Cuộc Sống Đời Thường - Page 2

200 năm xe đạp: những ký ức không bao giờ lãng quên

669 views

Đó là vật dụng một thời theo mẹ ra chợ, đưa cha đi làm, cùng con đến trường và cũng gắn với tình yêu qua “những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng”…
Nhưng có lẽ không mấy ai để ý một điều: chiếc xe đạp “chào đời” ngày nào? Cách đây 200 năm, nam tước người Đức Baron Karl von Drais ra mắt công chúng chiếc xe có biệt danh “ngựa gỗ” vào năm 1817 và đó cũng được xem là ngày xe đạp ra đời.
Chiếc xe đạp theo chân người Pháp vào Việt Nam từ thế kỷ 19, nhưng sức phổ biến của nó trong đời sống người dân Việt chỉ thật sự thể hiện sau đó vài thập niên. Có lúc nó đã có thời hoàng kim khi là phương tiện chính để đi lại của người dân đô thị.

Xe đạp ở Sài Gòn ngày xưa

Chú Nguyễn Cương Phú – năm nay 80 tuổi, từng là cư dân ở ngã ba Cây Thị, Xóm Gà, Gia Định – kể: Cuối thập niên 1940, xe đạp, lúc đó gọi là xe máy, tuy đã bán ra khá nhiều nhưng không phải ai cũng có thể có nó dễ dàng.
Nhiều nhà phải dành dụm thời gian dài mới sắm được và phải đi từng bước, mua xe cũ rồi tiến lên mua xe mới. Thời đó trừ một số ít người có xe hơi, ai nấy đi đâu thì cuốc bộ, đi xa thì dùng xe ngựa. Ai sắm được xe đạp thì rất sướng, chủ động đến nơi mình muốn, thênh thang trên đường lộ là cảm thấy vui và có chút hãnh diện.
Lúc đó còn là chú bé mới hơn mười tuổi, chú Phú mừng rơn khi bố dắt về chiếc xe đạp kiểu nam mua ở cửa hàng với giá gần 300 đồng bạc Đông Dương. Ngày nào bố không đi đâu, chú mượn chiếc xe ra tự tập.
Chân chưa đủ dài để ngồi trên yên hoặc trên khung đạp được một vòng bàn đạp, chú luồn chân phải qua dưới ống sườn ngang để chạm bàn đạp phải. Bọn trẻ cùng xóm đứng xem trầm trồ ngó chiếc xe mơ ước đó.

Xe đạp Sài Gòn xưa

Từ hàng ngoại nhập đến xe sườn ống nước

Xe đạp ở Sài Gòn kể từ thập niên 1940 trở đi không cần phải đăng ký, mang biển số, không phải kê khai lý lịch và cũng không phải mua bảo hiểm. Người ta chỉ cần một tờ giấy mua bán hoặc giấy mua bán viết tay, có chính quyền địa phương thị thực là đủ.
Giá cả thì rất phù hợp với túi tiền người dân. Có xe rồi, chỉ cần mua một ổ khóa nho nhỏ kèm sợi dây xích (gọi là khóa “ăn-ti-vôn” – đọc trại từ tiếng Pháp antivol – khóa chống trộm) khóa lại là xong. Thời đó hầu như không có trường hợp bẻ khóa ăn cắp xe, tất nhiên vẫn có người mất xe do lơ đễnh, quên khóa.
Đến thập niên 1950 là thời hoàng kim của xe đạp ở Sài Gòn. Số xe đạp được dùng ở thành phố này tăng lên ngày càng nhiều, thầy thợ đều có xe để đi làm các công tư sở.
Các trường trung học, trường nữ như Marie Curie, trường nam như Taberd, Chasseloup Laubat hầu như học sinh đều dùng xe đạp làm phương tiện di chuyển đến trường và về nhà.
Mức độ thông dụng của xe đạp gần như nó là đôi chân của con người. Một người từ tỉnh lên Sài Gòn chỉ cần đạp xe từ nhà ra bến xe đò, mua vé. Lơ xe đứng trên mui xe đón chiếc xe do khách tự đưa lên hoặc do người phụ lơ đưa lên mui.
Họ ràng buộc rất chắc chắn, khách vô ghế ngồi. Xe đến Sài Gòn, lơ xe cởi dây thả xe xuống, khách nhận xe đạp đến địa chỉ cần tìm. Chẳng phải đi bộ bước nào. Ai nấy đều thấy quá tiện lợi, thậm chí có xe gắn máy cũng không làm được như vậy vì nặng nề.
Người dân Sài Gòn từ thầy, thợ, học sinh, đàn ông, đàn bà… hầu như ai cũng biết “cỡi” xe đạp. Tùy hoàn cảnh và địa vị trong xã hội mà người ta sắm những chiếc xe đạp phù hợp. Việc di chuyển bằng xe thổ mộ (xe ngựa) giảm dần, để rồi sau đó hầu như chỉ dành cho tiểu thương vận chuyển hàng từ nhà quê, ngoại thành ra các chợ và trở về khi chợ tan.
Cùng với sự phát triển xe đạp, sau này xe xích lô trở thành phổ biến. Nhà nào dù giàu hay nghèo cũng phải có ít nhất một chiếc xe đạp, đặc biệt ở các nữ sinh trung học, hầu như cô nào cũng có một chiếc xe đạp nữ với kiểu dáng thanh thoát.
Để tà áo dài của các cô nữ sinh khi di chuyển không bị dính vô các cây căm (nan hoa) của xe, bánh sau xe đạp nữ có thêm hai mảnh lưới đan nhiều màu sắc rực rỡ, che phủ gần phân nửa bánh sau, khiến chiếc xe nhìn càng duyên dáng.
Các loại xe đạp thời bấy giờ: kiểu xe chắc chắn, loại phổ thông là xe nam với ghiđông (tay cầm) hình chữ U, hai tay nắm vểnh cao để người điều khiển không phải cong người khi đạp cho xe di chuyển.
Loại này yên to, có lò xo dưới yên, còn poọc-ba-ga (porte bagage) được làm bằng thanh sắt đặc rất cứng. Hai tay thắng cũng bằng thanh sắt đặc uốn lượn theo ghiđông, song song với cổ xe, xuống đến đầu thắng.
Xe tuy cổ kính, nặng nề nhưng rất chắc chắn, người Hoa thường dùng loại xe này chở hàng. Có người đồn rằng ống tuýp để hàn sườn xe được hàn bằng ống tuýp nước, vừa rẻ vừa cứng chắc.
Xe kiểu cách, thời trang thường được nhập từ Pháp như các hiệu Reynold, Royal Stella, Peugeot. Các loại xe mang thương hiệu này là cao cấp nhất.
Giới thượng lưu chơi xe, thích nhất là sườn xe được làm bằng chất liệu nhẹ, chuộng nhất ở hiệu Reynold, với giá cao. Trong giới đua xe đạp, sườn xe đạp đua được ưa chuộng chỉ có hai loại, nhất là tuýp Reynold, nhì là tuýp hiệu Tube.
Xe nữ thì thanh tuýp ngang của xe nam được hạ xuống, chéo từ cổ xe xuống gần bàn đạp của trục yên xe. Riêng xe Royal Stella và Peugeot thì thanh chéo này được làm bằng hai thanh tuýp song song, uốn lượn xuống gần trục bánh xe sau.
Các cửa hàng buôn bán xe và phụ tùng ở Sài Gòn nhái theo các kiểu cách xe nhập cảng, hàn khung xe… nhưng do kỹ thuật hàn chưa tốt và chất liệu ống tuýp thường dày hơn xe Pháp, nên trọng lượng xe thường nặng hơn xe nhập cảng cùng kiểu cách, có khi nặng hơn gấp rưỡi, lại dễ bị đứt mối hàn ở cổ xe, khiến người điều khiển bể mặt, gãy răng là chuyện thường, nhất là trong giới xe đua.
Nhưng sau một thời gian xe nội địa biết rút kinh nghiệm, sản xuất sườn xe có chất lượng tốt hơn, kịp thời theo được mẫu mã của xe nhập cảng, đẹp hơn lên dù giá cả chỉ bằng 50-70% giá xe nhập.
Nói chung, hồi đó tuy không có quy chuẩn cho một chiếc xe đạp hoàn chỉnh nhưng người ta cũng dựa vào thị hiếu và lượng nhu cầu tiêu thụ mà hình thành các quy chuẩn như: đường kính bánh xe nữ là 650, xe nam là 680 và xe đua là 700mm.

