghe xong, khỏi hiểu luôn)
Trong Hán tự (nên nhớ trước khi có chữ Quốc ngữ, tiền nhân chúng ta xài Hán tự), “đường” có nhiều nghĩa. Ở đây, “đường” được viết 塘 , nghĩa là “con đê” (đê sông 河 塘 ; đê biển 海 塘)! Cách gọi này có liên quan tới Đào Duy Từ (1572- 1634), ông là người nghĩ ra cách xây lũy phòng thủ cho chúa Nguyễn (“Lũy Trường Dục”, còn gọi là “Lũy Thầy”). Hệ thống lũy này nhìn như con đê.
Lực lượng của chúa Nguyễn đóng phía trong con đê, thành thử gọi “Đàng (đường) Trong”, nằm về phía Nam. Còn lực lượng chúa Trịnh ở phía ngoài con đê, thành thử gọi “Đàng (đường) Ngoài”, nằm về phía Bắc.

Trong gần hai thế kỷ (thế kỷ 17, 18), cõi phía Nam sông Gianh liên tục được mở rộng và trải dài tới Cà Mau là cõi có kinh tế phồn thịnh hơn, có văn hóa cởi mở hơn so với cõi phía bắc sông Gianh.
Giáo sư Li Tana ở Đại học Quốc gia Úc khi nghiên cứu về Đàng Trong, bà đánh giá công trạng của Chúa Nguyễn Hoàng tương đương với công trạng của Ngô Quyền. Nếu Ngô Quyền, vào thế kỷ 10, đã mở đầu nền tự chủ lâu dài cho một nước Việt với lãnh thổ khoanh lại ở miền Bắc & phía bắc miền Trung, thì Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng), vào thế kỷ 17, đã mở ra một thời kỳ mới cho nước Việt với lãnh thổ mở rộng cho tới tận Cà Mau. Nói rõ hơn nữa, Đàng Trong của các Chúa Nguyễn trở thành một TRUNG TÂM phát triển mới, một sinh lực mới cho nước Việt.
Tương lai nước Việt được nhìn thấy trên vầng trán của xứ Đàng Trong…

Cách gọi ĐÀNG TRONG / ĐÀNG NGOÀI, dễ thấy đây là “hệ qui chiếu” được nhìn từ tọa độ của phía Nam. Và, danh xưng này được ghi chép vào trong sử sách cái rụp – bởi sức ảnh hưởng tự thân của nền kinh tế, xã hội của cõi phía Nam sông Gianh.
Thực tiễn phát triển của mỗi miền (Nam phát triển hơn Bắc) đã ghi dấu ấn rõ rành vào trong ngôn ngữ, thể hiện qua danh xưng: cõi phía Nam mới là “Đàng TRONG”, cõi phía Bắc chỉ là “Đàng NGOÀI” thôi.
(mở ngoặc: người ngoài Bắc hiện nay xin đừng “sân si”, “tự ái” gì ráo, bởi đó là thực tiễn lịch sử trong thế kỷ 17, 18; ngay như tôi là… người gốc Bắc, mà tôi cũng ưng tôn trọng cách gọi “Đàng Trong” đầy hãnh diện, nói cho cùng, có ích lợi chung cho toàn nước Việt)
Dòng sử Việt dù đã đi qua thời kỳ định cõi riêng biệt giữa chúa Nguyễn với chúa Trịnh nhưng dấu ấn lịch sử vẫn còn lưu lại trong lời ăn tiếng nói của người Việt cho tới hiện nay – gọi “TRONG Nam, NGOÀI Bắc” là bởi vậy đó đa!
Và, tới đây chúng ta dễ dàng hiểu vì sao gọi “VÔ (vào) Nam”, mà không gọi “ra Nam”. Bởi vì Nam là “TRONG” (Đàng Trong), nên người Việt mình khi nói “vô (vào)” tức là vô (vào) bên trong, chớ không ai đi nói “ra bên trong” hết.
Cũng vậy, gọi “RA Bắc”, bởi vì miền Bắc là “NGOÀI” (Đàng Ngoài) nên khi ta nói “ra” tức là ra bên ngoài, ra phía ngoài, chớ không ai đi nói “vô (vào) bên ngoài” hết.

Từ thuở tự do nơi đất mới
Càng thương càng quý xứ Đàng Trong
”…

Ngay cả hiện nay, dù miền Nam không còn như trước kia, nhưng luồng di dân từ NGOÀI Bắc kéo VÔ Nam để định cư, kiếm sống vẫn tiếp diễn hết năm này qua năm khác (còn số người từ TRONG Nam đi RA Bắc để định cư ? ít hơn hẳn, đìu hiu, không thấm tháp gì ráo).
Ta nói, ở miền Nam, “đất lành chim đậu”.
Còn ở những nơi đất không lành thì… đất chọi chết chim.

Tác giã : Nguyễn Chương

“Cái” và “Cáy”, anh chưa phân biệt được thì đừng động phòng nhé !

734 views

Này anh, tiếng Việt mình rất phong phú, riêng từ “cái” thôi, viết thì giống nhau, đọc lên giống nhau mà nghĩa thì khác hẳn. Người ta gọi đó là đồng tự, đồng âm mà dị nghĩa. Tuỳ theo vị trí chữ “cái” đó đứng ở đâu, đi với từ nào mà biết nó thuộc loại từ gì, nghĩa gì. Em sẽ viết cho anh bài học hai từ “cái” và “cáy”, anh phải học thuộc trong thời gian 1 tuần lễ. Nếu thời gian này mà anh không thuộc thì…” Rồi cô cười ngặt nghẽo, hai tay chụp vào vai chồng, hóm hỉnh nói: “thì chưa được …động phòng nhé!

Một chàng trai Việt được chào đời trên đất Mỹ vào cuối năm 1975 tại một tiểu bang rất ít người Việt định cư. Cậu ta lớn lên trên đất Mỹ, theo học tại các trường Mỹ và khi đi làm cũng tại một cơ sở Mỹ. Cậu không được tiếp cận với cộng đồng người Việt, và lại nữa, cha mẹ cậu luôn tất bật với cuộc sống hàng ngày không nhiều thời giờ dạy tiếng mẹ đẻ cho cậu, thế nên cậu nói tiếng Việt bập bẹ như đứa trẻ lên ba và đọc viết chữ Việt chỉ khá hơn học sinh lớp Một. Nhưng bù lại, trong cơ thể cậu đang mang rặt dòng máu Việt Nam nên cậu rất giống cha mẹ từ thể chất đến tư duy, Mặc dù chôn nhau cắt rốn nơi đất khách nhưng tâm hồn cậu luôn hướng về quê cha đất tổ, đúng với cái tên cúng cơm mà cha mẹ đặt cho cậu : Nguyễn Hoài Việt. Hoài Việt đã ba mươi hai tuổi mà vẫn còn sống độc thân. Tâm nguyện của người Mỹ gốc Việt nầy làsẽ lập gia đình với một cô gái Việt để sau nầy con cái khỏi bị lai căn mất gốc. Đó cũng là ý nguyện của cha mẹ cậu.

Đã vài lần cha mẹ Hoài Việt về thăm Việt Nam và lần nào cũng có dẫn cậu đến thăm gia đình người bạn cũ. Ông bà bạn nầy có một đứa con gái đang là giáo viên dạy văn cấp II. Cô được cha mẹ đặt cho cái tên để kỷ niệm ngày đất nước chấm dứt chiến tranh: Lê Thị Thanh Bình. Thanh Bình đã ba mươi tuổi mà vẫn còn “ở vậy” để lo phụng dưỡng cha me. Chỉ gặp nhau vài lần mà cô cậu đã “phải lòng nhau” và đã được cha mẹ hai bên chấp nhận, hẹn đến năm sau sẽ làm đám cưới.

