Sài Gòn

Lịch sử tên đường: Đường Bùi Viện (Quận 1)

17 views

Đường Bùi Viện kéo dài từ đường Trần Hưng Đạo đến đường Cống Quỳnh, dài 652m, lộ giới 15m.

Vị trí

Đường Bùi Viện thuộc phường Phạm Ngũ Lão, Quận I, khởi đầu từ đường Trần Hưng Đạo đến đường Cống Quỳnh, qua ngã tư Đề Thám và ngã ba Đỗ Quang Đẩu. Đường lưu thông 2 chiều.

Lịch sử

Trước đây là đường mòn làng Tân Hòa từ trước năm 1949, ngày 20-1-1950 chính quyền Bảo Đại đặt tên là đường Bảo Hộ Thọai. Đến ngày 6-10-1955, chính quyền Ngô Đình Diệm đổi là đường Bùi Viện. Sau ngày 30-4-1975, vẫn dung tên đường Bùi Viện như hiện nay.

Theo Hòn Ngọc Viễn Đông

Lịch sử tên đường: Đường Bùi Thị Xuân (Quận 1)

52 views

Đường Bùi Thị Xuân kéo dài từ đường Cách Mạng Tháng 8 đến đường Cống Quỳnh, dài 652m, lộ giới 15m.

Vị trí

Đường Bùi Thị Xuân, Quận I, nằm trên địa bàn 2 phường: Bến Nghé và Phạm Ngũ Lão, khởi đầu từ đường CMT8 đến đường Cống Quỳnh, qua ngã ba Lê Thị Riêng, các ngã tư Tôn Thất Tùng, Lương Hữu Khánh, ngã ba Nam Quốc Cang. Đường lưu thông 2 chiều.

Lịch sử

Đường này có từ thời Pháp thuộc (trước năm 1945), ngày 12-2-1914 đặt tên là đường Duranton. Sau năm 1954 (22-3-1955), chính quyền Sài Gòn đổi tên là Bùi Thị Xuân, nay vẫn dung tên này như cũ.

Chú thích

Jean, Auguste DURANTON sinh ngày 8 tháng 10 năm 1858. Ông đã từng làm chức chủ tịch ủy ban thành phố Sài Gòn, một chức vụ mà ông giữ từ ngày 26 tháng 7 năm 1906 đến ngày 7 tháng 8 năm 1908. Cùng năm đó, ông trở về Pháp và mất tại đây.

Theo Hòn Ngọc Viễn Đông

Lịch sử tên đường: Đường Bà Lê Chân (Quận 1)

71 views

Đường Bà Lê Chân kéo dài từ đường Trần Quang Khải đến đường Hai Bà Trưng.

Vị trí

Đường Bà Lê Chân nằm trên địa bàn phường Tân Định, Quận I khởi đầu từ đường Hai Bà Trưng đến đường Trần Quang Khải, dài 193m, lộ giới 12m, qua ngã ba Mã Lộ,. Đường lưu thông một chiều theo hướng Hai Bà Trưng đến Trần Quang Khải

Lịch sử

Thời Pháp thuộc (trước năm 1945) đây chỉ là một đường nhỏ bên cạnh chợ Tân Định, mang số 42. Ngày 30-3-1906, chính quyền thuộc địa Pháp đặt tên là đường Frostin. Ngày 19-10-1955, chính quyền Sài Gòn đặt tên là Bà Lê Chân. Nay vẫn giữ lại tên cũ.

Chú thích

FROSTIN (Alexandre, Louis, Marie, Anne) sinh ra tại Saint Brieuc (Côtes-du-Nord), vùng Bretagne của nước Pháp, vào ngày 23 tháng 6 năm 1841. Với tư cách là một lính trung chuyển hạng 2, ông đã thực hiện chiến dịch của mình ở Viễn Đông.
Năm 1861, ông đến Trung Quốc, trên tàu “L’Impératrice-Eugénie” với tư cách là tùy viên của bộ tham mưu của Đô đốc Charner. Sau đó, ông tham gia vào cuộc chinh phục Nam Kỳ.
Vào thời điểm tấn công phòng tuyến Ki-hòa vào ngày 24 và 25 tháng 2 năm 1861, ông là thiếu úy trong đại đội tiếp cận thủy thủ do trung úy Pallu de la Barrière chỉ huy. Vào ngày đẫm máu đó, Frostin đã bị thương nặng, nhưng dù sao anh ta vẫn ở lại vị trí của mình. Sau đó, Frostin được sơ tán trên xe cứu thương đến bệnh viện Chợ Quán. Ông mất tại đó vào ngày 6 tháng 3 năm 1861, lúc 7 giờ tối.

Theo Hòn Ngọc Viễn Đông

Lịch sử tên đường: Đường Alexandre de Rhodes (Quận 1)

104 views

Đường Alexandre de Rhodes nghiêng mình nằm bên lề của Công viên 30/4 như một cô tiểu thư con nhà giàu kiêu kỳ và tràn đầy sức sống.

Vị trí

Từ đường Phạm Ngọc Thạch đến đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, dài 281m lộ giới 20m chệch phía trước Dinh Thống Nhất (trước năm 1945 gọi là Dinh Norodom, sau năm 1955 gọi là Dinh Độc Lập) qua ngã tư Pasteur. Đường lưu thông 2 chiều. Đường này thuộc địa bàn phường Bến Thành, quận 1.