Xe đạp Sài Gòn xưa

Cơn sốt xe mini từ ca sĩ Thái Hiền

Có người kể rằng thời gian trước thập niên 1940, từ đường Nancy (nay là Nguyễn Văn Cừ) trở ra, hai bên đường Galliéni (Trần Hưng Đạo) có hai con đường nhỏ chạy song song, người ta cắm bảng hướng dẫn ghi bằng tiếng Tây “Piste réservée pour cyclistes” (đường dành riêng cho xe đạp).
Đi xe đạp khi ấy cũng phải đóng thuế, kể cả học sinh dù không có tiền. Mỗi xe nộp thuế ba đồng, cò Tây mới phát cho tấm plaque bằng nhôm chừng hai ngón tay để gắn vào xe. Buổi tối, xe đạp ra đường mà không có đèn hoặc không có plaque thuế thì xe bị chở về phú-de. Nhiều học sinh muốn trả đũa bèn gắn tấm plaque dưới đít yên xe.
Mỗi lần, mấy thầy phú-lít hỏi thẻ thuế, họ lấy tay chỉ xuống dưới đít, bắt buộc thầy chú, kể cả cò Tây, phải cúi xuống dưới đít họ nhìn mới thấy. Về sau Tây biết sự tình bèn ra lệnh gắn plaque thuế “ở chỗ dễ thấy nhất”, nếu không thì phạt.
Số lượng xe đạp bán ra thị trường lên đến đỉnh điểm có lẽ khoảng từ năm 1954 – 1960. Sau đó giảm dần vì đã có nhiều loại xe máy nhập về từ Vélo SoleX đến Mobilette, CNC, rồi motobécane và xe bốn bánh. Thời hoàng kim của xe đạp kết thúc, trở thành một phương tiện di chuyển phổ thông của giới bình dân và học sinh.
Đến cuối thập niên 1960 và những năm sau đó, ở Sài Gòn có lúc quay lại đi xe đạp nhiều hơn. Lúc đó xe buýt xanh, xe buýt vàng lỗ lã nên đã tạm ngưng, nhường chỗ cho xe lam một thời gian rồi xe buýt quay lại. Phải công nhận vai trò của xe buýt lợi hại.
Em gái của người viết lên 10 tuổi, học sớm một năm, đậu vào đệ thất (lớp 6) Trường Gia Long, từ Phú Nhuận đến trường ở đường Phan Thanh Giản chỉ đi xe buýt là tiện vì nhỏ quá, chưa dám đi xe đạp. Nhưng những người trưởng thành, nhất là giới sinh viên học sinh, trở lại với chiếc xe đạp khi giá xăng dầu giai đoạn sau năm 1972 bắt đầu lên cao.
Lần trở lại này xuất hiện loại xe đạp mini dành cho nữ giới hình dáng tương tự xe Cady (motobecane). Loại xe này sau đó trở nên rất phổ biến sau đoạn phim Tuổi thần tiên với giọng ca Thái Hiền, các diễn viên vừa đạp xe mini vừa hát.
Xe có kiểu dáng khác xe đạp thông thường với sườn xe cong cong, tay lái hình chữ U vút lên, bánh xe nhỏ. Xe đạp mini cùng người cưỡi là cô gái mặc quần ống loe, tóc dài là hình ảnh rất quen thuộc thời đó. Có xe nhập và xe Ý sản xuất sườn, vè trong… Chợ Lớn.
Báo chí lúc đó thấy xe đạp rộ lên quá, than là “xe đạp vẫn hoàn xe đạp” (Thời Nay ra ngày 14-9-1974). Ai nói mặc kệ, ở nhà người viết, hai bà chị còn tuổi đi học mê xe đạp mini quá, còng lưng sau giờ học ngồi đan mành cửa bằng ống hút xanh đỏ để có tiền mua xe đạp. Vậy mà cuối cùng cũng thửa được một chiếc xe màu xanh.
Xe đạp mini là cơn sốt của giới trẻ lúc đó, còn những người khác vẫn thích đi xe máy, đi đâu cũng nhanh, không phải mướt mồ hôi dưới trời nắng. Vả lại lúc đó cây xanh nhiều, đường phố vắng, chuyện hít khói xăng, hít không khí ô nhiễm vào phổi không thành vấn đề.
Nhưng đó vẫn không phải là thời hoàng kim tái lập của xe đạp, mà là sau năm 1975 giai đoạn kinh tế bao cấp và xăng dầu trở nên khan hiếm.
Lúc đó xe đạp lên ngôi vì không uống xăng, xe mới chủ yếu là sản xuất trong nước từ các cơ sở sản xuất tư nhân, nguyên liệu thì thượng vàng hạ cám, xe đang chạy bị gãy sườn là bình thường vì có khi lấy sắt thùng phuy ra chế sườn xe.
Chợ Tân Thành ở Q.5 trở thành nơi chuyên doanh phụ tùng sản xuất từ Chợ Lớn xài đỡ vì có còn hơn không. Dây sên được lộn tới lộn lui, vỏ xe đắp, ruột vá chằng chịt. Giai đoạn này kéo dài đến hết thập niên 1980, kéo qua đầu thập niên 1990 mới chấm dứt.
Với xu thế ngày càng xem trọng môi trường sống, giảm ô nhiễm khí thải, chú trọng vận động cơ thể, biết đâu sẽ có lúc thời hoàng kim của xe đạp ở Sài Gòn và các đô thị ở Việt Nam quay lại như đang diễn ra ở Amsterdam (Hà Lan), Washington, Seattle và New York bên Mỹ.