Từ Mỹ, Hoài Việt gửi thư về cho vị hôn thê, rằng anh sẽ về ở Việt Nam, công tác trong một tập đoàn công nghệ điện tử của Mỹ, rằng anh sẽ làm đám cưới với Thanh Bình v.v… Cô giáo dạy văn phải nhiều lần động não mới hiểu nổi cách hành văn nửa Việt nửa Mỹ của anh chồng tương lai… Chừng đọc tới câu : “… Sau khi là vợ chồng, mình sẽ sanh con đẻ cáy”, cô vừa bực vừa tức cười, rồi ỡm ờ tự hỏi : “Mình lấy anh ta để đẻ ra…cua à!…”. Nhưng rồi cô cũng thông cảm.

Ngày đám cưới, cha mẹ Thanh Bình có mời bà con bên ngoại dưới quê lên dự. Ông cậu của Thanh Bình là một lão nông chất phác, vừa tới cửa, ông cười giòn giã rồi nói lớn tiếng gây cho Hoài Việt chú ý : “Tao tưởng nhà của tụi bây ở trong sâu, ai dè từ đường cái vô có mấy bước”. Sau đám cưới, Hoài Việt rặn từng tiếng mới ra câu hỏi vợ : “Sao ông cậu không nói từ cái đường vô cái nhà mà nói từ đường cái?”. Thanh Bình không nín được cười rồi nhớ lại mấy ngày trước đám cưới, Hoài Việt dẫn cô đến tham quan nơi làm việc của anh ta, cô thấy chồng mình nói tiếng Anh với Mỹ như… lặt rau, thế mà một câu nói tiếng mẹ đẻ dễ ợt, anh ta phải… mắc nghẹn ba bốn lần! Cô nhớ lại trong thư anh viết có từ “cáy” bây giờ lại thắc mắc về từ “cái”. Chỉ hai từ nầy thôi, chồng cô cũng chưa hiểu được nghĩa của nó. Cô thông cảm cho chồng rồi ôn tồn giải thích:

“Này anh, tiếng Việt mình rất phong phú, riêng từ “cái” thôi, viết thì giống nhau, đọc lên giống nhau mà nghĩa thì khác hẳn. Người ta gọi đó là đồng tự, đồng âm mà dị nghĩa. Tuỳ theo vị trí chữ “cái” đó đứng ở đâu, đi với từ nào mà biết nó thuộc loại từ gì, nghĩa gì. Em sẽ viết cho anh bài học hai từ “cái” và “cáy”, anh phải học thuộc trong thời gian 1 tuần lễ. Nếu thời gian này mà anh không thuộc thì…”. Rồi cô cười ngặt nghẽo, hai tay chụp vào vai chồng, hóm hỉnh nói: “thì chưa được …động phòng nhé!

Hoài Việt chả biết “động phòng” là cái quái gì, thấy vợ cười vui và có cử chỉ âu yếm, anh cũng… khoái chí cười theo!

Cái “giáo án” mà cô giáo Thanh Bình soạn cho “học sinh” Hoài Việt học vỡ lòng là bài “Cái và Cáy”, kèm theo những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao mang tính giáo dục về đạo lý và phong tục tập quán Việt Nam:

1. CÁI là danh từ , nghĩa là MẸ, như “Bố CÁI Đại Vương” nhằm tôn xưng ông Phùng Hưng vừa là vị vua lớn của nước vừa là cha MẸ của dân. Tục ngữ có câu “Con dại CÁI mang” để nói con mà ngu dại thì MẸ phải chịu trách nhiệm. Câu ca dao “…Nàng về nuôi CÁI cùng con…” thì từ CÁI nầy cũng nghĩa là MẸ… Nhưng khi nó đứng sau từ “con” thì nó lại là… con chứ không phải mẹ, như “sanh con đẻ CÁI” hoặc “Con CÁI trong nhà” là chỉ chung con trai, con gái. Còn CÁI là danh từ với nghĩa khác để chỉ phần đặc trong canh như thịt, cá, rau… thì tục ngữ có câu “Khôn ăn CÁI, dại húp nước”. Danh từ CÁI để chỉ người làm chủ canh bạc (làm CÁI) : “Nhà CÁI tay non, nhà con hốt bạc”. CÁI ghẻ là một loài ký sinh gây ra bệnh ghẻ. Trong Hán Việt, danh từ CÁI là cây dù, cây lọng.

2. CÁI là loại từ (còn gọi mạo từ) đặt trước danh từ chung, như CÁI nhà, CÁI bàn, CÁI ghế, đặt trước danh từ trừu tượng như “CÁI nết đánh chết CÁI đẹp”; hoặc để khen thì người ta nói “CÁI khó ló CÁI khôn”; để chê thì nói “CÁI khó bó Cái khôn”; để mỉa mai thì nói khác: “CÁI khó ló CÁI…ngu”. Một việc nhỏ không khéo giải quyết để trở thành việc lớn thì nói: “CÁI sảy nảy CÁI ung”. Ngoài ra, loại từ CÁI đôi khi đặt trước danh từ riêng để gọi bé gái: CÁI Lan, CÁI Huệ…

3. CÁI là tính từ chỉ giới tính như Đực, CÁI. Kinh nghiệm trong việc lựa giống vật để nuôi, dân gian có câu: “Chọn đực coi dái, chọn CÁI coi vú”. Từ CÁI chỉ giới tính còn có cách nói khác cùng một vần: Gái (trai); Mái (trống); Nái (nọc). Cách nầy người ta gọi là: Đồngvận, đồng nghĩa mà biến âm.
CÁI là tính từ có nghĩa là Lớn như: đường CÁI, sông CÁI: “Đường CÁI là đường CÁI quan, chận em đi chợ để tan chợ rồi” (ca dao). Và như: “Suối con lải nhải chẳng tải được gì, sông CÁI lầm lì người đi xuôi ngược”.

4. CÁI là động từ chỉ sự né tránh: “CÁI đi đường khác”; chỉ sự không hài lòng: “CÁI mặt lắc đầu”. Trong Hán Việt, động từ CÁI là chỉ sự bao trùm: “CÁI thế anh hùng”. Động từ CÁI nghĩa là đậy thì có câu: “CÁI quan luận đinh”, nghĩa là khi đậy nắp quan tài (người chết) mới luận công hay định tội người đó. CÁI nghĩa là xin, như “CÁI ban” là chỉ nhóm người ăn xin: “CÁI ban chơi gan hơn bá hộ”.
Ngoài ra, từ CÁI là gốc tiếng Khơme, ta lấy đặt tên nhiều địa danh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long : CÁI Tàu, CÁI Sắn, CÁI Sơn; CÁI Răng, CÁI Cóc, CÁI Mơn, CÁI Bè v.v…

Trên đây là CÁI i ngắn , còn dưới đây là CÁY y dài:

1. Động từ THÁU CÁY là mánh khoé của giới cờ bạc nhằm đánh lừa đối phương (bài xấu mà giả như tốt để lừa).

2. CÁY danh từ là loài cua nhỏ sống ở bờ biển, người ta dùng nó để làm mắm: “Nhát như CÁY”. Thành ngữ “Bầu dục chấm mắm CÁY” để chỉ sự mất cân xứng giữa cái ngon (bầu dục) và cái rẽ tiền (mắm CÁY). Một gia đình nghèo, đời cha cực khổ đến đời con cũng vất vả, người ta dùng câu thành ngữ rất hay để mô tả: “Đời cua cua máy, đời CÁY CÁY đào”.
Còn một câu nữa rất tuyệt, gồm các từ ngữ dân gian, cách gieo vần độc đáo, ý nghĩa tương phản, đối nhau chan chát để chỉ hai loại người trong xã hội có hai cách sống và hai tâm trạng khác nhau: “Ăn mắm CÁY ngáy o o, ăn thịt bò lo ngay ngáy”.