Lịch sử

Đường này là một trong các đường xưa nhất Sài Gòn. Thời Pháp thuộc (chính thức là ngày 2-6-1871) có tên là đường Paracels (Hoàng Sa), đến ngày 16-10-1871 đổi lại là đường Colombert. Từ ngày 22-3-1955 chính quyền Sài Gòn đổi là đường Alexandre de Rhodes. Đến ngày 4-4-1985 thành phố đổi là đường Thái Văn Lung. Nay lấy lại tên Alexandre de Rhodes thành tên chính thức trước đây.

Nằm ngay trung tâm thành phố, đường Alexandre de Rhode cũng tấp nập như những con đường xung quanh nó, nhưng ẩn chứa bên trong những nét thầm kín thú vị. Đó là một con đường nhỏ dài chừng 300m, cái áo ngoài chỉn chu đến sang trọng, với những biệt thự xinh đẹp, những chiếc ô tô nối nhau đậu san sát, hàng cây cao vút tỏa bóng… Nơi đây còn là thế giới riêng của những người yêu thích sự khác biệt do chính mình tạo ra.

Xung quanh khu vực này, và ngay trên đường Alexandre de Rhode có khá nhiều quán cà phê hạng sang nhưng cà phê bệt vẫn là lựa chọn của nhiều bạn trẻ. Đường không đông người qua lại nhưng trên vỉa hè thì lúc nào cũng đông đúc. Nhất là sáng sớm và chiều tối, hàng trăm thanh niên ngồi bệt dựa lưng vào tường, nhâm nhi ngụm cà phê, tán dóc với bạn bè, hoặc lơ đãng ngắm dòng người lướt nhanh trên đường tấp nập. Từ con đường này trông ra, có những góc nhìn tuyệt đẹp mà hiếm nơi nào khác của TP.HCM có được. Trước mặt là khoảng xanh mênh mông của công viên, cùng con đường Lê Duẩn, Pasteur chạy ngang, cắt công viên thành những mảng ô vuông. Chếch qua phía bên phải là dinh Thống Nhất. Nhìn nghiêng qua trái là khu mua sắm Diamond plaza, Nhà Thờ Đức Bà, Bưu điện trung tâm Thành phố, cùng những tòa nhà cao tầng hiện đại.

Theo Hòn Ngọc Viễn Đông + Hương Lam

Lịch sử sản xuất xe 4 bánh Citroën La Dalat

135 views

Sau Đệ Nhị Thế Chiến, để đáp ứng nhu cầu về phương tiện di chuyễn của dân Pháp đương thời, hảng chế tạo xe Citroën đã tung ra thị trường chiếc xe 2CV, từ dạng chiếc xe nầy, Citroën đã thành công trong việc sản xuất một chiếc xe rẻ tiền, bền bỉ, bảo trì và sửa chữa dễ dàng, thực dụng cho dân chúng thời hậu chiến. Tiếp đến là loại xe Citroën Dyane 6 và Méhari sản xuất cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60. Xe Citroën La Dalat sản xuất ở Việt Nam là loại xe dựa trên kiểu Citroën Méhari.

Citroën La Dalat

Nằm trong kế hoạch hợp tác kỹ thuật của Citroën về cơ khí ô-tô và những quốc gia có ý định sản xuất phương tiện giao thông nội địa, còn được Citroën gọi là kế hoạch hợp tác FAF (Facile À Fabriquer, Facile À Financer = Dễ sản xuất, Dễ trả tiền).

Sơ lược nguồn gốc

Hãng xe Citroën đã thiết lập một cơ xưởng ở Đông Dương vào năm 1936, trụ sở lúc đầu đặt tại góc đường Lê Lợi – Nguyễn Huệ hiện nay đã trở thành Caféteria Rex ở Sài Gòn. Dưới thời VNCH được dời đi và đổi tên thành Công Ty Xe Hơi Citroën, sau là Công Ty Xe Hơi Saigon.

Citroën La Dalat
Trụ sở Công Ty Xe Hơi Saigon (viết theo kiểu đọc tây phương: Saigon Xe Hơi Công Ty)

Dân cư ở miền Nam đã quen dùng các sản phẩm của Pháp từ thời đô-hộ nên các loại xe ô-tô thường là các loại xe xuất xứ từ Âu châu, mãi đến giữa thập niên 60 với việc nhập cảng ồ ạt các loại xe gắn máy 2 bánh: Honda, Suzuki, Yamaha, Kawasaki, Bridgestone… Loại xe ô-tô Nhật Bản cũng chen chân vào thị trường Việt Nam: Toyota, Mazda, Mitsubishi, Nissan, Daihatsu… Xe do Pháp chế tạo đã không còn sức thu hút người tiêu thụ ngoại trừ chiếc Citroën 2CV – Hảng Citroën quyết định tung ra thị trường một loại xe thực dụng và rẻ tiền, loại xe mà các công ty sản xuất xe Nhật Bản không thể cạnh tranh được.

Citroën La Dalat
Một quảng cáo của công ty Xe Hơi Citroën tại Sài Gòn

Dựa trên mẫu mã của chiếc Méhari và chiếc Babybrousse rất thành công ở các thuộc địa cũ, Citroën nhập cảng vào Việt Nam những cơ-phận chính như bộ phận máy, tay lái, bộ nhún, bộ thắng,v.v. còn lại như đèn, kén báo hiệu, ghế nệm, dàn đồng đóng bằng tôn, mui xe bằng lá thép uốn hoặc vải, v.v. được chế tạo tại Việt Nam. Lúc tung ra thị trường vào năm 1970, tỷ lệ cơ phận nhập cảng so với cơ phận nội địa là 75/25 cho đến năm cuối cùng khi hãng Citroën đóng cửa vào năm 1975 là 60/40. Có tất cả là 4 kiểu La Dalat: loại 4 chỗ ngồi hoặc 2 chỗ ngồi với thùng chở hàng.