© bài viết của tác giả Đăng Thuyên đăng trên Tuổi Trẻ Xuân Đinh Dậu 2017

Loạt ảnh khó quên về Sài Gòn 1965 của Gary Mathews (Phần 1)

584 views

Chúng ta hảy cùng khám phá loạt hình ảnh quý hiếm và khó quên về Sài Gòn vào năm 1965 do cựu binh Mỹ Gary Mathews thực hiện để nhận thấy vẽ  đẹp của Sài Gòn thời bấy giờ:

Gary Mathews - Saigon - Chợ Bà Chiểu 0
Khu vực chợ Bà Chiểu
Gary Mathews - Saigon - Chợ Bà Chiểu 1
Chợ Bà Chiểu, ngôi chợ nổi tiếng của Sài Gòn
Gary Mathews - Saigon - Chùa Phước Viên
Chùa Phước Viên ở Ngã tư Hàng Xanh
Gary Mathews - Saigon - Dinh Độc Lập 1965
Có rất ít sự khác biệt giữa hình ảnh của Dinh Độc Lập năm 1965 và ngày nay
Gary Mathews - Saigon - Đường Hai Bà Trưng
Xe bò kéo trên đường Hai Bà Trưng
Gary Mathews - Saigon - Lăng Ông Bà Chiểu
Lăng Ông Bà Chiểu khi đó chưa có rào cao bao quanh như bây giờ
Gary Mathews - Saigon - Ngã 3 Nguyễn Văn Thinh
Khung cảnh ở khu vực ngã 3 Nguyễn Văn Thinh – Phan Văn Đạt
Gary Mathews - Saigon - Ngã ba Nguyễn Văn Thinh - Phan Văn Đạt
Ngã ba Nguyễn Văn Thinh – Phan Văn Đạt
Gary Mathews - Saigon - Nữ sinh trường nữ học Lê Văn Duyệt
Nữ sinh trường nữ học Lê Văn Duyệt đi qua di tích thành Gia Định ở góc đường Lê Văn Duyệt – Chi Lăng
Gary Mathews - Saigon - Quảng trường Lam Sơn
Quảng trường Lam Sơn và nhà hát lớn, vào thời điểm năm 1965 được gọi là Nhà văn hóa
Gary Mathews - Saigon - Sở Công ty Điện lực
Đường Hai Bà Trưng phía trước trụ sở Công ty Điện lực
Gary Mathews - Saigon - Tòa Đô chính
Tòa Đô chính (UBND Thành phố HCM ngày nay) với tấm bảng yêu cầu “bỏ giấy vụn vào giỏ này” ở bãi cỏ phía trước
Gary Mathews - Saigon - Trụ sở Bộ tư lệnh Hải quân
Trụ sở Bộ tư lệnh Hải quân của chính quyền Sài Gòn

Vài hình ảnh độc bên trong đài truyền hình Sài Gòn trước 1975

1472 views

Đài Vô tuyến Việt Nam (viết tắt là VTVN) tức Radio Vietnam hay còn được gọi là Đài phát thanh Sài Gòn và Đài Phát thanh Quốc gia là tên của hệ thống radio của Việt Nam Cộng hòa tồn tại trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam, trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Hệ thống này còn có tên tiếng Pháp là Le Radio-diffusion National du Vietnam. Thời Đệ nhất Cộng hòa thì gọi là đài Tiếng nói nước Việt Nam Cộng hòa…

Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975 - Đạo diễn Lê Hoàng Hoa
Đạo diễn Lê Hoàng Hoa – giám đốc chương trình kiêm quản lý sản xuất của đài truyền hình VNCH – cùng người thư ký tại bàn làm việc của mình
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975 - Hoàng Thị Lệ Hợp,
oàng Thị Lệ Hợp, một trong những phát thanh viên hàng đầu của truyền hình Sài Gòn xem lại bản tin trước buổi ghi hình
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Trưởng ban hình ảnh, người viết bản tin và thư ký thực hiện các công việc theo sự phân công trong phòng tin tức
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Hai nữ dẫn chương trình sẵn sàng cho buổi ghi hình chương trình thời sự hàng ngày tại phim trường trong lúc một người quay phim kiểm tra lại thiết bị lần cuối
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Cố vấn người Mỹ hướng dẫn kỹ thuật viên trong trường quay chính
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Một kỹ sư kiểm tra máy ghi băng Amplex khi buổi ghi hình cho bản tin hàng đêm sắp kết thúc
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Ông Robert C. Gassert, cố vấn truyền hình Mỹ giám sát kỹ thuật viên Việt Nam khi vận hành máy ghi băng Ampex
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
ột kỹ thuật viên xử lý phim 35mm Houston Peerless trong phòng tối để chuẩn bị cho công đoạn biên tập
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Chuyên gia sản xuất chương trình truyền hình người Mỹ Wyndham P. Duncan điều chỉnh chiếc microphone trên cao trong lúc hai diễn viên người Việt mặc đồ cổ trang ngồi trước phông cảnh, trước khi buổi ghi hình bắt đầu
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Biên tập viên âm thanh, đạo diễn hình ảnh và người phụ trách thông tin đang xử lý một bản tin cho buổi phát sắp tới
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Người nữ thủ trong thư viện chứa hàng nghìn phim tư liệu đủ mọi thể loại
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Người nữ thủ trong thư viện chứa hàng nghìn phim tư liệu đủ mọi thể loại
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Ông Hoàng Thái – người phụ trách trường quay – kiểm tra một máy ghi băng Ampex 1100 trước buổi ghi hình của các bản tin sắp tới
Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975
Dân Sài Gòn xem truyền hình công cộng tại một chiếc ti-vi nhỏ ở Bến Bạch Đằng

Vài hình ảnh hiếm của đường Catinat thời Pháp thuộc

648 views

Bức ảnh được chụp cuối thế kỷ 19 này ghi lại đoạn đầu đường Catinat. Vị trí ngôi nhà bên trái có người đàn ông đứng tựa cửa, cũng là số 1 đường Catinat, sau này sẽ là khách sạn Majestic.

Để cảm nhận lại hơi thở Sài Gòn xưa trên Rue Catinat, ta có thể đi từ đầu đường, phía bờ sông Sài Gòn, đến phía cuối đường có dốc lên thoai thoải đến Nhà thờ Đức Bà (xưa kia vị trí này là trung tâm của thành Phiên An, tức thành Quy, thời vua Gia Long).

Đường Catinat

Trong một bức ảnh của nhiếp ảnh gia Ludovic Crespin (có cửa tiệm “Photo Studio” ở số 136 đường Catinat) được cho là chụp vào khoảng cuối thập niên 1910 và đầu 1920, phía trái hình là hai tiệm đổi tiền của ba người Ấn (mà người Pháp gọi là “malabar”), số 1 đường Catinat của ông Mougamadou Abdoullah (1909), ông Mougamadou Oussaine (1910) và số 1bis của ông Mougamade Abdoullah (3) (theo niên giám Đông Dương 1909, 1910)

Majestic Hotel

Trong một bức ảnh được chụp sau đó, vị trí bên trái đầu đường Catinat là khách sạn “Hôtel d’Annam” (Nam Việt khách lầu) của ông Huỳnh Huệ Ký

Đường Catinat - Café de la Rotonde

Ở phía đối diện là quán Cafe de la Rotonde nằm ở địa chỉ số 2 Catinat. Bên phải bức ảnh là đường Quai de Belgique (đường Tôn Đức Thắng ngày nay) với hai hàng cây ở một bên hè. Bức ảnh được chụp vào năm 1901, lúc này Sài Gòn vẫn dùng loại đèn thắp dầu để chiếu sáng.

Đường Catinat

Ngôi nhà số 1 Catinat sau đó bị phá bỏ để xây dựng khách sạn Majestic

Majestic Hotel

Khách sạn Majestic được xây dựng bởi công ty thuộc quyền sở hữu của thương gia người Việt gốc Hoa giàu có bậc nhất miền Nam Việt Nam thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (hay còn gọi là Chú Hỏa). Khách sạn Majestic thuở ban đầu có 3 tầng lầu, 44 phòng ngủ do một kiến trúc sư người Pháp thiết kế.

Đường Catinat

Một chiếc xe kéo đoạn đầu đường Catinat. Theo nhiều tài liệu thì xe kéo xuất hiện đầu tiên tại Hà Nội vào năm 1883 do Toàn quyền Bonnal cho đem từ Nhật qua. Gần 15 năm sau Sài Gòn mới biết tới loại xe kéo này (trước đó đây phương tiện di chuyển duy nhất ở đây là xe ngựa)

Đường Catinat

Tòa nhà ngay góc ngã tư Catinat – Vannier (Ngô Đức Kế ngày nay). Đây cũng là ngã tư đầu tiên của đường Catinat

Đường Catinat - Le Grand Hotel

Ngày 24.10.1930, ông Henry Edouard Charigny de Lachevrotière – Tổng biên tập của một tờ báo Pháp có được giấy phép chính thức mở Grand Hotel Saigon. Khi đó nó chỉ là một cửa hàng nước giải khát nhỏ nằm ở góc đường Catinat và Vannier (Ngô Đức Kế)

Đường Catinat - Saigon Palace

Năm 1937 Grand Hotel đổi tên thành Saigon Palace

Đường Catinat - Café de la Terrasse

Nằm ở số 130 Catinat là quán cà phê kiêm khách sạn Café de la Terrasse, bên cạnh quảng trường Francis Garnier (quảng trường Nhà hát Lớn, tức Nhà hát Thành phố ngày nay). Cạnh khách sạn và quán Café de la Terrace nổi tiếng, ở số 128 Catinat là tiệm tạp hóa của bà Wirth. Ngoài bán hàng, bà Wirth còn sản xuất và thương mại hóa các ảnh “cartes postales” từ cuối thế kỷ 19 với các ảnh xưa ở Sài Gòn, quý hiếm trong giai đoạn đó cho đến đầu thế kỷ 20.