Hoài Việt rất thích tiếng mẹ đẻ nên trong quá trình “học bài” có những gì chưa thông suốt anh liền hỏi vợ hoặc nhờ người thân giải thích. Sau 1 tuần, anh gặp vợ để “trả bài”. Thanh Bình khen anh thông minh và động viên chồng: “Anh nên nhẫn nại, chỉ cần thuộc 2 ngàn từ thông dụng thì có thể viết và nói tiếng Việt tương đối khá”. Qua một thoáng suy nghĩ, Hoài Việt kêu lên: “Trời ơi! Mới có 2 từ mà mất hết 1 tuần, nếu thuộc 2 ngàn từ thì phải mất 1 ngàn tuần, tính ra là 20 năm nữa à?!” Thanh Bình phá lên cười rồi âu yếm vuốt nhẹ vào lưng chồng khuyên giải: “Không dài như vậy đâu. Trong thời gian còn làm việc ở nước nhà, anh nên thường xuyên tiếp cận với mọi giai tầng người Việt trong xã hội, nhất là anh biết quay lại cội nguồn dân tộc thì thời gian ấy chỉ còn không tới một phần mười”. Rồi cô yêu cầu chồng thực tập bài học vừa rồi:
“- Nầy anh, anh thử đặt một câu nói có từ “cái” trong đó!
Qua một thoáng suy nghĩ, Hoài Việt “trả bài”:
“- Nầy em, em cho anh xin một CÁI…hôn!

Thanh Bình không trả lời nhưng biểu đồng tình bằng một CÁI…cười!

Tác giã: Đỗ Văn Đồng

Một dấu ấn thời khai hoang còn tồn tại: Bàn thiên

699 views

Bàn Ông Thiên, nghĩa là bàn thờ Ông Trời, cũng có người gọi là Bàn Thông Thiên với ý nghĩa thông thiên triệt địa, là lời cầu nguyện của người thông đến trời, thấu cả đất. Nhưng đa số người dân Nam Bộ từ miền Đông tới miền Tây gọi gọn lại là Bàn Thiên.

Một vùng châu thổ rộng lớn do phù sa hai sông Mê Kông và Đồng Nai bồi đắp tạo thành một màu xaanh bạt ngàn, gần như ba mặt trông ra đại dương bao la bát ngát, đất phương nam quả là “rừng vàng biển bạc”, một món quà vô giá mà thiên nhiên ưu đãi cho lưu dân người Việt mặc sức khai khẩn. Lợi dụng thực vật đa loại sẵn có như tre, mây, cây lá… ông cha ta chỉ dựng lều trại đơn sơ để giải quyết cho việc tạm cư, tạm canh trong buổi đầu lập nghiệp.

Những người đầu tiên đến bới đất lật cỏ mà hậu thế rất mực sùng kính và tôn xưng là “Tiền hiền khai khẩn” luôn mang tín ngưỡng truyền thống của quê hương bản quán từ vùng Thuận Quảng xa xôi, khi “Đến nơi xứ sở lạ lùng, chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê” này, họ cảm thấy mình quá cô đơn nhỏ bé trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, chỉ còn biết đặt hết niềm tin vào đấng thiêng liêng tối cao, đó là Ông Trời. Phải, chỉ có Ông Trời là đấng quyền năng tuyệt đối ở rất xa mà cũng rất gần loài người, ngửa mặt là thấy trời, cúi đầu là thấy đất (Ngưỡng diện kiến thiên, đê đầu thị địa). Trời là niềm tin, đất là hi vọng. Chỉ có Ông Trời mới có thể cứu khổ, cứu nạn cho người “chơn ướt chơn ráo” sống giữa bốn bề “Cỏ mọc thành tin, rắn đồng biết gáy!”. Thế là khái niệm Ông Trời đã thực sự hình thành trong tư duy của người đi mở cõi. Nhưng thờ Ông Trời bằng cơ ngơi nào cho phải lẽ? Thôi thì trong thời kỳ tạm cư, tạm canh âu cũng phải “tạm thờ” miễn thể hiện được câu “Hữu thành tắc linh”.

Thế là cái Bàn Thiên được… chào đời từ đó.

Với vật thể này có người gọi là Bàn Thông Thiên, nghĩa là bàn thờ Ông Trời, cũng có người gọi là Bàn Thông Thiên với ý nghĩa thông thiên triệt địa, là llời cầu nguyện của người thông đến trời, thấu cả đất. Nhưng đa số người dân Nam Bộ từ miền Đông tới miền Tây gọi gọn lại là Bàn Thiên, ý nghĩa cũng như nhau. Người xưa quan niệm “Trời tròn đất vuông”, Trời cao rộng vô biên, cao khong nóc, rộng không vách, nên việc thực hiện một Bàn Thiên rất đơn giản: một cây cột tròn dài cỡ ngang đấu người, một tấm ván hình vuông mỗi cạnh khoảng 4-5 tấc, giữa tấm ván đóng dính chắc vào đầu cột, thêm vài cây chỏi xéo ngắn cho tấm ván không lúc lắc, đầu cột còn lại vạt hơi nhọn, cắm xuống đất. Thế là xong Bàn Thiên. Còn vị trí cắm ở đâu, chúng ta cần làm cho rõ ý nghĩa.

Người xưa lấy thân mình làm chủ thể để suy ra nguyên tắc: Đông vi tả, Tây vi hữu, Nam vi tiền, Bắc vi hậu (hướng Đông bên trái, hương Tây bên phải, Nam phía trước, Bắc phía sau) mà định hướng tiến thủ và định vị cho ngôi nhà. Theo nguyên tắc này, những ngôi nhà đầu tiên cất trên vùng đất mới (Kể cả những ngôi đình đầu tiên) luôn quay mặt về phương Nam là hướng tiến thủ (Nam vi tiền), đối kháng là phương Bắc (Bắc vi hậu) để mỗi khi bái tế, người ta phải quay mặt vô bàn thờ, tức hướng về hướng Bắc mà hoài niệm, tri ân tổ tiên, thể hiện rõ nét đạo lí “uống nước nhớ nguồn”. Bởi thế mà vị trí đặt Bàn Thiên cũng tuân thủ theo nguyên tắc đó: từ ngạch của nhà trước đo ra một trượng (khoảng 4 mét), cắm cột Bàn Thiên giữa sân nhà nơi trống trải để bàn ngó thẳng lên trời (ngưỡng diện kiến thiên), lư hương để phía trước, hướng về phương Nam. Tùy theo diện tích của sân mà cự li thay đổi chút ít.

Vật cúng cũng đạm bạc đơn sơ như cơ ngơi của nó: gạo và muối. Ông cha ta rất quý trọng gạo muối, coi đó là “hạt ngọc của trời, hạt châu của biển” vì nó là thành quả của quá trình lao động gian khổ. Đến ngày Sóc Vọng (mùng 1 và Rằm âm lịch) lễ phẩm có khá hơn: nhang đèn, bông trái, nước sạch và gạo muối mà gọi theo người xưa là hương đăng, hoa quả, bạch thủy, mễ diêm. Đến khuya ba mươi tết cúng giao thừa, Bàn Thiên cũng là nơi thiết lễ tống cựu nghinh tân các ông Hành binh Hành khiển, vật cúng có khá hơn nhưng cũng không ngoài sản phẩm nông nghiệp. Theo các vị kỳ lão thì lời khấn trước Bàn Thiên cũng rất giản dị, nhằm cầu nguyện gia đình bình yên khỏe mạnh, tai qua nạn khỏi, làm ruộng trúng mùa, làm ăn phát đạt mà đối tượng cầu nguyện là Trời Đất và “ai đó” mà mắt trần không thấy được: “Vái vanm Hoàng thiên Hậu thổ, Đất nước ông bà…” hoặc “Khấn vái Trời Đất và những vị khuất mặt khuất mày…

Ngày nay trong tiến trình đô thị hóa, cái Bàn Thiên đã dần dần vắng mặt trên những đường phố đất hẹp người đông. Tuy nhiên, ở nông thôn, nhất là miền Tây nam bộ dấu ấn này vẫn còn rất đậm nét. Ngay cả những thành phố lớn là nơi đất đai được coi là tấc đất tấc vàng – theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen – ta được thấy một số nơi vẫn còn lưu giữ cái bàn thiên trên bao lơn của những tầng lầu 3, 4… Chứng cứ đó đã khẳng định rằng, ngoài lòng sùng kính thiêng liêng theo tín ngưỡng truyền thống, vật thể này biểu hiện rõ nét đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của người dân Nam Bộ ngày nay.

