Văn Hóa

Gia Định Báo – Số 4 năm thứ hai (tháng tư 1866)

60 views

Gia Định báo phát hành trong phạm vi vùng chiếm đóng của thực dân Pháp lúc đó là 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ.

Nội dung chính của Gia Định báo ban đầu gồm 2 phần: công vụ và tạp vụ. Phần công vụ chuyên về các vấn đề chính trị, pháp lý, công quyền, đăng các công văn, nghị định, thông tư, đạo dụ của chính quyền thực dân; còn phần tạp vụ gồm các tin tức địa phương trên các lĩnh vực: kinh tế, tôn giáo, văn hóa – xã hội…

Đây là số 4 được phát hành vào tháng tư năm 1866.

Gia-Định-Báo-–-Số-4-năm-thứ-hai-tháng-tư-1866

Gia Định Báo – Số 3 năm thứ hai (tháng ba 1866)

101 views

Được xuất bản vào năm 1865 nhưng chỉ có những số từ năm 1866 của Gia Định Báo được lưu trữ như một di sản văn hóa thế giới ở Thư viện Quốc gia Pháp.

Đây là số 3 được phát hành vào tháng ba năm 1866.

Gia-Định-Báo-Số-3-Tháng-3-1866

Gia Định Báo – Số 2 năm thứ hai (tháng hai 1866)

108 views

Sau khi Pháp chiếm lục tỉnh Nam kỳ, trong thời gian 1862 – 1864, lần lượt ba tờ báo tiếng Pháp, tiếng Trung ra đời. Đó là tờ Le Bulletin officiel de l’Expédition de la Cochinchine (Nam Kỳ viễn chinh công báo) ra ngày 29.9.1861, tờ Le Bulletin des Communes (Xã thôn công báo) xuất hiện năm 1862, báo này dùng chữ Hán làm phương tiện, rồi tiếp đến là tờ Le courrier de Saigon (Sài Gòn thư tín) ra ngày 1.1.1864. Còn riêng về Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ được xuất bản, ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn.

Những năm đầu, tờ báo do một người Pháp là Ernest Potteaux làm tổng tài và chỉ là bản dịch của tờ Le Courrier de Saigon. Phải đợi đến năm 1869, Trương Vĩnh Ký thay Potteaux làm giám đốc, trông coi việc biên tập, tờ báo mới trở thành tờ báo bằng tiếng Việt chính thức và đầu tiên của Việt Nam.

Đây là số 2 được phát hành vào tháng hai năm 1866.

Gia-Định-Báo-Số-2-Tháng-2-1866

Gia Định Báo – Số 1 năm thứ hai (tháng giêng 1866)

111 views

Gia Định Báo (嘉定報) được cho là tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt mới (chữ Quốc ngữ), được sáng lập bởi Trương Vĩnh Ký (còn biết dưới tên Petrus Ký), được ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn. Đây là phương tiện truyền thông hoàn toàn mới mẻ khi đó, làm cho chữ Quốc ngữ có cơ hội phổ biến trong dân chúng.

Những số đầu tiên được phát hành vào năm 1865 đã bị thất lạc, những số sau từ năm 1866 vẫn còn được lưu trữ ở thư viện quốc gia Pháp. Thời gian đầu, báo ra mỗi tháng 1 kỳ vào ngày 15 hàng tháng. Sau đó mỗi tháng 2 kỳ, rồi mỗi tuần 1 kỳ, tuy nhiên ngày ra báo của Gia Định Báo không cố định, khi thì Thứ Ba, Thứ Tư, lúc lại Thứ Bảy. Số trang của Gia Định Báo cũng không cố định, khi thì 4 trang, lúc 12 trang.

Đây là số 1 được phát hành vào tháng giêng năm 1866.