Đường Catinat - Patisserie

Cạnh ngôi nhà đầu đường, ở số 157bis Catinat là một tiệm bánh ngọt (patisserie) của ông Marius Rousseng

Đường Catinat - Tramway

Năm 1923 Sài Gòn khai thác tuyến xe điện đầu tiên (trước đó, từ năm 1881, người Sài Gòn đã gọi các tramways là tàu điện dù thực chất đó là tàu hỏa chạy bằng dầu và than). Café de la Terrase trong bức ảnh này đã đổi thành L’information d’Extreme-Orient

Đường Catinat - Aspirine Usines du Rhone

Sài Gòn những năm 1950s. Lúc này, L’information d’Extreme-Orient (vị trí cũ của Café de la Terrase) đã đổi thành tên thương hiệu thuốc Aspirine – Usines du Rhône

Không khí tết người Bắc ở Sài Gòn trước 1975

2092 views

Không khí Tết ở Sài Gòn hồi đó bắt đầu được cảm thấy từ sau Giáng Sinh. Những sạp bán đồ Giáng Sinh dọc các đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ thật ra vẫn ngồi nguyên chỗ và chỉ thay đổi thiệp mừng Giáng Sinh sang thiệp chúc Tết mà thôi. Không khí hội hè “bắc qua” này kéo dài cho đến gần Tết, khi những khu vực bán hàng Tết thật sự được tổ chức.
Hai khu vực vui nhất là chợ hoa ở đường Nguyễn Huệ và khu vực chợ Bến Thành. Người Sài Gòn hồi đó chỉ chuộng có vài loại hoa có truyền thống lâu đời cho ngày Tết mà thôi. Và các chủng loại cũng đơn giản, vì các loại hoa hợp với khí hậu miền Nam cũng không nhiều lắm. Đứng đầu luôn là mai vàng. Sau đó là các loại cúc như đại đóa, vạn thọ, rồi thược dược các mầu, mào gà, phong lan, địa lan…
Dĩ nhiên cũng còn vài loại khác nhưng số lượng rất ít. Cây trái thì nổi bật và chính thống nhất vẫn là quất (tắc). Hoa Đà Lạt chuyển về cũng phần nhiều là phong lan, cúc, thược dược, đồng tiền và họa hoằn một ít mâm xôi và phù dung. Hoa cắm cành ngày đầu Xuân thì có lay-ơn, hoa hồng. Cũng từ Đà Lạt về nhưng các chủng loại hoa hồng hồi đó còn hơi nghèo nàn.

Khu vực trước chợ Tết Bến Thành
Khu vực trước chợ Tết Bến Thành – Saigon những năm 1960

Dân chơi Sài Gòn hồi những năm đầu của thập niên 1960 vẫn còn chơi trội bằng cách ra bãi biển Thủy Triều gần Cam Ranh để tìm cành mai rừng, cũng tương tự như lên Sapa tìm cành đào thế ở ngoài Bắc. Dọc bãi biển Thủy Triều trước đây là hàng cây số rừng mai vàng hoang dã rất đẹp. Thường người ta đốn nguyên cây đem về cắm mấy ngày Tết. Những người hiếu cổ thì vào Chợ Lớn tìm mua mấy giò thủy tiên. Hồi đó người ta chơi rễ cây thiết mộc lan chứ không ai chơi rễ thủy tiên. Thủy tiên chỉ chơi hoa, đơn hoặc kép. Những cái thú chơi thủy tiên là gọt, hãm và thúc. Mẹ tôi chăm sóc thủy tiên với sự trìu mến đặc biệt. Trước hết là phải chọn giò có số củ và hình dáng chuẩn. Sau đó gọt củ để lá và chồi hoa sẽ mọc ra theo những dạng, thế mình muốn, thí dụ như long, ly, quy, phụng, v.v. Và phải biết thúc hay hãm để kiểm soát thời điểm hoa nở theo đúng ý mình, tốt nhất là ngay (bỏ chữ sau) giờ Giao thừa.

Bông hồng Tết Saigon

Những ngày giáp Tết người ta dựng rạp bao quanh hai mặt phía công Trường Quách Thị Trang và đường Phan Bội Châu của chợ Bến Thành để bán hàng Tết. Đèn đuốc sáng trưng, trai thanh gái lịch dập dìu. Nhiều nhất là bánh, kẹo, rượu; và nhất là mứt các loại và hạt dưa. Hàng Tết ở đây phần nhiều là hàng sản xuất trong nước, thí dụ như khô nai, khô cá thiều Phú Quốc; rượu dâu, rượu Mận Đà Lạt; trái cây Lái Thiêu; bột gạo lức Bích Chi… Mỗi cửa hàng bắc loa với công suất cực mạnh để lấn át hàng xóm.
Ồn ào nhất bao giờ cũng là quầy bán thuốc đánh răng hiệu anh Bẩy Chà Hynos. Những câu rao hàng thường ngộ nghĩnh, như của quầy bán vải: “Trăm ba pô-pơ-lin, trăm sáu pô-pơ-lin, một trăm ba bán sáu chục”. Hay khi hàng đồ chơi ồn ào: “Xanh xanh đỏ đỏ em nhỏ nó chơi, em nhỏ nó mừng”, thì quầy dưa hấu bên cạnh tiếp luôn: “Xanh xanh, đỏ đỏ em nhỏ nó ăn, em nhỏ nó cười đi”.

@ Theo ongvove

Vài hình ảnh bên trong thương xá TAX trước 1975

812 views

Vài hình ảnh bên trong thương xá TAXSài Gòn chụp trước 1975.


Quelques photos prises à l’intérieur des Grand Magasins TAX, anciennement appelé Grands Magasins Charner de Saigon, avant 1975.