Thiết nghĩ, chùa Một cột ở miền Bắc gần cả ngàn năm nay chúng ta luôn hãnh diện là một quốc bảo của đất nước, thì ở phương Nam mỗi nhà bảo lưu được cái Bàn Thiên coi đó là gia bảo cũng nên.

Tác giã: Đỗ Văn Đồng

Nhâm nhi đôi chút về bánh mì Sài Gòn

679 views

Trong các loại bánh của Nam Kỳ mình thì bánh mì không phải của bổn địa, nó là bánh của người Pháp mang theo vào sau 1859.

Trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Đồ Chiểu năm 1861, ta thấy ông đồ lên án cái “tội” ngoại lai ăn bánh mì của giặc có hai câu như sau:

Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn
Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Phan Bội Châu năm 1939 còn chửi bánh mì nè:

Mì kia gốc phải nước mình không?
Nghe tiếng rao mì thốt động lòng
Chiếc bánh não nùng mùi đất lạ
Bát cơm đau đớn máu cha ông
Văn minh những vỏ chưng ba mặt
Thấm thía tim gan lệ mấy dòng
Nhớ lại sáu mươi năm trở ngược
Say mì lắm kẻ bán non sông

Nhưng trong một bài thơ năm 1933 ông lại thương người bán bánh mì dạo trong đêm khuya.

Sao ông ăn hiếp mãi thằng bần
Gió táp mưa sa chọc tấm thân
“Ai ăn bánh mì không?”… rao rát miệng
Đường bùn lầy quá bước chồn chân
Trương liều tấc bụng cho trời thấy
Bấm chặt đôi giò kẻo đất lăn
Đành tủi cho em nhưng chẳng tủi
Xưa nay hào kiệt vẫn gian tân

Bánh Mì Saigon
Sài Gòn 1967

Bánh mì theo chân người Pháp đến Sài Gòn đầu tiên, xuống Nam Kỳ Lục Tỉnh rồi từ từ làm quen với dân và thành bánh bình dân.
Bánh mì Pháp có cái tên rất hàn lâm là Boulangerie, cái tên “La Boulangerie Francaise” có nghĩa là lò bánh mì Pháp. Người Nam Kỳ có thể kêu bánh quy bơ, bánh Donut, bánh Macaron… là bánh Tây, nhưng phải kêu cái bánh dài dài là bánh mì, trong khi Bắc Kỳ thời đó kêu bánh mì là bánh Tây.
Cái này để khẳng định cái danh “Bánh mì Hà Nội” là cái ăn theo của bánh mì Sài Gòn.
Bánh mì Sài Gòn là bánh mì theo kiểu Pháp, thông dụng nhứt là bánh mì baguette nhỏ, dài. Rồi bánh mì pathé chaud, bánh mì croissant, bánh mì pain de campagne và pain complet.
Còn có những loại bánh mì hình tròn, hình bầu dục gọi tên là le pain rond, le complet, le bâtard, nhưng dân Nam Kỳ vẫn thích bánh mì dài sọc trăm năm nay.
Nam Kỳ kêu cái chỗ làm bánh mì là “lò” bánh mì, kêu bánh mì là “ổ” bánh, bánh mì ổ, một ổ, hai ổ.
Cái ổ bánh mì giống như ổ bánh bông lan, tức là bằng bột mì, có ruột mềm ở giữa và vỏ bên ngoài.

Trong tiểu thuyết “Những kẻ khốn khổ” của Victor Hugo, Jean Valjean là một thanh niên nghèo sống cùng người em gái đã góa chồng đang nuôi bảy đứa con nhỏ.
Anh không có vợ con, làm thuê qua ngày để nuôi các cháu, rồi có ngày thất nghiệp các cháu anh đã phải nhịn đói mấy ngày, Jean Valjean đã đến tiệm bánh mì ăn cắp một miếng bánh mì nhỏ đem về cho các cháu ăn nhưng đã bị bắt và ở tù.

Hồ Biểu Chánh chuyển thể qua thành “Ngọn cỏ gió đùa”, vì bánh mì không phải món ăn chánh của Nam Kỳ nên ông cho Lê Văn Đó ăn trộm cái chả cháo heo của nhà bá hộ Cao.

Đọc “Lời thề trước miếu” ta biết năm 1938 một ổ bánh mì ở Cần Giuộc có giá hai xu.

Ba cắc bạc mà nhiều nhỡ gì! Em đói bụng hôn? Như đói thì ăn bánh đây, muốn ăn bánh ú hay bánh bò thì ăn đi.
– Trưa hôm qua em có ăn một ổ bánh mì nhỏ hai xu. Chiều hôm qua em không có ăn vật gì hết.
– Nếu vậy thì em đói lắm. Thôi, ăn ít cái bánh ú mà dằn bụng

Bánh Mì Saigon
Sài Gòn 1967

Đọc cuốn “Người thất chí” cũng bối cảnh năm 1938, bánh mì ở vùng ven Sài Gòn có giá 3 xu một ổ.

Đã hai tháng rồi cháu kiếm không được việc làm. Nếu cháu ăn cơm với bà hoài, tự nhiên phải xin tiền nhà mà trả, làm như vậy thì bà già cháu còn tiền đâu mà xài cho đủ. Vậy cháu xin bà kể từ ngày nay cháu không lại ăn cơm nữa. Số tiền cơm hai tháng rồi, hễ 15 tây tháng tới bà già cháu gởi lên, thì cháu trả cho bà liền.
– Cậu không ăn cơm ở đây nữa rồi cậu ăn ở đâu?
– Thưa không hại gì. Cháu mua bánh mì ăn sơ sài mỗi bữa cũng được.
– Ý! Ăn như vậy chịu sao nổi. Ăn thất thường lâu ngày phải mang bịnh chớ phải chơi đâu.
– Thưa được.
– Mà tôi coi thế cậu không có tiền, cậu lấy gì mua bánh mì mà ăn?
Cháu còn được ít cắc, chừng nào hết cháu sẽ mượn tiền của anh Trinh cháu xài.
(…)”
Đến tối, chàng khóa cửa bước ra ngoài đường đi thơ-thẩn, gặp một đứa nhỏ bán bánh mì, chàng mua một ổ ba xu, rồi thủng-thẳng đi xuống mé sông ngồi trên bực thạch mà ăn; ngó trời, ngó nước im lìm, ngó xe, ngó người náo-nức, mà chắc tại trong trí chàng đương bối-rối, nên không để ý đến vật chi hết.
Có lẽ ăn bánh mì rồi khát nước, nên lối 8 giờ chàng bươn-bả trở về nhà. Chàng mở cửa vặn đèn, uống một hơi tới hai ly nước lạnh; rồi ngồi lại bàn viết lấy giấy mà viết. Viết tới 3 giờ khuya, chàng mới chịu đóng cửa tắt đèn đi ngủ.

Bánh Mì Saigon

Trong “Tơ hồng vương vấn” ta thấy dân Nam Kỳ nhét lạp xưởng vô ổ bánh mì mà ăn từ xưa rồi.
Cái này bác bỏ dư luận cho rằng bánh mì nhét thịt đầu tiên ở Sài Gòn là tiệm bánh mì của người Bắc di cư tên là Hòa Mã ở ngã tư Cao Thắng – Nguyễn Đình Chiểu.