Vài chi tiết kỹ thuật

Động cơ 4 thì, 602 phân khối, 2 xi-lanh đối ở 2 đầu nằm dẹp (flat twin), hộp số gồm 4 số tay, chuyền động ở trục bánh trước. Dài 3,5 mét, rộng 1,53 mét, cao 1,54 mét. Nặng khoảng từ 480 đến 590 kí-lô tùy theo kiểu.

Citroën La Dalat
Một xe La Dalat trên đường phố Sài Gòn trước 1975

Xe La Dalat đánh đúng vào nhu cầu của dân lao động Việt Nam: ít tốn xăng, dễ sửa chữa, cơ phận dễ thay thế và đặc biệt là các cơ phận như cánh cửa, kiếng xe, v.v. đều có thể “tự chế”, dễ làm hơn các loại xe Nhật và rẻ tiền. Các bộ phận rời được bán với giá phải chăng vì hoàn toàn được chế tạo tại Việt Nam.

Phải biết

– Năm 1971 mua La Dalat là 650,000 đồng VNCH.
– Năm 1972 mua Mazda 1200 là 1,450,000 đồng VNCH.
– Năm 1972 xe Toyota 800 Sedan là 1,100,000 đồng VNCH.
– Một cái nhà trong hẻm lớn 7m, dài 25m rộng 6m 2 tầng khoảng 1,300,000 đồng VNCH.
– Luơng nhân viên bộ Nội Vụ cấp đốc sự 1970 khoảng 8,000/tháng.

8 công trình đầu tiên của Sài Gòn xưa

137 views

Khách sạn Continental, nhà hát Thành phố, Bệnh viện Chợ Quán, Bưu điện trung tâm… Chúng ta cùng nhau điểm lại tám công trình đầu tiên được xây tại vùng đất Sài Gòn Gia Định với lịch sử hơn 300 năm.

Nhà hát lớn Sài Gòn

8 công trình đầu tiên của Sài Gòn xưa - Nhà hát lớn Sài Gòn
Nhà hát lớn Sài Gòn

Được khởi công năm 1898 và hoàn thành năm 1900, Nhà hát Thành phố mang kiến trúc Tây Âu. Các phù điêu bên trong được họa sĩ tên tuổi người Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát Pháp cuối thế kỷ XIX.
Nhà hát là nơi trình diễn ca nhạc kịch cho Pháp kiều xem. Năm 1956, nơi đây được dùng làm trụ sở Hạ nghị viện của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Đến tháng 5/1975, trở thành nhà hát thành phố đến nay.
Nằm tại lõi Sài Gòn, nhà hát đa năng, là nơi biểu diễn sân khấu nghệ thuật và được sử dụng để tổ chức những sự kiện lớn.

Khách sạn Continental

8 công trình đầu tiên của Sài Gòn xưa - Continental Palace Sài Gòn
Continental Palace Sài Gòn

Continental là khách sạn có lịch sử lâu đời và nổi tiếng nhất thành phố. Tọa lạc trên đường Đồng Khởi – kéo dài từ bờ sông Sài Gòn đến Nhà thờ Đức Bà. Đây cũng là con đường sầm uất bậc nhất thời bấy giờ, có rất đông người Pháp cư ngụ.
Khách sạn này được ông Pierre Cazeau – nhà sản xuất vật liệu xây dựng và đồ gia dụng – khởi công năm 1878 và hoàn thành sau 2 năm. Kiến trúc, nội thất cũng như cách bài trí đều theo tiêu chuẩn của một khách sạn hạng sang tại Paris. Đây là nơi dừng chân của các viên chức, sĩ quan cao cấp của Pháp đến công tác và là chỗ tụ hội của du khách thập phương.
Sau ngày 30/4/1975, nơi đây được đổi tên thành Hải Âu. Đến năm 1989, công trình được tu sửa và lấy lại tên cũ Continental, rộng hơn 3.400 m2, cao 3 tầng. Khách sạn từng đón tiếp các vị tổng thống, thống đốc, nhà văn, người mẫu nổi tiếng thế giới.
Hiện, Continental là một trong những khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế, góp phần phát triển ngành du lịch TP HCM.

Bệnh viện Chợ Quán

8 công trình đầu tiên của Sài Gòn xưa - Bệnh Viện Chợ Quán
Bệnh Viện Chợ Quán

Năm 1862, Bệnh viện Chợ Quán được một số nhà hảo tâm đóng góp xây dựng và quản lý. Toạ lạc trên khu đất rộng gần 5 ha tại làng Chợ Quán nằm giữa Sài Gòn – Chợ Lớn, phía trước bệnh viện là sông Bến Nghé (nay gọi là kênh Tàu Hủ) chảy qua. Năm 1864, công trình được giao lại cho chính quyền thời bấy giờ quản lý.
Từ 1954 đến 1957, 2/3 cơ sở bệnh viện được sử dụng làm nơi điều trị bệnh lao cho binh lính và đổi tên thành Viện bài lao Ngô Quyền. Cuối năm 1957, bệnh viện được trả về cho dân sự, lấy lại tên ban đầu là Bệnh viện Chợ Quán.
Tháng 3/1974 bệnh viện mang tên mới là Trung tâm Y Khoa Hàn – Việt. Sau ngày 30/4/1975 nó được gọi bằng tên cũ. Đến ngày 5/9/1989, UBND TP HCM đổi thành Bệnh viện Bệnh nhiệt đới, trực thuộc Sở Y tế đến nay.