Gia-Định-Báo-Số-1-Năm-1866

Con đường đến vinh quang qua những bức ảnh thi cử ở Nam Định

221 views

Từ ngàn xưa, do ảnh hưởng của Khổng Mạnh, xã hội Việt Nam rất coi trọng các nhà nho giáo. Phần đông những quan lại đều được tuyển chọn từ tầng lớp học thức này.
Dưới triều Nguyễn, cứ 3 năm thì triều đình lại mở khóa thi Hương ở các tỉnh lớn, ai dự thi cũng được, thí sinh trúng tuyển thì được gọi là Cử-Nhân (người được địa phương tiến cử với triều đình). Năm sau thì các Cử-Nhân vào Kinh để thi Hội và thi Ðình. Ai đậu khóa thi Hội thì được gọi là Thám Hoa, đậu khóa thi Ðình thì được gọi là Tiến-Sĩ (người có tầm học uyên bác), tên họ sẽ được khắc trên bảng vàng hay bia đá, rồi lưu lại cho muôn thế hệ sau. Các tân khoa này đều sẽ trở thành quan lại của triều đình nếu họ muốn. Sau đó họ sẽ được ngồi võng lọng rồi được binh lính đưa về làng xưa để “vinh qui bái tổ”, một vinh dự tối cao mà ngày xưa tất cả các học trò đều mơ ước.
Từ ngàn xưa, đây là con đường duy nhất để đưa đến sự vinh quang nên phong tục này đã đi sâu vào tâm não của dân Việt, mãi đến ngày hôm nay sự suy nghĩ này vẫn còn tồn tại.
Sau đây là những hình ảnh một phong tục ngàn năm hiếm hoi được lưu giữ lại ở Nam Định.

Các quan chủ khảo đang quan sát các thí sinh làm bài. Ảnh chụp tại trường thi Nam Định năm 1897
Các quan chủ khảo đang quan sát các thí sinh làm bài. Ảnh chụp tại trường thi Nam Định (1897)
Lều chõng đi thi
Lều chõng đi thi
Các vị quan chủ khảo tại trường thi Nam Định năm 1897
Các vị quan chủ khảo tại trường thi Nam Định năm (1897)
Một học trò với sách chữ Nho Thánh hiền và cây bút lông
Một học trò với sách chữ Nho Thánh hiền và cây bút lông
Một thí sinh 70 tuổi
Một thí sinh 70 tuổi
Thầy đồ làng dạy đám học trò chữ Nho
Thầy đồ làng dạy đám học trò chữ Nho
Thầy đồ cầm roi, ngồi trên sập gụ dạy lũ học trò làng chữ Nho
Thầy đồ cầm roi, ngồi trên sập gụ dạy lũ học trò làng chữ Nho
Các thí sinh đi vào quảng trường thi Nam Ðịnh (năm 1897), họ phải tự làm lều và đặt chõng để viết bài
Các thí sinh đi vào quảng trường thi Nam Ðịnh (1897), họ phải tự làm lều và đặt chõng để viết bài
Hình vẽ trường thi năm 1895
Hình vẽ trường thi năm (1895)
Một vị quan chủ khảo tại trường thi Nam Định 1897
Một vị quan chủ khảo tại trường thi Nam Định (1897)
Hội đồng giám khảo tại trường thi Nam Định 1897
Hội đồng giám khảo tại trường thi Nam Định (1897)
Hội đồng giám khảo tại trường thi Nam Định 1897
Hội đồng giám khảo tại trường thi Nam Định (1897)
Ngày vinh danh những thí sinh đỗ đạt tại trường thi Nam Định 1897.
Ngày vinh danh những thí sinh đỗ đạt tại trường thi Nam Định 1897. Ở chính giữa hình có mặt Paul Doumer, Toàn quyền Đông Dương.
Các sĩ tử và người thân đang chờ xướng danh công bố kết quả thi tại trường thi Nam Định 1897
Các sĩ tử và người thân đang chờ xướng danh công bố kết quả thi tại trường thi Nam Định (1897)
Bảng vàng khắc tên những người trúng tuyển tại trường thi Nam Định 1897
Bảng vàng khắc tên những người trúng tuyển tại trường thi Nam Định (1897)
Các tân khoa được ban mũ, áo, hia (1897)
Các tân khoa được ban mũ, áo, hia (1897)
Các tân khoa đến bái tạ tại văn miếu (1897)
Các tân khoa đến bái tạ tại văn miếu (1897)
Các tân khoa bái ông Tổng đốc Nam Định (1897)
Các tân khoa bái ông Tổng đốc Nam Định (1897)
Quan Tổng đốc Nam Định thay mặt nhà Vua thết đãi yến tiếc cho các tân khoa đỗ đạt
Quan Tổng đốc Nam Định thay mặt nhà Vua thết đãi yến tiếc cho các tân khoa đỗ đạt
Các tân khoa được rước đi dạo phố cho mọi người biết mặt
Các tân khoa được rước đi dạo phố cho mọi người biết mặt
Lễ xướng danh những sĩ tử đỗ đạt trường thi Nam Định 1897
Lễ xướng danh những sĩ tử đỗ đạt trường thi Nam Định (1897)

Văn hóa người Minh Hương ở Sài Gòn

543 views

Có thể thấy được sinh hoạt văn hóa sinh động của người Hoa trước đây và hiện nay thì không có gì hơn là đến khu Chợ Lớn.