Vĩnh Xuân lên chợ ăn một tô cháo Quảng Đông no cành, mua hờ một ổ bánh mì, rồi thả theo mé sông mà chơi. Châu thành Mỹ Tho lớn hơn Gò Công, buôn bán thạnh hơn, mà dân cư cũng đông hơn. Quang cảnh thì vui, nhưng vì ban đêm, lại xứ lạ, Vĩnh Xuân không dám đi xa, đi tới nhà ga xe lửa rồi trở lại đò mà nghỉ.
Sáng ngày sau, Vĩnh Xuân lên bờ mua một cặp lạp xưởng xuống ăn với ổ bánh mì mua hồi hôm rồi kêu xe kéo và từ giã chủ đò với hai chị bán trái cây, chở rương đi vô trường

Trong “Ái tình miếu” ta thấy dân Nam Kỳ ăn bánh mì nhét pâté.

Hồi nãy em có lấy bỏ túi đem theo một hộp pâté với hai ổ bánh mì nhỏ đây”
Trong “Người thất chí” cho ta thấy bánh mì ở trước chợ Bến Thành có giá 4 xu một ổ, tức mắc gấp đôi giá thị trường.
Và dân Nam Kỳ ăn bánh mì với thịt xá xíu.

Về tới chợ mới Bến Thành, Phụng ngó đồng hồ gắn trên đầu chợ thì thấy đã 4 giờ rưỡi. Chàng mua một ổ bánh mì 4 xu với một cắc bạc thịt xá-xiếu, xin giấy gói lại kín đáo, rồi cầm đi qua đại-lộ Galliéni mà về nhà”.

Bánh mì là món ăn chơi của dân Nam Kỳ, không thể thế cơm, thành ra bánh mì thường bán sáng sớm và buổi chiều cho dân ăn sơ sịa lưng lưng cái bụng thôi.
Nhà nghèo ăn bánh mì không, uống nước lạnh óc ách no bụng là đi làm.
Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo hột gà ốp-la (oeuf sur le plat), trứng ốp-lết (omelette) hoặc trứng la-cót (oeuf à la coque)
Bánh mì ngày nay là một món thông dụng ở Việt Nam
Nhưng quan trọng là người Việt ta đã biết làm nó thành bánh mì kiểu của mình khi nhét vô đó nào là thịt, cá, xá xíu, lạp xưởng, chà bông, chả lụa, xíu mại, rau củ… ngon không thể tưởng tượng.
Cái thứ bánh dài, giòn rụm và thơm mùi bột mì mới chín, mùi bơ trét bên ngoài đó đã thành một thứ quà đô thành bình dân mà sang trọng khi đi từ Sài Gòn về quê, ghé Phú Lâm, bến xe mua vài ổ làm quà về quê.
Tiếng rao “Bánh mì Sài Gòn mới ra lò nóng hổi vừa thổi vừa ăn, giòn rụm, thơm phức đây bà con ơi” vẫn còn đọng lại trong tâm trí những ai trót yêu xứ sở của mình.

Tác giã : Linh Huỳnh

Nhớ về kem đánh răng Hynos

776 views

Có lẽ ai sống ở Sài Gòn từ trước năm 1975 cũng đều quá quen thuộc với hình ảnh anh Bảy Chà Và đen trên hộp kem đánh răng Hynos. Vài dòng để nhớ lại món đồ quen thuộc này trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem đánh răng Hynos. Lúc đầu, ông chỉ là người làm thuê cho hãng kem Hynos, lúc này Hynos chỉ là một hãng kem nhỏ, ít tiếng tăm do một người Mỹ gốc Do Thái có vợ Việt Nam mở hãng sản xuất kem đánh răng ở Việt Nam. Sau này khi người vợ mất, ông chủ buồn rầu bỏ đi giao lại cho ông vì ông được tiếng là trung thành, cần cù làm ăn.

Vương Đạo Nghĩa, là một người có óc làm ăn cấp tiến kiểu Tây Phương. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo hàng của hãng ông trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim võ hiệp và tình báo kiểu Trung Hoa vào quảng cáo, sau khi gặp lại người anh họ (con ông bác) ở Hong Kong là tài tử Vương Vũ và được ông mời đến Việt nam nhiều lần trong các dịp nghĩ hè. Người dân miền Nam không thể quên hình ảnh tài tử “Vương Vũ giải thoát các xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp” hay “anh Bảy Chà cười toe với hàm răng trắng chói” có mặt khắp nơi trên các đường phố, ngõ hẻm. Bên cạnh đó, điệp khúc Hynos cha cha cha… trên đài phát thanh và trên chiếc deux chevaux (2CV) bán hàng tại các chợ Sài Gòn.

Kem Đánh Răng Hynos

Có lẽ ai sống ở Sài Gòn từ trước năm 1975 cũng đều quá quen thuộc với hình ảnh anh Bảy Chà Và đen trên hộp kem đánh răng Hynos. Vương Đạo Nghĩa chọn hình ảnh một ông Chà Và da thật đen làm biểu tượng quảng cáo cho sản phẩm của mình cũng chính bởi vì nước da ngâm đen sẽ làm nổi bật lên hàm răng trắng, và mục đích của Vương Đạo Nghĩa cho hình ảnh quảng cáo này là: chỉ có dùng kem đánh răng Hynos mới có được hàm răng trắng khỏe như thế. Cũng nói thêm về người Chà Và ở đây là chỉ những người đến từ đảo Java, về sau này dùng để gọi tất cả những người có màu da ngâm ngâm như Chà Bom bay (Bombay, Ấn Ðộ), Chà Ma ní (Manila, Phillipines)….Chữ Chà Và là cách đọc trại từ chữ “Java”.

Sản phẩm của hãng kem đánh răng Hynos cạnh tranh với các hãng kem Việt Nam hiệu Perlon và Leyna ở miền Nam và kem ngoại quốc như Colgate (Mỹ), C’est it (Pháp). Khi Hynos lên ngôi thì các thương hiệu kem đánh răng khác như Kool, Gibbs, Perlon bị cáo chung. Hynos có mặt khắp nơi tại Việt Nam, Kampuchea, Lào, Singapore, Thái Lan, Hồng Kông.

Kem Đánh Răng Hynos

Trong vòng 10 năm, kể từ ngày góp mặt trên thị trường, kem đánh răng Hynos đã từ một cơ xưởng sản xuất nhỏ bé vượt lên thành một xí nghiệp với cá thiết bị sản xuất hiện đại. Sản phẩm của Hynos đã qua mặt các sản phẩm cùng ngành nghề khác trong nước về chất lượng và kỹ thuật sản xuất. Số lượng sản phẩm xuất xưởng đã vượt qua các nhà máy có sản phẩm nổi tiếng và lâu đời như Perlon, Leyna. Kem đánh răng Hynos đã độc chiếm thị trường nội địa và tạo được ảnh hưởng khá mạnh mẽ trên thị trường Đông Nam Á. Kem đánh răng Hynos đã được bày bán ở các nước lân cận trong vùng Đông Nam Á như Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Hồng Kông và được người tiêu dùng rất hoan nghênh. Người ta nói ông chủ Hynos đã không ngần ngại trích ra 50% lợi nhuận cho việc quảng cáo. Có thể nói, đây là một tỷ lệ quảng cáo đột phá và đầy ấn tượng trong bối cảnh nền thương mại của Sài Gòn xưa đang trên đường hội nhập.

Năm 1975, hãng Hynos được bàn giao lại cho Nhà nước, sáp nhập với Công ty Kolperlon thành Xí nghiệp Kem đánh răng Phong Lan. Sau đó liên doanh với các công ty nước ngòai và đổi tên thành công ty Hóa phẩm P/S. Sau khi nhượng vốn liên doanh cho Unilever, Công ty Hóa phẩm P/S quay lại sản xuất kem Hynos.

Cũng sử dụng lại nụ cười anh Bảy Chà trên vỏ hộp kem, đồng thời làm mới bằng hình ảnh gia đình hiện đại, Hynos đã có mặt trên kệ hàng của các siêu thị, dù số lượng chưa thật nhiều.