Bưu điện Sài Gòn

8 công trình đầu tiên của Sài Gòn xưa - Bưu điện Sài Gòn
Bưu điện Sài Gòn

Ngay sau khi chiếm được Sài Gòn, Pháp đã thiết lập hệ thống thông tin liên lạc. Năm 1860, “Sở dây thép” Sài Gòn (tức Bưu điện Sài Gòn) được thành lập.
Ngày 13/1/1863, Sở dây thép Sài Gòn chính thức khánh thành và phát hành “con cò” (cách gọi con tem của người bản địa) đầu tiên. Một năm sau, người Sài Gòn bắt đầu gửi thư qua nhà “dây thép” (hệ thống bưu điện).
Năm 1886-1891, Bưu điện Sài Gòn được xây lại hiện đại, thay thế cho trụ sở và khu nhà ở cũ theo đề án của kiến trúc sư người Pháp là Villedieu cùng phụ tá Foulhoux. Từ ngày 1/7/1894 Sài Gòn bắt đầu sử dụng hệ thống điện thoại.
Đây là công trình kiến trúc mang phong cách châu Âu kết hợp với nét trang trí châu Á. Phía trước ngôi nhà trang trí theo từng ô hình chữ nhật, trên đó ghi danh những nhà phát minh ra ngành điện tín và ngành điện.

Nhà thờ Chợ Quán

8 công trình đầu tiên của Sài Gòn xưa - Nhà thờ Chợ Quán
Nhà thờ Chợ Quán

Nhà thờ Chợ Quán (20 Trần Bình Trọng, quận 5) xây lần đầu vào năm 1700 – được xem là nhà thờ có lịch sử lâu đời nhất tại Sài Gòn.
Theo học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Họ Đạo Chợ Quán gắn liền với quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của đất nước. Trong số di dân vào Nam đã có những giáo dân theo đạo Thiên Chúa. Họ tập hợp, tổ chức nhà nguyện và sau này là nhà thờ Chợ Quán.
Thánh đường Chợ Quán ban đầu chỉ là ngôi nhà thờ đơn sơ. Sau nhiều lần xây dựng rồi bị tàn phá vì thời cuộc (1720, 1727, 1733, 1775, 1789,1793).
Mãi đến năm 1882 (lần thứ 8), cha Nicolas Hamm về kế nhiệm đã đặt nền móng cho ngôi nhà thờ mới (nhà thờ tồn tại đến ngày nay).
Thánh đường được khánh thành năm 1896 nằm ở vị trí trung tâm, có kiến trúc phương Tây, lợp ngói đỏ, có thể chứa khoảng 1.000 người.

Đình Thông Tây Hội

8 công trình đầu tiên của Sài Gòn xưa - Đình Thông Tây Hội
Đình Thông Tây Hội

Xây dựng khoảng năm 1679, Thông Tây Hội được xem là ngôi đình cổ nhất của đất Gia Định xưa và cả Nam Bộ. Hiện, nó còn khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ.
Đình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông – thôn khởi nguyên của Gò Vấp – sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và thôn An Hội). Đình Thông Tây Hội hiện nằm trên địa bàn phường 11, quận Gò Vấp.
Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương.

Chùa Huê Nghiêm

8 công trình đầu tiên của Sài Gòn xưa - Chùa Huê Nghiêm Thủ Đức
Chùa Huê Nghiêm Thủ Đức

Chùa Huê Nghiêm tọa lạc ở đường Đặng Văn Bi (quận Thủ Đức), được xem là ngôi chùa cổ nhất ở TP HCM.
Ngày nay, chùa thường được gọi là Huê Nghiêm 1 để phân biệt với chùa Huê Nghiêm 2 ở quận 2.
Chùa được Thiền sư Thiệt Thụy – Tánh Tường (1681 -1757) khai sơn vào thế kỷ XVIII. Nhiều tư liệu xác định năm thành lập là 1721.
Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương.

Lúc đầu, chùa được xây ở vùng đất thấp, cách chùa hiện hữu khoảng 100 m. Sau đó, bà Nguyễn Thị Hiên (1763-1821) pháp danh Liễu Đạo, tự Thành Tâm, đã hiến đất để xây lại.
Ngôi chùa được trùng tu nhiều lần, lớn nhất là vào cuối thế kỷ XIX do Thiền sư Đạt Lý – Huệ Lưu tổ chức.
Kiến trúc của nó được thay đổi ở những lần trùng tu năm 1960, 1969, 1990 và 2003 với mái ngói chồng diêm, các đầu đao cong vút. Bờ nóc mái trang trí những hoa sen cách điệu. Khuôn viên chùa khá rộng, có nhiều tháp cổ. Tam quan chùa và đài Quan Âm ở sân trước chùa được xây vào năm 1990.