Trong Nhà truyền thống góc đường Triệu Quang Phục và Nguyễn Trãi (xưa gọi là đường Cây Mai) thường có triễn lãm và các hình ảnh xưa ở Chợ Lớn cùng các sản phẩm mỹ thuật.
Nhà Truyền thống trước đây là nhà hát Tam Đa của người Hoa trong vùng. Cạnh nhà truyền thống ở số 137 đường Triệu Quang Phục là trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc, chủ yếu là của người Hoa. Trụ sở là Hội quán của chùa bà (Thiên Hậu) cho mượn. Chùa Thiên Hậu nằm ở góc đường Nguyễn Trãi và Triệu Quang Phục. Đường Triệu Quang Phục xưa là đường Canton (Quảng Đông) trong thời Pháp và là trung tâm Chợ Lớn. Phim “Người Tình”, phỏng theo tự truyện “L’Amant” của nhà văn nữ Pháp Margurette Durras, được quay ở đường này. Nhà Xã Tây ở cạnh đây (gọi là Xã Tây vì là tòa nhà hành chính của Pháp chuyên lo chuyện nhập, xuất cảnh và giấy tờ). Vùng này ngày xưa cũng được gọi là Minh Hương xã.

Chùa Thiên Hương ở Chợ Lớn

Anh Trần Đại Tân, người Triều châu, quê ở Sóc Trăng là người biết nhiều về lịch sử người Minh hương ở Nam bộ. Anh Tân tặng tôi quyển sách của anh viết về người Hoa ở Nam bộ. Nói chuyện về các địa lý và phố xưa cũng như các người Hoa danh tiếng trong lịch sử và hiện nay, như Trần Thành trước đây và Lý Ngọc Minh hiện nay, với xưởng gốm ở Bình Dương. Hoạt động của Hội gồm hội họa, thư pháp, nhiếp ảnh, xuất bản văn học. Ngoài ra còn có ban bảo trợ văn hóa người Hoa, với chi hội ca múa nhạc có trụ sở là nhà văn hóa Quận 5, gần Đại Thế giới, đường Trần Hưng Đạo.

Từ hội quán, chúng tôi đi bộ đến thăm chùa Thiên Hậu do người Hoa Quảng Đông xây dựng, rất nhiều du khách nước ngoài viếng thăm. Kiến trúc chùa rất đẹp với các tượng trên nóc, mái chùa bằng sành sứ rất công phu và các tranh khắc trên tường là những tuyệt tác rất trang nhã của nghệ thuật người Hoa. Cạnh chùa Thiên hậu là đền Tam Sơn, trên đường Triệu Quang Phục, của người Phúc Kiến (Phúc Châu), nơi đây thờ Ngọc Hoàng, Quan âm, Quan công.., không có chữ quốc ngữ chỉ có chữ Hán trong và ngoài đền. Theo anh Tân, thì kế bên đền Tam Sơn, xưa kia có Thất phủ cổ miếu, nhưng đã bị phá đi, hiện nay là xí nghiệp in, chỉ còn lại một bức tường. Đây là một mất mác văn hóa to lớn.

Chùa Thiên Hậu Chợ Lớn
Chùa Thiên Hậu Chợ Lớn

Đến Đình Minh Hương Gia Thạnh trên đường Trần Hưng Đạo, gặp lại bác Vương Quang Tâm, hiện nay là người cai quản đình mà năm trước tôi có đến. Đình là tòa nhà cổ nhất Saigon, xây năm 1789, được công nhận là một di tích lịch sử. Năm 1698, ở vùng này đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, làng Minh hương còn để lại câu ca dao :

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương

Lần trùng tu cuối cùng của đình là vào năm 1921. Trong đình, bên phải thờ Trần Thượng Xuyên (có 2 di ảnh tướng Trần Thượng Xuyên) và Nguyễn Hữu Cảnh, bên trái thờ Trịnh Hoài Đức và Ngô Gia Tịnh. Cạnh đó là 1 chuông đồng do vua Minh Mạng tặng, với sắc phong và chuyển tên từ làng thành đình. Chuông được gióng một năm một lần vào ngày 16/1. Sau chánh điện là sân rất rộng gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời). Đình Minh hương Gia Thạnh cũng là nơi tề tựu, gặp gỡ của nhóm Bình Dương thi xã, sáng lập bởi Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, với nhiều nhân sĩ đến đây để ngâm thơ, xướng họa vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19.