20 bức ảnh hiếm về Sài Gòn năm 1948 qua ống kính của Jack Birns

918 views

Làm việc cho tập chí LIFE, nhiếp ảnh gia người Mỹ Jack Birns đã thực hiện rất nhiều bộ ảnh quý giá về cuộc sống đời thường ở một số nước Châu Á, trong đó có Việt Nam.

Vào cuối thập niên 40, ông đã có mặt ở Sài Gòn lúc đó còn dưới quyền cai trị của thực dân Pháp. Mang theo trên người ba bộ máy ảnh, ông đã lưu lại những khoản khắc rất thú vị về cuộc sống Sài Gòn vào năm 1948, nhất là sự tương phản giữa văn hóa truyền thống của người Việt Nam và sự ảnh hưởng phương Tây mà người Pháp đã mang qua Đông Dương.

20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Cầu Khánh Hội
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Chỗ giữ xe đạp trên đại lộ Nguyễn Huệ
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Lính Pháp ngồi uống cà phê ở vĩa hè
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Thanh niên bán báo ngủ gục trên quầy
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Les Grands Magasins Charnier hay còn gọi là Thương xá Tax
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Le Cercle Sportif Saïgonnais (Cung Văn hóa Lao Động)
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Bùnh binh trên đại lộ Nguyễn Huệ
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Nơi bán đồ mỹ phẩm
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Những bóng hồng đang dạo ở Thảo Cầm Viên
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Sài Gòn thời đó đã có xe tram
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Bên trong một cửa hàng bán trang sức
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Tiệm bán giầy trên vĩa hè
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Hóng mát trên vĩa hè cùng đồng nghiệp
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Người bản xứ đang xem trộm một cuộc đua ngựa
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Rạp hát Nam Châu
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Hai vị linh mục trên đường Đồng Khởi
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Ba bóng hồng tạo dáng chụp hình trong Vườn Ông Thượng (Jardin de la Ville)
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Nữ tù nhân
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Trường đua Phú Thọ

Ngã Tư Hàng Sanh (Sài Gòn) trước năm 1975

1504 views

Ngã Tư Hàng Sanh là một giao lộ đồng mức thuộc loại hiện đại nhất của Sài Gòn trước biến cố 1975. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu thông tin và khám phá hình ảnh về địa điểm mang tên cây này tại Sài Gòn xưa.

Lý giải về tên gọi Hàng Xanh, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trước năm 1945 khu vực này trồng nhiều cây sanh. Cây Sanh được trồng dọc hai bên đường Bạch Đằng ngày nay kéo dài đến ngã tư này.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn
Hàng Xanh 1967

Sanh là tên một loại cây lớn có họ hàng với cây đa, cây đề, cây si… (họ Ficus). Xưa trên con đường đi từ đường Thiên Lý (đường Cái Quan), chổ gần cầu Sơn, đi băng qua rạch Cầu Bông đến lăng Ông – Bà Chiểu, hai bên đường có trồng hàng cây Sanh, do vậy đường có tên là Hàng Sanh, nay là đường Bạch Đằng. Cho đến khoảng thập niên 40 vẫn còn cây này ở ven đường. Trên Bản đồ đô thành Sài Gòn năm 1962 thì đoạn đầu của đường Bạch Đằng vẫn còn ghi tên là đường Hàng Sanh.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn
Bảng chỉ dẫn tên đường ở Ngã 4 Hàng Xanh. Đi thẳng là qua cầu Tân Cảng để đi Biên Hòa, quẹo trái về tỉnh Gia Định, Bà Chiểu, quẹo phải về trung tâm Sài Gòn

Sài Gòn xưa là rừng, đến giữa thế kỷ XX vẫn còn nhiều vết tích. Người dân bản xứ thường đặt tên những địa danh bằng tên các loài cây như : cây Vắp, cây Củ Chi, cây Sanh, cây Quéo, cây Thị, cây Da Sà, cây Sơn (có cầu Sơn gần ngã tư Hàng Sanh), cây Gõ, cây Xoay, … và cây Gòn (Sài Gòn).

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Trước thập niên 1960, chỗ này mang tên là Ngã 3 hàng Sanh. Đến đầu thập niên 1960, sau khi cầu Tân Cảng (nay là cầu Sài Gòn) được xây dựng, có thêm một nhánh đường đi Biên Hòa được gọi là Xa Lộ Biên Hòa, thì chỗ này mới thành Ngã Tư Hàng Sanh.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Vào thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, ít người biết được đây là một giao lộ đồng mức thuộc loại hiện đại nhất Á Châu thời ấy, với hệ thống dải phân cách, phân luồng và đèn tín hiệu giao thông được cách âm chôn hoàn toàn dưới lòng đất và vẫn còn sử dụng tốt cho đến năm 1995…

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Ngày trước, ngã tư Hàng Sanh đặt một chiếc đồng hồ mà ai đi qua cũng thấy. Bây giờ những chiếc đồng hồ công cộng ấy chỉ còn lại ở vài ngã tư. Trước tình hình giao thông cấp bách, vòng xoay của ngã tư Hàng Sanh bị đập bỏ, nhường chỗ cho cây cầu vượt bằng thép xuyên ngang. Chiếc đồng hồ và vòng xoay biến mất, chỉ còn lại trong hoài niệm của nhiều người.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn
Đồng hồ ở vòng xoay Nguyễn Bỉnh Khiêm (Q.1), chỉ cách ngã tư Hàng Xanh (Q. Bình Thạnh) khoảng 1 km
)Ảnh: Từ Tấn Phát)

Nhà thơ Kiên Giang – Hà Huy Hà khi lên Sài Gòn học, năm 1943 ông ở trọ tại Hàng Sanh; sau đó ông có sáng tác bài thơ “Nhạc Xe Bò”, có đoạn :

Đêm xưa trăng mới đứng đầu
Đoàn xe bò đã qua cầu Hàng Sanh
Nhạc xe bò rộn âm thanh
Khô khan mà thảm, mong manh mà sầu
Bánh xe lốc cốc
Lên dốc đầu cầu

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Tổng hợp

Những tấm ảnh độc về người nghèo ở Sài Gòn năm 1965

700 views

Sài Gòn thường được nhắc đến như một “Hòn Ngọc Viễn Đông” với những đường phố, biệt thự hào nhoáng nhưng song song với sự phát triễn của thủ đô miền Nam trước 1975 là những sự đau thương đầy nước mắt của thành phần người nghèo mà ít người nhắc đến.

Sau đây là loạt ảnh của cựu binh Mỹ Thomas W. Johnson chụp vào năm 1965.

Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Với những người nghèo nhất, mái nhà của họ có thể chỉ là những ống cống bằng bê tông. Đây đa phần là những người phải di cư do chiến sự.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
hu ổ chuột ở Chợ Lớn nhìn từ máy bay, nơi sinh sống của hàng trăm nghìn người nghèo trong những ngôi nhà tạm làm bằng vật liệu thô sơ.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Những ngôi nhà tạm bợ bên bờ kênh Bến Nghé.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Người dân của các xóm nghèo Sài Gòn làm đủ nghề để kiếm sống trên đường phố, như đi bán mía ghim dạo…
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
…Hay làm lao công.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Một người lái đò chở khách qua sông Sài Gòn.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Hai mẹ con người vô gia cư mắc võng nằm bên vỉa hè Sài Gòn.

Những bức hình màu sinh động về chợ Phan Thiết năm 1967

378 views

Có lịch sử hình hành vào năm 1697, chợ Phan Thiết ở miền Tây là nơi lưu giữ những nét văn hóa đặc sắc có từ lâu đời của mảnh đất Bình Thuận.

Khi chưa có người Việt định cư, người Chăm gọi vùng đất này là “Hamu Lithít” – “Hamu” là xóm ruộng bằng, “Lithít” là ở gần biển. Khi bắt đầu có người Việt định cư, vẫn chưa ai có ý định đặt ngay cho vùng đất này một tên gọi mới bằng tiếng Việt.