Cầu Mống

8 công trình đầu tiên của Sài Gòn xưa - Cầu Mống
Cầu Mống

Là một trong những cây cầu cổ xưa nhất còn sót lại ở Sài Gòn, cầu Mống bắc qua kênh Tàu Hủ – Bến Nghé, nối quận 1 và quận 4 (đất Khánh Hội xưa).
Cầu mang đậm nét phương Tây, do công ty vận chuyển hàng hải Pháp Messageries Maritimes đầu tư và công ty Levallois Perret (tức Eiffel cũ) thi công vào năm 1893-1894.
Dài 128 m, rộng 5,2 m, cầu có lề bộ hành rộng 0,5 m và được xây bằng thép kiên cố. Thành cầu uốn cong có những khoảng trống, sơn xanh (ban đầu cầu có nước sơn màu đen). Hình dáng vòng cung giống cầu vồng nên người dân gọi tên là cầu Mống.
Trong giai đoạn thi công Đại lộ Đông – Tây và Đường hầm sông Sài Gòn, cầu được tháo dỡ hoàn toàn, sau khi công trình này hoàn tất thì nó được lắp ghép lại theo nguyên bản và gia cố thêm phần trụ móng kèm trang bị chiếu sáng mỹ thuật.
Hiện, cây cầu hơn 100 tuổi đã được khôi phục dành cho người đi bộ – là nơi chụp ảnh cưới, ngắm cảnh về đêm, đứng xem pháo hoa mỗi dịp lễ, tết của người dân Sài Gòn.

Theo Trung Sơn

20 bức ảnh hiếm về Sài Gòn năm 1948 qua ống kính của Jack Birns

456 views

Làm việc cho tập chí LIFE, nhiếp ảnh gia người Mỹ Jack Birns đã thực hiện rất nhiều bộ ảnh quý giá về cuộc sống đời thường ở một số nước Châu Á, trong đó có Việt Nam.

Vào cuối thập niên 40, ông đã có mặt ở Sài Gòn lúc đó còn dưới quyền cai trị của thực dân Pháp. Mang theo trên người ba bộ máy ảnh, ông đã lưu lại những khoản khắc rất thú vị về cuộc sống Sài Gòn vào năm 1948, nhất là sự tương phản giữa văn hóa truyền thống của người Việt Nam và sự ảnh hưởng phương Tây mà người Pháp đã mang qua Đông Dương.

20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Cầu Khánh Hội
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Chỗ giữ xe đạp trên đại lộ Nguyễn Huệ
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Lính Pháp ngồi uống cà phê ở vĩa hè
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Thanh niên bán báo ngủ gục trên quầy
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Les Grands Magasins Charnier hay còn gọi là Thương xá Tax
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Le Cercle Sportif Saïgonnais (Cung Văn hóa Lao Động)
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Bùnh binh trên đại lộ Nguyễn Huệ
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Nơi bán đồ mỹ phẩm
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Những bóng hồng đang dạo ở Thảo Cầm Viên
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Sài Gòn thời đó đã có xe tram
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Bên trong một cửa hàng bán trang sức
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Tiệm bán giầy trên vĩa hè
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Hóng mát trên vĩa hè cùng đồng nghiệp
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Người bản xứ đang xem trộm một cuộc đua ngựa
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Rạp hát Nam Châu
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Hai vị linh mục trên đường Đồng Khởi
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Ba bóng hồng tạo dáng chụp hình trong Vườn Ông Thượng (Jardin de la Ville)
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Nữ tù nhân
20 Ảnh hiếm Sài Gòn - Jack Birns 1948
Trường đua Phú Thọ

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những vay mượn từ tiếng Pháp

789 views

Sang đến thời kỳ “một trăm năm đô hộ giặc Tây”. Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã trở thành thuộc địa của Pháp. Cũng vì thế, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội và đời thường của người Việt.

Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, nổi bật nhất là văn hóa Pháp.

Khi chiếm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá Nho giáo sang văn hoá Phương Tây. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Linh mục Alexandre de Rhodes

Đối với người bình dân, việc tiếp nhận tiếng Pháp đến một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nói “Cắt tóc, thui dê” để chỉ ngày Quốc khánh Pháp 14/7, Quatorze Juliet. Người ta có thể dùng tiếng Tây “bồi” nhưng lại không cảm thấy xấu hổ vì vốn liếng tiếng Pháp của mình vốn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để tả con cọp, người ta có thể dài dòng văn tự: “tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng (jaune), một chút màu đen (noir), nó ăn thịt ông (monsieur), nó ăn thịt cả tôi (moi).

Nhân đây cũng xin nói thêm về những đại danh từ nhân xưng như toa (anh, mày – toi), moa hay mỏa (tôi, tao – moi), en hay ẻn (cô ấy, chị ấy – elle), lúy hay lủy (anh ấy, hắn – lui), xừ hay me-xừ (ông, ngài – monsieur)… Học trò trường Tây, những nhà trí thức khoa bảng hay cả những kẻ tỏ ra “thời thượng” ngày xưa thường dùng những đại từ này. Cũng vì thế có một câu mang tính cách châm chọc: “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn tiểu quá nên moa phải… trên đầu toa” (toa ở đây có 2 nghĩa: toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi (anh) trong tiếng Pháp).