Chùa Ngọc Hoàng - Quận 1 Sài Gòn
Chùa Ngọc Hoàng – Quận 1 Sài Gòn

Chùa Giác Lâm là ngôi chùa thuộc loại xưa nhất Sài Gòn. Chùa nằm ở Phú Thọ Hoà kế quận 5 (nay là đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình), vẫn còn giữ nguyên không thay đổi nhiều sau bao năm từ lúc thành lập. Chùa được cư sĩ người Minh hương tên là Lý Thụy Long xây dựng vào năm 1744 ở vùng thanh vắng nhiều cây cối không xa chùa Cây Mai và Gò cây mai, một nơi thanh lam thắng cảnh của Gia Định mà Gia Định thi xã của Trịnh Hoài Đức thường hay nhóm họp làm thơ. Lý Thụy Long có tên riêng là Cẩm, chuyên nghề đan đệm bán nên người địa phương gọi là ông Cẩm Đệm. Vì thế chùa còn có tên là Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm. Năm 1772 hòa thượng Viên Quang tới trụ trì, từ đó mới đổi tên chùa là Giác Lâm. Khi xưa lúc chùa được xây dựng như một cái am, xa cư dân, rất thanh vắng, cây cối rậm rạp, thích hợp cho sự tu dưỡng, tu hành. Trong quyển Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức đã miêu tả cảnh chùa như sau: “Chùa toạ lạc trên gò Cẩm Sơn, cách phía Tây lũy Bán Bích ba dặm…, cây cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà nhã thú!…”. Chùa hiện nay được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Chùa Giác Lâm

Nghề làm gốm là nghề tiểu công nghiệp lâu đời, bắt đầu từ khi người Minh hương đến định cư ở xứ Đồng Nai. Hiện nay ở tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, đa số các chủ lò gốm là do người Việt gốc Hoa, hay Minh hương đảm trách. Họ đã làm nghề này cha truyền con nối bao nhiều đời cho đến nay. Đây là hai trung tâm gốm sứ lớn nhất Nam bộ với nhiều thợ, nghệ nhân người Hoa. Vào thế kỷ 18, đã tồn tại một trung tâm gốm sứ mang tên Xóm Lò Gốm ở vùng quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (phía Chợ Lớn). Xung quanh vùng này còn có nhiều địa danh như Lò Rèn, Xóm Lò Siêu, xóm Lò Gạch… Địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo-Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh-rạch Lò Gốm. Những con kênh này là tuyến đường giao thông chính của khu vực Chợ Lớn, dùng ghe xuồng chở hàng sản xuất đến các tỉnh miền Tây.

Gốm vùng Saigon-Gia Định-Đồng Nai ở thế kỷ 18,19 và 20 nổi tiếng có đặc thù riêng và nổi tiếng tốt mà nhiều nhà văn hóa sử, khảo cổ trước đây gọi là gốm “Cây Mai” (được biết đến qua những gốm xưa tìm được ở gò Cây Mai và khu vực đường Cây Mai, Chợ Lớn) nay được xếp loại và gọi chung là gốm Biên Hòa, Saigon. Ngày nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi thuộc làng Hòa Lục (phường 16 quận 8), gần làng Phú Định, nằm ven kênh Ruột Ngựa, của xóm Lò Gốm xưa. Cuộc khai quật năm 1997-1998 đã tìm thấy tại đây phế tích 3 lò gốm, trên một gò lớn chứa đầy mảnh gốm của các loại lu, khạp, siêu, chậu.. (15) Ngày nay những nơi còn tiếp tục truyền thống gốm cổ truyền của người Hoa hiện nay còn rõ nhất ở những lò làm lu gốm ở Biên Hòa hoặc ở khu vực Q.9 TPHCM (Thủ Đức cũ, gần Công viên Văn hóa dân tộc đang xây dựng), và một số cơ sở nhỏ sản xuất đồ gốm gia dụng ở vùng Lái Thiêu.