Khi chưa có người Việt định cư, người Chăm gọi vùng đất này là “Hamu Lithít” – “Hamu” là xóm ruộng bằng, “Lithít” là ở gần biển. Khi bắt đầu có người Việt định cư, vẫn chưa ai có ý định đặt ngay cho vùng đất này một tên gọi mới bằng tiếng Việt. Lâu dần, âm cuối “Lithit” lại được gắn liền với âm “Phan” tách từ phiên âm của tên hai vùng Phan Rang, Phan Rí mà thành ra Phan Tiết (tên gọi ngày xưa) và sau này người ta gọi chuẩn với cái tên là Phan Thiết.

Vào năm 1967, Bob Kelly, cựu binh Tiểu đoàn Trực thăng tấn công 227 của Mỹ, đã thực hiện một loạt hình ảnh màu cực sinh động về chợ Phan Thiết. Những bức ảnh thật quý hiếm giữ lại những giây phút sinh hoạt hàng ngày của bà con vùng Phan Thiết nói riêng và miền Tây nói chung.

Chợ Phan Thiết năm 1967
Một góc chợ Phan Thiết năm 1967
Chợ Phan Thiết năm 1967
Hầu hết những người có mặt ở chợ là phụ nữ, và họ đều đội nón lá để che nắng
Chợ Phan Thiết năm 1967
Các quầy bán rau ở chợ Phan Thiết
Chợ Phan Thiết năm 1967
Các gánh hàng mía thu hút khá nhiều người. Mía được cắt khúc và rọc vỏ tại chỗ
Chợ Phan Thiết năm 1967
Bánh mì được chất thành đống
Chợ Phan Thiết năm 1967
Em bé bên quầy bánh mì
Chợ Phan Thiết năm 1967
Quầy bán bánh canh cua khá đông khách
Chợ Phan Thiết năm 1967
Một quầy bánh trầu câu
Chợ Phan Thiết năm 1967
Cửa hàng đồ khô
Chợ Phan Thiết năm 1967
Hàng thịt lợn

Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở miền Nam Việt Nam

532 views

Nhìn lại khoảng thời gian những năm 60 của thế kỉ trước, hình ảnh những con người Việt nghèo khó ở miền Nam Việt Nam. Cùng với đó là những chiếc xe đạp, xe hơi chở khách, xe đò, xe lam, những bức ảnh cho chúng ta thấy các phương tiện giao thông ở Việt Nam hồi những năm 1960 rất đa dạng. Nhưng đó là những con người sống thật nhất, không có cảnh chen lấn xô đẩy như cuộc sống hiện tại.

Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN

Chùm ảnh lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội vào những năm 1920-1929

685 views

Hà Nội, đền thờ Hai Bà Trưng, còn gọi là Đền Đồng Nhân vốn dựng từ năm 1160 đời vua Lý Anh Tông ở phường Bố Cái, tức là bãi Đồng Nhân, bên bờ sông Hồng. Năm 1819, vì bãi bị lở, dân dời đền vào khu vực trường Giảng Võ cũ của thời Lê, thuộc đất thôn Hương Viên, tổng Thanh Nhàn huyện Thọ Xương tức địa điểm hiện nay.

Từ nhiều thế kỷ qua đến nay, đền là nơi thờ Hai Bà Trưng linh thiêng bậc nhất ở kinh đô Thăng Long và miền Bắc nói chung. Ngôi đền đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích Lịch sử Quốc gia ngay đợt đầu tiên vào năm 1962.

Mỗi năm đền tổ chức một lễ hội lớn diễn ra từ ngày 3-6/2 Âm lịch để tưởng nhớ công lao của Hai Bà Trưng. Mồng 4, làng vào đám bằng tế nhập tịch và mồng 5 là hội rước nước. Đám rước đi từ đền ra phố Huế, lên Hàng Bài đến tận đền Bà Kiệu ở Hồ Gươm, rẽ ra Cột đồng hồ ở phố Trần Nhật Duật, rồi đưa choé xuống thuyền ra giữa sông lấy nước về nấu với trầm hương để tắm tượng. Hai lão bà trong làng, tính cách khiêm nhường, đức hạnh, được dân cử để tắm tượng, mặc áo mới cho Hai Bà trong ngày hội lớn.

Cùng nhau xem loạt ảnh đặc sắc về lễ hội này do người Pháp chụp vào những năm 1920-1929.

Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Khung cảnh ở sân đền. Trong điện thờ, các vị chức sắc đang làm lễ trước bàn thờ
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Một vị cao niên đọc sớ trong điện thờ
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Các hương chức, quan viên và nhạc công tập trung phía trước điện thờ
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Trẻ em cầm cờ đứng dọc lối vào điện thờ trong lễ hội đền Đồng Nhân
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Kiệu thờ và các đồ lễ được đặt ở sân đền để chuẩn bị cho đám rước tôn vinh Hai Bà Trưng
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Hai chiếc bình đựng nước thiêng sẽ được rước trong lễ hội
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Người hành lễ cầu khấn bên chiếc kiệu đặt ở sân đền trước lễ rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Các chức sắc mặc lễ phục, chụp ảnh kỷ niệm với tượng voi ở sân đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Các quan chức chụp ảnh kỷ niệm trước bức bình phong của đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Nhóm nam giới có địa vị trong làng chụp ảnh kỷ niệm
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Đám rước chuẩn bị khởi hành từ sân đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Tượng voi được đưa ra trước cổng đền để phục vụ lễ rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Chiếc kiệu lớn được đưa ra khỏi cổng đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Đám rước đi qua đường làng
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Dân làng tề tựu xem đám rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Người khiêng trống trong đám rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Bến sông Hồng gần đền Đồng Nhân tấp nập khách hành hương qua lại bằng thuyền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Một con thuyền chở đồ lễ phục vụ lễ hội

Theo Kiến Thức

Vài tấm ảnh rất hiếm học sinh trường Albert Sarraut ở Hà Nội (1939-1942)

1098 views

Trường Trung học Albert Sarraut (tiếng Pháp: Lycée Albert Sarraut) là một trong những trường trung học nổi tiếng nhất ở Đông Dương, được thành lập từ năm 1919 tại Hà Nội.

Trường Trung học Alber Sarraut là một trong số 69 trường Trung học do Pháp thành lập trên các thuộc địa, phản ánh quan điểm đào tạo đội ngũ công chức kế thừa làm việc cho chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương.

Vài năm sau khi trường thành lập, ngoài những học sinh người Pháp chiếm phần đông số học sinh, còn có cả con em các quan chức cao cấp người Việt Nam, người Miên, người Lào, người Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản.

Dưới đây là vài hình ảnh quý hiếm về học sinh trường Albert Sarraut chụp vào những năm 1939-1942. Những bức ảnh quý nầy thuộc quyền sở hữu của bà BRUGIERE (Claudie BEAUCARNOT).

Học sinh trường Albert Sarraut ở Hà Nội
Lớp 3èmeA (1939)
Học sinh trường Albert Sarraut ở Hà Nội
1. Than Khoi LÊ
2. Georges LITOLFF
3. Jeanine ESQUER
4. Marguerite DOUGUET
5. Thi An TRAN
6. Claudie BEAUCARNOT
7. Yvonne FONTANNE
8. Paulette GARCIN
9. Odette RABUT
10. Micheline RIVERE
12. Pierre GUIRIEC
13. Van De HOANG
14. Ông LE DIZES (Thầy dậy
tiếng Pháp và tiếng La Tin)
18. J. P. LE MEILLOUR
19. Claude de FEYSSAL
21. Maurice DELFOUR
25. DIGO
30. Claude FABRE
31. Maurice DASSIER
32. R. BRAVARD
33. René FABRE
35. Jean LE DIZES
36. Jacques HUMBERT
37. François-Xavier ORTOLI
38. Georges ROUAN
39. Pierre MILLOUR
41. Jules DIEN
Học sinh trường Albert Sarraut ở Hà Nội
Khóa học 1942-1943
Học sinh trường Albert Sarraut ở Hà Nội
1. Monique ÉRARD
2. Raymonde CAURIERE
3. Éliane PERRIN
4. Jacqueline PARENT
5. Nicole ROLLE
6. Raymonde AMBROIX
7. Solange RENUCCI
8. Janine MICHAUD
9. Geneviève JOGUET
11. M. M. HUONG
12. H. Phuc NGUYEN
13. Michel LEFÈVRE
14. Georges GALLAIS
15. Camille MAYAUX
16. Louis SCHUTZ
17. H. Duc NGUYEN
18. Jean DARIUS
19. V. Minh TRAN
20. Maurice MILLOUR
23. Jean CHATEAU
24. Trang
25. O. An TRAN
26. H. Can PHAN
27. D. Tack NGUYEN
28. Pierre PERRIN
29. Pierre CHATEAU
30. Georges MONLAÜ
31. Georges MAMOSA
Học sinh trường Albert Sarraut ở Hà Nội
Khóa học 1941-1942