Nói thêm về hỏa xa, người Pháp xây dựng đường xe lửa đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1881. Đây là đoạn đường ray (rail) từ Cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn, dài 13km. Mãi đến năm 1885 chuyến xe lửa đầu tiên mới được khởi hành và một năm sau, tuyến đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71km bắt đầu hoạt động. Sau đó, mạng lưới đường sắt được xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, dùng kỹ thuật của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Tính đến năm 1975 miền Nam có khoảng 1.240km đường ray nhưng vì chiến cuộc nên chỉ được sử dụng khoảng 60%.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Nhà ga xe lửa cạnh đầu đường Lê Lai (1931)

Nhà ga cũng có xuất xứ từ tiếng Pháp gare. Ga là công trình kiến trúc làm nơi cho tàu hoả, tàu điện hay máy bay đỗ để hành khách lên xuống hoặc để xếp dỡ hàng hoá. Từ sự vay mượn này ta có thêm những từ ngữ như sân ga, trưởng ga, ga chính, ga xép… Nhân nói về ga tưởng cũng nên nhắc lại động từ bẻ ghi (aiguiller) tức là điều khiển ghi (aiguille) cho xe lửa chuyển sang đường khác. Trong tiếng Việt, bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Ga Đà Lạt (1938)

Có những từ ngữ xuất xứ từ tiếng Pháp nhưng vì lâu ngày dùng quen nên người ta cứ tưởng chúng là những từ “thuần Việt”. Chẳng hạn như cao su (caoutchouc), một loại cây công nghiệp được người Pháp du nhập vào Việt Nam qua hình thức những đồn điền tại miền Nam. Ngôn ngữ tiếng Việt rất linh động trong cách dùng từ ngữ cao su qua các biến thể như giờ cao su (giờ giấc co dãn, không đúng giờ), kẹo cao su (chewing-gum)…

Nhà băng (banque) là một chữ quen dùng trong ngôn ngữ hàng ngày còn xà bông cũng là loại chữ dùng lâu ngày thành quen nên ít người để ý xuất xứ của nó là từ tiếng Pháp, savon. Ở miền Bắc, xà bông được cải biên thành xà phòng, là chất dùng để giặt rửa, chế tạo bằng cách cho một chất kiềm tác dụng với một chất béo. Nổi tiếng ở Sài Gòn xưa có xà bông Cô Ba của Trương Văn Bền, dùng dầu dừa làm nguyên liệu chính.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Ngân Hàng Đông Dương nhìn từ phía sau góc Tôn Thất Đạm-Nguyễn Công Trứ

Chúng ta thấy ngôn ngữ Việt vay mượn từ tiếng Pháp trong rất nhiều lãnh vực. Về ẩm thực, tiếng Việt thường mượn cả cách phát âm đến tên của các món ăn có xuất xứ từ phương Tây. Vào nhà hàng, người phục vụ đưa ra mơ-nuy (thực đơn – menu) trong đó có những món như bít-tết (chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh – beefsteak), những thức uống như bia (rượu bia – bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon), rượu vang (rượu nho – vin)…

Về thịt thì có xúc-xích (saucisse), pa-tê (paté), giăm-bông (jambon), thịt phi-lê (thịt thăn, thịt lườn – filet). Các món ăn thì có ra-gu (ragout), cà-ri (curry)… Khi ăn xong, khách xộp còn cho người phục vụ tiền puộc-boa (tiền thưởng – pourboire). Ngày nay từ boa hay bo được dùng phổ biến với ý nghĩa cho tiền thưởng, hay còn gọi là tiền phong bao hoặc tiền phục vụ.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Bánh Pâté Chaud

Từ rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp. Có nhiều loại bánh đặc biệt như bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài – baguette), bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud), bánh croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant).

Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà như ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat), trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette) hoặc trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque).

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Cà phê Brodard trên đường Catinat

Món không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê (café). Cà phê phải được lọc từ cái phin (filtre à café) mới đúng điệu. Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn nhiều người đã mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình”: “cái nồi ngồi trên cái cốc”.

Ngôn ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi (chemise), cổ tay có cài khuy măng-sét (manchette). Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì mặc áo vét (vest) hay bộ vét-tông (veston) kèm theo chiếc cà-vạt (cravate) trên cổ áo sơ mi. Trời hơi lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê (gilet) và hai tay mang găng (gants) cho ấm.

Ngay cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ thì mang xú-chiêng (nịt ngực – soutien-gorge) và xì-líp (slip). Nam giới thì mặc áo may-ô (maillot) bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya (dây nịt – ceinture) và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts).

Trang phục có thể được may từ các loại cô-tông (vải bông – coton) hoặc bằng len (làm từ lông cừu – laine). Trên đầu có mũ phớt (feutre, một loại mũ dạ), mũ be-rê (béret, một loại mũ nồi)… dưới chân là đôi dép săng-đan (sandales), sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc).

Đi lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá (giày của lính – soldat). Loại lính nhảy dù, biệt kích (ngày nay là đặc công) gọi là còm-măng-đô (commando). Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!). Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được dùng chỉ những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu thông.

Xưa kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên: mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui), sen đầm (gendarme), phú-lít (police), ông cò (commissaire)… Lực lượng thuế quan (ngày nay gọi là hải quan) được gọi là đoan (douane), lính đoan còn có nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp thuộc.

Nông phẩm thì có đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert), đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois), bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ (bông cải – chou-fleur), xà lách (salade), cải xoong (còn gọi là xà lách xoong – cresson), cà-rốt (carotte), ác-ti-sô (artichaut)…

Tiếng Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica (khẩu cầm)… Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường – dancing) luôn có ọc-két (ban nhạc – orchestre) chơi nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve (gái nhẩy – cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Vũ trường Maxim’s trên đường Tự Do cạnh khách sạn Majestic

Người phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ tiếng Việt những từ ngữ như bơ (beurre), pho-mát (fromage), kem (crème)… Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai nhãn hiệu sữa Ông Thọ (Longevity) và Con Chim (Nestlé) như đã nói ở phần trên.