Ngoài ra, anh hưởng văn hóa mà người Minh Hương để lại sâu đậm nhất trong đời sống Nam bộ là ngôn ngữ. Tiếng Việt miền Nam được lưu dân Minh hương và Hoa mang vào bổ xung cho tiếng Việt thêm phong phú. Theo Bình Nguyên Lộc, những từ sau có nguồn gốc Minh hương (19).

Các từ gốc Triều Châu

Lẩu : Có nguồn gốc từ lẩu là một món canh của Triều Châu, đựng trong một thứ bát đặc biệt bằng Laiton.
Tía : Chính các chú rể Triều Châu, lưu vong nhà Minh đã đưa ra danh từ Tía vào Nam, và bị ta hiểu là Cha.
Hên : Do Hưng. Triều Châu đưa vào và họ đọc là Hinh thì đáng lý ta phải viết là Hênh.
Xui : Tiếng nầy đất Bắc có nhưng vay mượn lâu đời hơn và nói là Xúi Quẩy. Do chữ Suy mà ra, đọc theo Triều Châu, Hên Xui = May Rủi.
Khổ Tai : Một món ăn khác mà dân miền Nam rất ưa và họ gọi là KHỔ TAI. do người Triều Châu đọc Hô Tai (Hải Táo), một thứ rong biển mà họ nấu với đường để bán cho dân miền Nam ăn.

Các từ gốc Quảng Đông

Xí Mụi : do Quảng Đông gọi Xíu Mụi, chữ Nho là Tiêu Mai.
Công xi: Công Ty, do Quảng Đông đưa vào.
Hủ tiếu : Không biết chữ ra sao, nhưng do Quảng Đông đưa vào, họ nói là Phải, không hiểu sao ta lại biến thành Hủ Tiếu.
Xíu Mại : Không biết chữ nghĩa ra sao, nhưng đa số các món ăn đều do Quảng Đông đưa vào.
Chạp Phô : Chỉ là Tạp hóa. Nhưng chính người Quảng Đông lại cho nó cái nghĩa hạn chế là thực phẩm: trứng vịt, tôm khô, cá khô,v.v. còn các cửa hàng bán các thứ khác cũng tạp nhạp lại không được gọi là chạp phô.
Giò Chá Quảy: Thật đúng là Dầu chá quảy tức con quỷ nướng trong dầu, chỉ loại bánh bột mì chiên mỡ.
Ly : Cốc bằng pha lê, người Quảng Đông gọi là Pò Lý Púi, tức Pha Lê Bôi, ta nuốt hết, chỉ chừa lại Lý và đọc là Ly.
Xì Thẩu : Chữ Nho là Sự Đầu, chủ sự, nhưng bị ta hiểu là Ông chủ.

Điều này cho ta thấy miền Nam ban đầu chịu ảnh hưởng nhiều của phong tục, sinh hoạt, tập quán người Minh hương.

Tác giã : Nguyễn Đức Hiệp

Nói Lái – Nét đặc sắc của văn hóa và ngôn ngữ cổ truyền Việt Nam

289 views

Nói lái là một hình thức vô cùng độc đáo của ngôn ngữ Việt. Ngay từ trong truyện dân gian, có có câu chuyện liên quan đến nói lái. Bạn có bao giờ nghe giai thoại giải thích đại phong là lọ tương ?

Đại khái là một người bán tương ghi tên nhãn hiệu là Đại Phong. Món này ăn với rau muống rất ngon. Nhưng người mua thắc mắc Đại Phong là gì thì được giải thích như sau :

Đại là lớn, phong là gió. Đại phong là gió lớn, gió lớn thì chùa đổ, chùa đổ thì tượng (Phật) lo, tượng lo là lọ tương.

Một giai thoại khác, ở trong Nam. Lúc ấy, vào buổi tàn thời của nho học, người ta bỏ bút lông, giắt bút chì; một số chạy theo thực dân Pháp. Trong số ấy có Nguyễn Văn Tâm, một lòng cúc cung với mẫu quốc, được người Pháp cất nhắc làm quan lớn; trên dưới trong ngoài, ai cũng biết nhờ bợ đỡ quan thầy mà làm quan to.