Tổng hợp từ trang của ông Philippe Millour

Con đường đến vinh quang qua những bức ảnh thi cử ở Nam Định

600 views

Từ ngàn xưa, do ảnh hưởng của Khổng Mạnh, xã hội Việt Nam rất coi trọng các nhà nho giáo. Phần đông những quan lại đều được tuyển chọn từ tầng lớp học thức này.
Dưới triều Nguyễn, cứ 3 năm thì triều đình lại mở khóa thi Hương ở các tỉnh lớn, ai dự thi cũng được, thí sinh trúng tuyển thì được gọi là Cử-Nhân (người được địa phương tiến cử với triều đình). Năm sau thì các Cử-Nhân vào Kinh để thi Hội và thi Ðình. Ai đậu khóa thi Hội thì được gọi là Thám Hoa, đậu khóa thi Ðình thì được gọi là Tiến-Sĩ (người có tầm học uyên bác), tên họ sẽ được khắc trên bảng vàng hay bia đá, rồi lưu lại cho muôn thế hệ sau. Các tân khoa này đều sẽ trở thành quan lại của triều đình nếu họ muốn. Sau đó họ sẽ được ngồi võng lọng rồi được binh lính đưa về làng xưa để “vinh qui bái tổ”, một vinh dự tối cao mà ngày xưa tất cả các học trò đều mơ ước.
Từ ngàn xưa, đây là con đường duy nhất để đưa đến sự vinh quang nên phong tục này đã đi sâu vào tâm não của dân Việt, mãi đến ngày hôm nay sự suy nghĩ này vẫn còn tồn tại.
Sau đây là những hình ảnh một phong tục ngàn năm hiếm hoi được lưu giữ lại ở Nam Định.

Các quan chủ khảo đang quan sát các thí sinh làm bài. Ảnh chụp tại trường thi Nam Định năm 1897
Các quan chủ khảo đang quan sát các thí sinh làm bài. Ảnh chụp tại trường thi Nam Định (1897)
Lều chõng đi thi
Lều chõng đi thi
Các vị quan chủ khảo tại trường thi Nam Định năm 1897
Các vị quan chủ khảo tại trường thi Nam Định năm (1897)
Một học trò với sách chữ Nho Thánh hiền và cây bút lông
Một học trò với sách chữ Nho Thánh hiền và cây bút lông
Một thí sinh 70 tuổi
Một thí sinh 70 tuổi
Thầy đồ làng dạy đám học trò chữ Nho
Thầy đồ làng dạy đám học trò chữ Nho
Thầy đồ cầm roi, ngồi trên sập gụ dạy lũ học trò làng chữ Nho
Thầy đồ cầm roi, ngồi trên sập gụ dạy lũ học trò làng chữ Nho
Các thí sinh đi vào quảng trường thi Nam Ðịnh (năm 1897), họ phải tự làm lều và đặt chõng để viết bài
Các thí sinh đi vào quảng trường thi Nam Ðịnh (1897), họ phải tự làm lều và đặt chõng để viết bài
Hình vẽ trường thi năm 1895
Hình vẽ trường thi năm (1895)
Một vị quan chủ khảo tại trường thi Nam Định 1897
Một vị quan chủ khảo tại trường thi Nam Định (1897)
Hội đồng giám khảo tại trường thi Nam Định 1897
Hội đồng giám khảo tại trường thi Nam Định (1897)
Hội đồng giám khảo tại trường thi Nam Định 1897
Hội đồng giám khảo tại trường thi Nam Định (1897)
Ngày vinh danh những thí sinh đỗ đạt tại trường thi Nam Định 1897.
Ngày vinh danh những thí sinh đỗ đạt tại trường thi Nam Định 1897. Ở chính giữa hình có mặt Paul Doumer, Toàn quyền Đông Dương.
Các sĩ tử và người thân đang chờ xướng danh công bố kết quả thi tại trường thi Nam Định 1897
Các sĩ tử và người thân đang chờ xướng danh công bố kết quả thi tại trường thi Nam Định (1897)
Bảng vàng khắc tên những người trúng tuyển tại trường thi Nam Định 1897
Bảng vàng khắc tên những người trúng tuyển tại trường thi Nam Định (1897)
Các tân khoa được ban mũ, áo, hia (1897)
Các tân khoa được ban mũ, áo, hia (1897)
Các tân khoa đến bái tạ tại văn miếu (1897)
Các tân khoa đến bái tạ tại văn miếu (1897)
Các tân khoa bái ông Tổng đốc Nam Định (1897)
Các tân khoa bái ông Tổng đốc Nam Định (1897)
Quan Tổng đốc Nam Định thay mặt nhà Vua thết đãi yến tiếc cho các tân khoa đỗ đạt
Quan Tổng đốc Nam Định thay mặt nhà Vua thết đãi yến tiếc cho các tân khoa đỗ đạt
Các tân khoa được rước đi dạo phố cho mọi người biết mặt
Các tân khoa được rước đi dạo phố cho mọi người biết mặt
Lễ xướng danh những sĩ tử đỗ đạt trường thi Nam Định 1897
Lễ xướng danh những sĩ tử đỗ đạt trường thi Nam Định (1897)

Những bức ảnh quý hiếm về nền giáo dục ở Tonkin (Bắc Kỳ)

942 views

Hãy cùng chúng tôi khám phá vài bức hình rất hiếm của nền giáo dục ở Tonkin (Bắc Kỳ) trong thời kỳ Pháp thôn tính Việt Nam.
Những bức ảnh quý giá này (không tác giả) được giới thiệu với công chúng lần đầu tiên tại triển lãm thuộc địa Đông Dương ở Paris vào năm 1931.

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Tiểu học Nữ sinh Hà Nội - Bệnh Viện
Trường Tiểu học Nữ sinh Hà Nội – Bệnh Viện

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Sư phạm Nữ sinh người Việt tại Hà Nội 0
Trường Sư phạm Nữ sinh người Việt tại Hà Nội 0

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Pugnier Hà Nội
Trường Pugnier Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường dậy tiếng Trung Hoa
Trường dậy tiếng Trung Hoa

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội
Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Cao đẳng Tiểu học Nữ sinh Hà Nội
Trường Cao đẳng Tiểu học Nữ sinh Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Cao đẳng Tiểu học Hà Nội
Trường Cao đẳng Tiểu học Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường cao đẳng công nghệ ở Hải Phòng
Trường cao đẳng công nghệ ở Hải Phòng

Nền giáo dục ở Tonkin - Trường Amiral Courbet ở Hà Nội
Trường Amiral Courbet ở Hà Nội

Nền giáo dục ở Tonkin - Lớp thủ công mỹ nghệ 1
Lớp thủ công mỹ nghệ

Nền giáo dục ở Tonkin - Lớp thủ công mỹ nghệ 0
Lớp thủ công mỹ nghệ

Nền giáo dục ở Tonkin - Lớp học chữ Nôm
Lớp học chữ Nôm

Nền giáo dục ở Tonkin - Chơi đánh đáo
Chơi đánh đáo