Some pictures taken before 1975 inside the Grand Stores TAX, formerly known as Grands Magasins Charner de Saigon.

Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax
Trong thương xá Tax

Nhớ về Thương xá TAX !

662 views

Thương xá Tax có một lịch sử lâu đời và được bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ 19, là một phần của Sài Gòn xưa hoa lệ. Tòa nhà cùng với những công trình kiến trúc thời Pháp thuộc khác như Chợ Bến Thành, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố, Nhà hát lớn thành phố, Dinh toàn quyền (nay là Hội trường Thống Nhất), Dinh Xã Tây (này là Ủy ban nhân dân thành phố) góp phần tạo nên một “Hòn ngọc Viễn Đông”, một “Ville de Sai Gon” tao nhã và sôi động bậc nhất Châu Á thời bấy giờ.
Thương xá Tax ngày ấy được mang tên Les Grands Magazins Charner (GMC) được xây dựng theo phong cách kiến trúc Pháp với những nét chấm phá mang đậm đường nét văn hóa Á Đông. Les Grands Magazins Charner tọa lạc tại vị trí đẹp nhất của trung tâm Sài Gòn, kinh doanh các mặt hàng bazar sang trọng được nhập khẩu chủ yếu từ Anh, Pháp và các nước phương tây nhằm phục vụ cho giới thượng lưu Sài thành và các đại điền chủ Lục tỉnh Nam kỳ vào thời kỳ đó.
Cùng với việc kinh doanh tại GMC rất hưng thịnh, để tận dụng tối đa công năng và hiệu quả sử dụng tòa nhà, người chủ GMC đã quyết định đập bỏ tháp đồng hồ và xây thêm một tầng nữa, đồng thời chữ GMC được đặt trên nóc tòa nhà, quan khách có thể nhìn thấy từ rất xa.

Thương xá TAX

Đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, tòa nhà GMC được Hội Mậu Dịch đổi tên thành Thương xá Tax, mặt bằng được chia nhỏ và cho các tiểu thương thuê vị trí để buôn bán. Vào thời kỳ này, việc mua bán vẫn rất nhộn nhịp, hàng hóa không khác mấy so với trước, đồng thời các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới bắt đầu được du nhập nhiều hơn vào Việt Nam.
Sau ngày 30/4/1975 tòa nhà Thương xá Tax được giao lại cho UBNDTP, Tòa nhà không còn là địa điểm kinh doanh sầm uất; mặt bằng thỉnh thoảng được tận dụng làm không gian trưng bày các mặt hàng, máy móc công nghiệp do các đơn vị quốc doanh của thành phố sản xuất.
Đúng ngày Quốc tế Thiếu nhi 01/6/1978, một lần nữa Thương xá Tax được đổi tên thành Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi Thành phố, với đội ngũ mậu dịch viên khăn quàng đỏ, đánh dấu sự náo nhiệt trở lại của tòa nhà tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh sau một thời gian trầm lắng.
Đến năm 1981, trên cơ sở sáp nhập Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi và các quầy hàng chuyên doanh trong tòa nhà trước đó, UBNDTP quyết định thành lập Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Thành phố trực thuộc Sở Thương Nghiệp để nâng tầm hoạt động, đáp ứng việc phục vụ rộng rãi nhu cầu người tiêu dùng và tòa nhà là một trong những cửa hàng lớn nhất Việt Nam thời bấy giờ.
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử cùng biến động của thành phố, tòa nhà vẫn tiếp tục tồn tại một cách bền vững và lặng lẽ. Tuy nhiên, dấu ấn thời gian ngày một in hằn trên từng cây cột và từng mảng tường… bản thân tòa nhà cần được đầu tư sửa chữa một cách tổng thể.
Những năm cuối thập niên 90 của Thế kỷ 20, tòa nhà một lần nữa được cải tạo và chuẩn bị cho giai đoạn buôn bán tấp nập, thịnh vượng mới. Thời điểm này, tòa nhà trở thành một trung tâm giao dịch thực sự, hàng hóa tại đây vô cùng phong phú, từ hàng may mặc, mỹ nghệ đến những mặt hàng xa xỉ đều xuất hiện. Việc giao thương với người Nga rất được chú trọng nên thời kỳ này tòa nhà còn có một tên gọi khác là “chợ Nga”.

Thương xá TAX

Ngày 18/10/1997, Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Thành phố được đổi tên thành Công ty Bán lẻ Tổng hợp Sài Gòn, trực thuộc Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA).
Ngày 19/01/1998, dòng chữ THƯƠNG XÁ TAX chính thức được đặt trên nóc tòa nhà thay thế dòng chữ Cửa Hàng Bách Hóa Tổng Hợp Thành Phố, đánh đấu sự trở lại của một thương hiệu đã tồn tại và ăn sâu vào nếp nghĩ của người Saigon xưa.
Bước vào thời kỳ đổi mới, trước sự cạnh tranh từ các trung tâm thương mại do người nước ngoài đầu tư và quản lý, một lần nữa áp lực cạnh tranh đã buộc Thương xá Tax phải tự làm mới mình.
Ngày 26/4/2003, một Trung tâm Thương mại hiện đại mang tên THƯƠNG XÁ TAX được khánh thành.
Tòa nhà với câu chuyện hơn “100 năm lịch sử” đã và đang là một trung tâm thương mại sầm uất, lâu đời nhất tại Việt Nam; một địa điểm tham quan du lịch nổi tiếng của Thành Phố Hồ Chí Minh, kết nối với những di tích vang bóng một thời như: Bưu điện Trung tâm Thành phố, Nhà thờ Đức Bà, Nhà hát lớn Thành phố, Chợ Bến Thành, Dinh Độc lập và các Bảo tàng đã và đang cùng nhau góp phần quảng bá hình ảnh và con người Việt Nam nói chung và Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng đến với bạn bè thế giới.