Tâm lấy làm tự đắc lắm. Phú quí sinh lễ nghĩa, quan lớn nhà ta cũng muốn tỏ ra mình phong lưu, muốn có những bức hoành, trướng để trang trí. Có người dâng lên quan bốn chữ đại tự Đại Điểm Quần Thần, viết chân phương, rất đẹp và giải thích Quần thần là người bề tôi, Đại điểm là điểm lớn, ý nói quan lớn là người bề tôi có vị trí to lớn, quan trọng trong triều.

Quan lấy làm thích thú đem treo bức liễn trong phòng khách; ai đến thăm quan cũng đem khoe và giải thích như trên. Ít lâu sau có người đến ngắm bức liễn, rồi xin quan lớn dẹp đi. Quan ngạc nhiên hỏi, người ấy xin đừng bắt tội, đuổi hết tả hữu rồi giải thích: Người viết liễn đã cố ý bỡn quan lớn, mà quan không biết. Bốn chữ trên dịch từng chữ: Đại điểm là chấm to; Quần thần là bề tôi, nói theo kiểu trong Nam là bầy tôi. Đại Điểm Quần ThầnChấm To Bầy Tôi nói lái lại là Chó Tâm Bồi Tây. Chẳng nghe chuyện kể nói quan có tìm tác giả bốn chữ nói trên để trị tội hay vì không muốn làm vỡ chuyện mà ỉm luôn.

Trong đời sống hàng ngày, chẳng hiếm khi chúng ta gặp những câu nói lái, đôi khi chỉ để bỡn cợt, châm biếm hay tránh những tiếng thô tục.

Ở Nam Bộ, có câu :
Con cá đối nằm trên cối đá,
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo
anh mà đối được, dẫu nghèo em cũng ưng.

Người Việt, đối với những người lớn tuổi hay trưởng thành ở Việt Nam chẳng có ai là không biết cách nói lái, tùy theo gốc gác hay sinh hoạt ở Bắc, Trung hay Nam mà cách nói lái có khác nhau; nhưng tựu chung, khi nói lái, người ta tránh không nói thẳng chữ muốn nói; mà người nghe, vì không tinh ý, nhất thời không nhận ra như trong giai thoại Đại Điểm Quần Thần kể trên.

Đi sâu hơn vào chi tiết: một chữ gồm hai phần: phụ âm và âm. Chữ Chanh, chẳng hạn, gồm phụ âm Ch và âm anh. Chúng ta lại có thêm sáu thanh: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu tạo tiếng Việt thành giàu âm sắc, chỉ cần khác dấu, chữ được phát âm khác nhau: Chanh, chánh, chành, chạnh… và tất nhiên có nghĩa khác nhau, và đây cũng là nét độc đáo của ngôn ngữ Việt, người nước ngoài bảo người Việt nói chuyện nghe giống như hát.

Cũng có chữ không có phụ âm mà chỉ có âm, như trong ảnh ương hay ảo ảnh…

Nói Lái theo cách ngoài Bắc.

Trở lại câu chuyện đại phong là lọ tương nói trên. Tượng lo nói lái lại là lọ tương, người miền Bắc đổi chỗ cho hai chữ, đồng thời đổi luôn hai dấu (nghĩa là đổi âm sắc): lo đổi chỗ cho tượng, lấy dấu nặng thành lọ, tượng đổi chỗ cho lo, mất dấu nặng thành tương.
Ta lấy vài thí dụ khác:

Đấu tranh nói lái lại là tránh đâu : tranh đổi chỗ cho đấu, lấy dấu sắc của đấu thành tránh, đấu đổi chỗ cho tranh, mang dấu của tranh (không dấu) thành đâu.

Hải phòng nói lái lại là phỏng hài : hải đổi chỗ cho phòng lấy dấu huyền của phòng thành hài, phòng đổi chỗ cho hải lấy dấu hỏi của hải thành phỏng

Cứ theo cách ấy thì :

Sầm Sơnsờn sâm
Thái Bình nói lái là bính thài
Hà Nộinồi hạ

Như vậy thì hai chữ có cùng dấu không nói lái được, như nhân dân, anh em, Sài Gòn, thánh thót, thực vật…. Cũng vậy, những tiếng láy như xanh xanh, hơ hớ, đo đỏ, lăng xăng… không thể nói lái được và nếu chúng ta cố tình theo qui luật trên thì cũng chỉ đổi vị trí cho nhau thôi.