Có người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi thọ (longévité) của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy. Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim (gồm chim mẹ và 2 chim con) nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim cho tiện.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Trụ sở hãng sữa Nestlé (sữa Con chim) trên đường Công Lý

Thế mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng (Lait Mont-Blanc) và sữa bột Guigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn vụng một thìa Guigoz của em út: vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ ly ty như tan ngay trong miệng.

Sữa bột Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ đo lường. Khi dùng hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng đường, muối, tiêu, bột ngọt…

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Logo hình tổ chim của hãng sữa Nestlé

Những người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz đã theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người “tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để phòng khi cần đến.

Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”. Học tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu”. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc măng (lấy ở trên rừng), luộc rau, luộc khoai mỳ (“chôm chỉa” khi đi “tăng gia sản xuất”)… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp núc.

Chúng tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn (Tây Ninh) nên có cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm nuôi”.

Sau 30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975.

Tình cờ tôi bắt gặp trang web của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới 15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có sữa!

Người Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô (xe hơi – auto, automobile). Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven (manivelle) đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có bộ phận đề-ma-rơ (khởi động – démarreur). Sau khi đề (demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe – chauffeur) sẽ cầm lấy vô-lăng (bánh lái – volant) để điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như cờ-lê (chìa vặn – clé), mỏ-lết (molete), đinh vít (vis), tuốc-nơ-vít (cái vặn vít – tournevis), công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur), công tắc (cầu dao – contact)…

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Công ty xe hơi Pháp Citroen (REX Hotel Saigon) 1927

Bây giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có guy-đông (thanh tay lái – guidon), dưới chân có pê-đan (bàn đạp – pedale), săm (ruột bánh xe – chambre à air) và phía sau là bọc-ba-ga (để chở hàng hóa – porte-bagages).

Chi tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên (dây xích – chaine), có líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre), rồi phanh (thắng – frein) ở cả bánh trước lẫn bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu (thanh chắn bùn – garde-boue) và gạc-đờ-sên (thanh che dây xích – garde-chaine).

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Xe hơi trên đường Nguyễn Huệ

Mỗi chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm (pompe) để phòng khi lốp xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô (dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). Tôi còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục man châm gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện.

Hồi xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling… Đó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa.

Tác giã : Nguyễn Ngọc Chính

Gia Định Báo – Số 6, năm thứ hai (tháng sáu 1866)

523 views

Mời các bạn đọc số 6 của Gia Định Báo, ra mắt vào tháng sáu năm 1866. Gia Định Báo là báo đầu tiên bằng tiếng quốc ngữ của Việt Nam.

Gia-Định-Báo-–-Số-6-năm-thứ-hai-tháng-sáu-1866

Bạn cũng có thể tải báo để đọc trên những thiết bị đọc sách như Kindle (Amazon)… bằng cách bấp vào những links sau đây tùy theo dạng :

Dạng EPUB : http://ul.to/6nmjsbai

Dạng Kindle : http://ul.to/f7sbej64

Dạng MOBI : http://ul.to/cvw9xycp

Gia Định Báo – Số 5, năm thứ hai (tháng năm 1866)

468 views

Gia Định Báo (嘉定報) là tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt mới (chữ Quốc ngữ), được sáng lập bởi Trương Vĩnh Ký, được ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn.

Đây là số thứ 5 được phát hành vào tháng năm năm 1866.

Gia-Định-Báo-–-Số-4-năm-thứ-hai-tháng-tư-1866

Ngã Tư Hàng Sanh (Sài Gòn) trước năm 1975

779 views

Ngã Tư Hàng Sanh là một giao lộ đồng mức thuộc loại hiện đại nhất của Sài Gòn trước biến cố 1975. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu thông tin và khám phá hình ảnh về địa điểm mang tên cây này tại Sài Gòn xưa.

Lý giải về tên gọi Hàng Xanh, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trước năm 1945 khu vực này trồng nhiều cây sanh. Cây Sanh được trồng dọc hai bên đường Bạch Đằng ngày nay kéo dài đến ngã tư này.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn
Hàng Xanh 1967

Sanh là tên một loại cây lớn có họ hàng với cây đa, cây đề, cây si… (họ Ficus). Xưa trên con đường đi từ đường Thiên Lý (đường Cái Quan), chổ gần cầu Sơn, đi băng qua rạch Cầu Bông đến lăng Ông – Bà Chiểu, hai bên đường có trồng hàng cây Sanh, do vậy đường có tên là Hàng Sanh, nay là đường Bạch Đằng. Cho đến khoảng thập niên 40 vẫn còn cây này ở ven đường. Trên Bản đồ đô thành Sài Gòn năm 1962 thì đoạn đầu của đường Bạch Đằng vẫn còn ghi tên là đường Hàng Sanh.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn
Bảng chỉ dẫn tên đường ở Ngã 4 Hàng Xanh. Đi thẳng là qua cầu Tân Cảng để đi Biên Hòa, quẹo trái về tỉnh Gia Định, Bà Chiểu, quẹo phải về trung tâm Sài Gòn

Sài Gòn xưa là rừng, đến giữa thế kỷ XX vẫn còn nhiều vết tích. Người dân bản xứ thường đặt tên những địa danh bằng tên các loài cây như : cây Vắp, cây Củ Chi, cây Sanh, cây Quéo, cây Thị, cây Da Sà, cây Sơn (có cầu Sơn gần ngã tư Hàng Sanh), cây Gõ, cây Xoay, … và cây Gòn (Sài Gòn).