Theo Thương Xá Tax website

Đôi điều về bánh Trung Thu Đông Hưng Viên ở Saigon trước 1975

903 views

Đông Hưng Viên là thương hiệu quen thuộc với người Saigon từ rất lâu trước năm 1975 cùng với các thương hiệu nay đã không còn nữa như Tân Tân (có một chi nhánh ở Paris), Long Xương, Đại Chúng, Vĩnh Hưng Tường…

Trước 1945, trục đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) nối liền Saigon-Chợ Lớn, là trung tâm buôn bán sầm uất. Dọc trục đường này mọc lên dãy phố cao lầu, tửu điếm, hiệu buôn nhộn nhịp người mua kẻ bán, ăn uống, đàn ca hát xướng. Vào mùa trung thu, các loại bánh nướng, bánh dẻo được làm thủ công, bày bán nhưng còn rất thưa thớt. Tới những năm 50 của thế kỷ trước, các quầy bánh trung thu mới bắt đầu xuất hiện nhiều nhưng cũng chỉ quanh quẩn khu vực Chợ Lớn. Đến những năm 60, bánh trung thu mới được tiêu thụ rộng rãi hơn ở Saigon – Chợ Lớn, và bắt đầu được người dân các tỉnh miền Nam bộ và Trung bộ ưa chuộng. Lúc này, những cái tên Đồng Khánh, Long Xương, Tân Tân, Đại Chúng, Đông Hưng Viên… đã trở thành những thương hiệu quen thuộc với người dân nơi đây.
Ở Sài Gòn ngày trước có một thương hiệu bánh trung thu mà ai cũng biết và đến ngày nay thương hiệu này vẫn còn. Bánh trung thu Ðông Hưng Viên đã danh tiếng hơn một thế kỷ nay, bắt đầu từ phố hàng Buồm Hà Nội (Escalier D’or Hà Nội cũ), sau đó năm 1954 thương hiệu bánh trung thu Đông Hưng Viên theo dòng người di cư đến Saigon và trở thành 1 thương hiệu bánh trung thu gia truyền nổi tiếng của người Việt tại địa chỉ 23, Phan Chu Trinh, cửa Tây chợ Bến Thành và giữ vững cho đến năm 1975.
Tuy nhiên, sau năm 1975, người chủ tiệm của Đông Hưng Viên đã sang Mỹ. Hai thợ làm bánh chính của tiệm này, một người là ông Bốc Mỹ Nguyên đã ra nước ngoài sinh sống, một người ở Saigon (đã mất). Thợ bánh chính của Đông Hưng Viên ở Saigon (hoạt động từ 1975) hiện nay là anh Nguyễn Văn Hùng, học nghề từ ông Bốc Mỹ Nguyên, cũng như tiệm Đông Hưng Viên ở Saigon không còn liên quan đến người chủ của thương hiệu Đông Hưng Viên bên Mỹ.
Bà Hoàng Kim Loan chủ tiệm bánh Đông Hưng Viên tại Hoa Kỳ, là người kế thừa bí quyết làm bánh trung thu gia truyền từ người cha. Ba của bà là thợ chính của tiệm bánh Đông Hưng Viên tại Hà Nội kể cả khi Đông Hưng Viên “di cư” vào Saigon. Ông đã để lại cuốn sổ ghi công thức bánh trung thu Đông Hưng Viên cho bà, cô con gái thứ 7 của gia đình 10 người con. Bà Kim Loan và em gái đã sang Hoa Kỳ định cư cùng với cuốn sổ ghi bí quyết làm bánh của Đông Hưng Viên và bà mở tiệm tại đây.
Ở Hoa Kỳ có duy nhất 1 tiệm bánh trung thu Đông Hưng Viên tại địa chỉ: 8536 Westminster Blvd. Westminster, CA 92683. Lúc đầu tiệm bánh Đông Hưng Viên ở Hoa Kỳ nằm tại quận Cam, ra đời năm 1992 toạ lạc tại đường Bolsa. Sau đó đến cuối năm 1995 tiệm bánh Đông Hưng Viên được dời về Westminster.
Ngoài ra ở Saigon hiện nay cũng có một cơ sở bánh trung thu Đông Hưng Viên hiện có ở địa điểm số 176-177, Bãi Sậy, Q6. Nhưng cơ sở này không liên quan đến cơ sở của Đông Hưng Viên tại Mỹ có thể cũng là do gia truyền từ một người thợ chính của lò bánh trung thu Đông Hưng Viên từ trước năm 1975 để lại.

Tổng hợp từ Hòn Ngọc Viễn Đông & những nguồn khác

Đôi điều về giọng nói người Sài Gòn

520 views

Giọng nói người Sài Gòn không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương.

người Saigon

Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…
Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế… Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.

người Saigon

Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…
Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”…Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn.
Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó.
Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con ? – Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc? – Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳn hay.
Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó” nghĩa là khen cô bé đó lắm vậy. Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.
Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.
Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.
Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!

Trích từ Operablog

Vẽ đẹp phương tây của Sài Gòn năm 1950

1041 views

Hình được chụp ở góc đại lộ Charner và Bonnard (Nguyễn Huệ và Lê Lợi ngày nay), làm thoát lên một vẽ đẹp rất phương tây của Sài Gòn thời bấy giờ.
(Saigon, 1950)


Photo prise de haut au carrefour du boulevard Charner et Bonnard (Nguyễn Huệ và Lê Lợi de nos jours), dégageant une beauté presque très française de Saigon de l’époque.
(Saigon, 1950)


Photo taken from above at the crossroads of Boulevard Charner and Boulevard Bonnard (Nguyễn Huệ and Lê Lợi nowaday), bringing an almost very French beauty of Saigon at the time out.
(Saigon, 1950)

Tứ Đại Mỹ Nhân Hà Thành

597 views

“Tứ Đại Mỹ Nhân” Hà Thành: cô Phượng Hàng Ngang, cô Síu Cột Cờ, cô Nga Hàng Gai và cô Bính Hàng Đẫy. Bốn bông hồng của Hà Thành, vào giữa thập niên 30, được xem như đặc trưng của người Tràng An. Vẻ đẹp của bốn nàng thơ Hà Nội làm say đắm biết bao trái tim của nhiều công tử si tình, cũng như khiến bao tay nhiếp ảnh phương Tây mê mẩn và say đắm theo chân.