Nói lái theo kiểu trong Nam

Trong Nam người ta nói lái theo cách khác: cá đối nói lái lại thành cối đá.
Ta nhận thấy theo cách nói lái trong nam, âm trong hai chữ đổi chỗ cho nhau, phụ âm giữ nguyên vị trí, phụ âm c ghép với âm ối của đối thành cối, và phụ âm đ ghép với âm á thành đá. Như vậy:

Sài gònsòn gài
Cần thơ nói lái là cờ thân
Cầy tơcờ tây
Cửu longcỏng lưu
Thủ Đứcthức đủ
vv.. và vv..

Bút hiệu Thế Lữ (trong Tự Lực Văn Đoàn) chính là chữ nói lái của tên thật của ông: Nguyễn Thứ Lễ. Ngày trước đã có vế đối:

Ngày Tết, Thế Lữ đi hai thứ lễ: lê ta và lê tây

Trong vài trường hợp người ta nói lái cho cả ba chữ, bằng cách giữ nguyên chữ giữa như trong trường hợp mèo đuôi cụt thành mút đuôi kèo (dấu nặng trong cụt biến thể thành dấu sắc trong mút), như vậy hà thủ ô nói lái thành hồ thủ a.

Đôi khi người ta lại đổi chỗ hai phụ âm cho nhau (tuy ít thôi) để sau khi nói lái có nghĩa và dễ nghe hơn, thí dụ chiến binh thay vì nói lái thành chinh biến cũng có thể nói thành biến chinh, do đó với hai chữ tranh đấu có người đã đùa mà nói rằng : tranh đấu thì tránh đâu khỏi bị trâu đánh thì thế nào cũng phải đấu tranh.
Cũng như trong trường hợp trên, những chữ trùng âm như nhân dân, lù đù, lật đật… không nói lái được.

Vài giai thoại – câu đối – câu đố

Chúng ta đã thấy giai thoại về Đại điểm quần thần, Đại phong ở trên. Chúng ta cũng thường nghe nói đến câu tiếng lóng “hạ cờ tây” là “hạ cầy tơ” của dân nhậu trong Nam và “mộc tồn” (là “cây còn”, nói lái thành “con cầy”) ở ngoài Bắc, hay những lối nói lái rất quen thuộc: con chín bến đò (con chó bến đình), Hương bên đèo (heo bên đường), theo con Hương (thương con heo)…
Trong Nam, mấy bạn nhậu thường hay nói chữ: “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu” cũng đừng vội tưởng họ sính nho, thật ra họ đùa “rượu gặp tri kỷ có trời mới biểu (bảo) thôi” (thiên = trời, bôi thiểu = biểu thôi)…

Về câu đối, xin trở lại câu ca dao trên :

Con cá đối nằm trên cối đá.
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.
Anh mà đối đặng dẫu nghèo em cũng ưng.

được đối là :

Chim mỏ kiến(g) nằm trong miếng cỏ
Chim vàng lông đáp đậu vồng lang
Anh đà đối đặng hỏi nàng ưng chưa ?

Phải công nhận là câu đố và câu trả lời không chê vào đâu được, chắc gì chúng ta tìm được câu trả lời nào hay hơn cho cô gái tinh nghịch này.
Một câu khác, nghe chừng như xuông miệng nói chơi, nhưng lại đối rất chỉnh, trong cả hai vế đều dùng cách nói lái :

Kia mấy cây mía
Có vài cái vò

Một câu đối khác, nghe được sau 75, lúc người dân trong Nam không còn gì để sinh sống, đặc biệt là giới thầy cô thuộc chế độ cũ được lưu dụng. Dầu gì chăng nữa, trước đó họ là lớp người tuy sống nhờ đồng lương cố định, nhưng cũng có cơm ăn áo mặc đầy đủ. Người ta nghe thấy hai câu đối tết, nhại theo Tú Xương ngày trước, nhưng rất đặc sắc và chua xót:

Chiều ba mươi, thày giáo tháo giày ra chợ bán
Sáng mùng một, giáo chức dứt cháo đón xuân sang.

hực tế là giày không còn là một phần trong y phục của thày giáo, nhưng cháo đã là phần lương thực thường thấy trong bữa ăn hàng ngày.
Trong một đám cưới, chú rể người Hóc Môn, cô dâu ở Gò Công; có người rắn mắt đọc đùa câu đối :