“Les Quatre Beautés” du Tonkin: Mlle Phượng Hàng Ngang, Mlle Síu Cột Cờ, Mlle Nga Hàng Gai et Mlle Bính Hàng Đẫy.  Considérées comme les quatre plus belles femmes du Tonkin, au milieu des années 30, tant sur la beauté que sur la grâce et les valeurs de la femme vietnamienne de l’époque, elles ont fait vibrer le coeur de tous les jeunes hommes de bonne famille du Tonkin et servirent de modèles à beaucoup de photographes étrangers de passage au Tonkin.


“Four Beauties” of Tonkin: Miss Phượng Hàng Ngang, Miss Síu Cột Cờ, Miss Nga Hàng Gai and Miss Bính Hàng Đẫy. Considered as the four most beautiful women of Tonkin in the mid of the 30s, in beauty and in grace, also in the values of the Vietnamese woman of the time, they have thrilled the hearts of all the young men from the good family in Tonkin and served as models for many foreign photographers While passing through Tonkin.

Sông Hương phố Huế mộng mơ !

522 views

Tà áo dài thơ mông của hai thiếu nữ bên bờ sông Hương,
(Huế, tháng 02 năm 1967)


Deux jeunes femmes en tunique traditionnelle (áo dài) se rafraîchissant au bord de la rivière de Parfum,
(Huế, Février 1967)


Two young women in traditional dress (áo dài) refreshing along the Perfume River,
(Huế, February 1967)

Tam ca Ba Trái Táo (1972)

903 views

Tam ca Ba Trái Táo (The Apple Three), do nhạc sĩ Lê Vũ Chấn của phòng trà Baccara thành lập vào đầu thập niên 70, gồm ba thành viên Tuyết Hương, Tuyết Dung và Vy Vân.
(Saigon, 1972)


Groupe Ba Trái Táo (The Apple Three), groupe de musique créé au début des années 70 par le musicien Lê Vũ Chấn, fondateur du nightclub Baccara. Groupe comprend trois membres: Tuyết Hương, Tuyết Dung et Vy Vân.
(Saigon, 1972)


Ba Trái Táo (The Three Apple), music group formed in the early 70s by the musician Lê Vũ Chấn, founder of the nightclub Baccarat. Group consists of three members: Tuyet Huong, Tuyet Dung and Vy Vân.
(Saigon, 1972)

Áo dài nữ sinh Trưng Vương

298 views

Tà áo dài nữ sinh Trưng Vương khi tan trường trên đường Thống Nhứt (Lê Duẩn ngày nay),
(Saigon, 1967)


Lycéennes en tuniques blanches traditionnelles áo dài, à la sortie d’école, sur la rue Thống Nhứt (Lê Duẩn de nos jours),
(Saigon, 1967)


Schoolgirls in white tunics traditional áo dài at the school exit, on the street Thống Nhứt (Lê Duẩn nowadays),
(Saigon, 1967)

Nữ sinh áo dài trắng

284 views

Nữ sinh mặc áo dài trắng đi dạo trên đường Lê Lợi,
Saigon, 1970


Étudiante en tunique traditionnelle blanche (áo dài) se promenant sur la rue Lê Lợi,
Saigon, 1970


Student in traditional white dress (áo dài) walking on the street Lê Lợi,
Saigon, 1970

Nhớ lại Vòng Xoay Saigon

265 views

Nhớ lại Vòng Xoay của Saigon, giờ đã mất. Vòng xoay nằm ở giao lộ đường Bonnard và Charner ( Lê Lợi và Nguyễn Huệ sau 1955 ).
(Saigon năm 1952)


Souvenir de la petite fontaine de Saigon, aujourd’hui détruite pour laisser place à un boulevard à piéton. La fontaine fut située au carrefour de la rue Bonnard et Charner ( Lê Lợi et Nguyễn Huệ après 1955 ).
(Saigon, 1952)


Remembering the little fountain of Saigon, now destroyed to make way for a pedestrian boulevard. The fountain was located at the crossroads of Bonnard and Charner Streets (Lê Lợi and Nguyễn Huệ after 1955)
(Saigon, 1952)

Áo dài Việt Nam – Saigon 1953

434 views

Áo dài Việt Nam viếng thăm chiến hạm Mỹ USS Rochester (CA-124) tại bến Bạch Đằng, Sài Gòn năm 1953.


Femmes vietnamiennes en tunique Áo dài visitant le célèbre croiseur lourd américain USS Rochester (CA-124) amarré au port Bạch Đằng, Saigon 1953.


Vietnamese women dressed in tunic Áo dài visiting the famous American heavy cruiser USS Rochester (CA-124) docked at the port Bạch Đằng, Saigon, 1953.

Boulevard de la Somme

576 views

Có thể là đường Boulevard De La Somme ( Hàm Nghi sau 1955 và ngày nay ). Phía xa bên phải là bến Bạch Đằng, sông Sài Gòn.
(Sài Gòn tháng 07 năm 1948)


Probablement le Boulevard de la Somme (Hàm Nghi après 1955). Au loin, sur la droite, on aperçoit le port Bạch Đằng de la rivière Saigon.
(Saigon Juillet 1948)


Probably the Boulevard de la Somme (Hàm Nghi after 1955). In the distance, on the right, we see the Bạch Đặng port on the Saigon River.
(Saigon July 1948)

Áo dài Trưng Vương

1182 views

Áo dài nữ sinh trường trung học Trưng Vương.
(Sài Gòn năm 1969)


Jeunes filles étudiantes en tunique Áo dài au lycée Trưng Vương lors de la rentrée en 1969 à Saigon.


Young student girls in tunic Áo dai at the famous high school Trưng Vương during a day of the start of the school year in 1969 in Saigon.

 

Nữ sinh trường trung học Trưng Vương Nữ sinh trường trung học Trưng Vương