Trai Hóc Môn vừa hôn vừa móc – Gái Gò Công vừa gồng vừa co

Trong văn chương bình dân Việt Nam, câu đố chiếm một vị trí tuy khiêm nhường nhưng có sức sống tương đối mạnh mẽ so với hò đối đáp chẳng hạn. Ngày nay ta vẫn thường nghe những câu đố trong khi không còn thấy hò đối đáp trong sinh hoạt hàng ngày của người bình dân. Trong các dạng câu đố, cách dùng nói lái để đánh lừa người khác là một trong những cách tuy dễ nhưng cũng làm khó cho người bị đố không ít. Sau đây là vài câu đố dùng nói lái, lời giải có ngay trong câu đố:

Tổ kiến, kiển tố, đố là chi ? – (đáp: tổ kiến)
Khoan mũi, khoan lái, khoan khứ, khoan lai. Bò la, bò liệt đố ai biết gì ? – (đáp: khoai lang).

Những chữ mũi, lái, khứ, lai chỉ cốt để đánh lừa người bị đố.

Con gì ở cạnh bờ sông,
cái mui thì nát cái cong thì còn
– (đáp: con còng – cong còn nói lái thành con còng)
Cái gì bằng ngón chưn cái mà chai cứng – (đáp: ngón chưn cái)
Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn – (đáp: con ngựa)
Miệng bà ký lớn, bà ký banh
Tay ông cai dài, ông cai khoanh
– (đáp: canh bí, canh khoai)…

Một vài người cũng câu nệ về nói lái, tránh đặt tên con những chữ có thể nói lái thành thô tục như Thái (dễ ghép với chữ có phụ âm d: thái dọt, thái dúi, thái dòng…). Lài (dễ ghép với chữ có âm ồn như lài dồn, lài cồn, lài mồn…). Côn, Tôn, Đôn (ghép với chữ có phụ âm l) v.v.. và v.v..

Vài suy nghĩ thêm

Qua những phân tích trên, ai cũng công nhận nói lái quả là một đặc thù của tiếng Việt. Chúng ta dùng nói lái để châm biếm, để gài người khác trong các câu đố, câu đối, để tránh những thô tục khi cố ý ghép chữ dể hạ thấp người khác.
Bỏ qua một bên những cái độc đáo, lắt léo của nói lái trong câu đố, câu đối; để chỉ chú ý đến phần đông các trường hợp chúng ta sử dụng nói lái như là một hình thức hạ thấp người khác. Trong phần trên chúng ta đã thấy nhà nho nào đó đã dùng sự uyên bác của mình để chửi một quan to mà quan chẳng những đã không biết mà còn hoan hỉ chấp nhận trong giai thoại Đại Điểm Quần Thần.
Chúng ta đã dùng nói lái như một thứ vũ khí của người muốn dùng tiểu xảo để chống đối, để chứng tỏ mình hơn người, như một thứ vũ khí của kẻ yếu, kẻ bị trịđể bôi bác, nhạo báng, ám chỉ… để hạ phẩm cách của kẻ mạnh, kẻ thống trị.
Vấn đề nêu ra để chúng ta phải suy gẫm là tại sao chúng ta có những cách rất tiêu cực như vậy? Phải chăng vì hoàn cảnh dân tộc Việt Nam đã đắm chìm quá lâu trong cảnh bị trị, dù của ngoại bang hay của chính người đồng chủng. Người dân phải tìm cách tránh né, che đậy để sinh tồn trước sức mạnh của kẻ thống trị. Vấn đề đặt ra cho chúng ta cùng suy nghĩ là chúng ta có nên duy trì mãi những tiêu cực tương tự trong những sinh hoạt thường ngày của chúng ta không? Ai cũng thấy rõ một điều là sức sống của người Việt vô cùng to lớn, mãnh liệt, nhưng đồng thời cũng thể hiện những tiêu cực vô cùng tai hại. Chính vì chỉ muốn sống còn bằng bất cứ giá nào, người Việt đã mất đi những tích cực của tập thể cần phải có, điều này đã giúp cho kể thống trị tồn tại lâu trong vị trí và là một cách giải thích tại sao dân tộc chúng ta bị trị lâu đến như vậy.
Dù vậy, nói lái vẫn là một hình thức vô cùng đặc sắc của ngôn nhữ Việt, với khả năng nhạy bén về tính trào phúng, tính châm chọc… (và chúng ta chỉ nên khai thác khía cạnh tích cực này), chúng ta tin rằng nói lái sẽ tồn tại với người Việt.

Tác Giã : Hòa Đa