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Trước thập niên 1960, chỗ này mang tên là Ngã 3 hàng Sanh. Đến đầu thập niên 1960, sau khi cầu Tân Cảng (nay là cầu Sài Gòn) được xây dựng, có thêm một nhánh đường đi Biên Hòa được gọi là Xa Lộ Biên Hòa, thì chỗ này mới thành Ngã Tư Hàng Sanh.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Vào thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, ít người biết được đây là một giao lộ đồng mức thuộc loại hiện đại nhất Á Châu thời ấy, với hệ thống dải phân cách, phân luồng và đèn tín hiệu giao thông được cách âm chôn hoàn toàn dưới lòng đất và vẫn còn sử dụng tốt cho đến năm 1995…

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Ngày trước, ngã tư Hàng Sanh đặt một chiếc đồng hồ mà ai đi qua cũng thấy. Bây giờ những chiếc đồng hồ công cộng ấy chỉ còn lại ở vài ngã tư. Trước tình hình giao thông cấp bách, vòng xoay của ngã tư Hàng Sanh bị đập bỏ, nhường chỗ cho cây cầu vượt bằng thép xuyên ngang. Chiếc đồng hồ và vòng xoay biến mất, chỉ còn lại trong hoài niệm của nhiều người.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn
Đồng hồ ở vòng xoay Nguyễn Bỉnh Khiêm (Q.1), chỉ cách ngã tư Hàng Xanh (Q. Bình Thạnh) khoảng 1 km
)Ảnh: Từ Tấn Phát)

Nhà thơ Kiên Giang – Hà Huy Hà khi lên Sài Gòn học, năm 1943 ông ở trọ tại Hàng Sanh; sau đó ông có sáng tác bài thơ “Nhạc Xe Bò”, có đoạn :

Đêm xưa trăng mới đứng đầu
Đoàn xe bò đã qua cầu Hàng Sanh
Nhạc xe bò rộn âm thanh
Khô khan mà thảm, mong manh mà sầu
Bánh xe lốc cốc
Lên dốc đầu cầu

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Tổng hợp

Gia Định Báo – Số 4 năm thứ hai (tháng tư 1866)

337 views

Gia Định báo phát hành trong phạm vi vùng chiếm đóng của thực dân Pháp lúc đó là 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ.

Nội dung chính của Gia Định báo ban đầu gồm 2 phần: công vụ và tạp vụ. Phần công vụ chuyên về các vấn đề chính trị, pháp lý, công quyền, đăng các công văn, nghị định, thông tư, đạo dụ của chính quyền thực dân; còn phần tạp vụ gồm các tin tức địa phương trên các lĩnh vực: kinh tế, tôn giáo, văn hóa – xã hội…

Đây là số 4 được phát hành vào tháng tư năm 1866.

Gia-Định-Báo-–-Số-4-năm-thứ-hai-tháng-tư-1866

Nhà dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

450 views

Với kiến trúc nhà dòng Saint Paul, chúng ta tự hào rằng tại Sài Gòn năm 1864 đã có một công trình kiến trúc kiên cố đầu tiên lại do chính kiến trúc sư người Việt thiết kế và xây dựng.

Khi đi ngang ngôi nhà trắng tại số 4 Tôn Đức Thắng, quận 1 (trước là Cường Để) mọi người chỉ biết đây là một nữ tu viện. Tòa nhà này trước kia còn được gọi là “Nhà Trắng”, không phải vì sơn toàn màu trắng như tòa Bạch Ốc (White House) mà vì ngôi nhà này được xây dựng và làm chủ bởi những nữ tu dòng Saint Paul de Chartres (Thánh Phaolô thành Chartres) “trinh bạch từ linh hồn đến những chiếc áo dòng trắng toát”. Trước năm 1975, trong nhà dòng này có một trường tư thục với các lớp từ mẫu giáo tới tú tài với số lượng 1.600 học sinh (có ký túc xá cho học sinh nội trú).

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Kiến trúc ban đầu của Dòng Thánh Phao Lô Sài Gòn (1866)

Sau năm 1975, có một thời gian là trường sư phạm mầm non. Nếu ai có dịp vào đây sẽ choáng ngợp với không gian rộng rãi, khoáng đãng với kiến trúc ba khối nhà: cô nhi viện, nhà nữ tu ở và khu nhà nguyện. Khu nhà nguyện có thiết kế đặc biệt, nhìn từ trên cao xuống rất giống cây thánh giá, bên trong có thêm nhiều cột đỡ vững chãi, phía trước là một sân cỏ rộng với tượng thánh bổn mạng của dòng Phaolô.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Một thiết kế theo nhận định của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ: “Một giáo đường huy hoàng với đường nét thẩm mỹ lối Gothique. Các khu vòm hình liềm cung, đua nhau vượt lên tới 20 thước, không một chút chạm trổ hoa hòe… Làm cho khách tưởng nhớ đến giáo đường “Sainte Chapelle”… Cảm tưởng nhẹ nhàng vì sự thành công của vị kiến trúc sư làm cho ai vào đó cũng cảm thấy thoát tục”.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Kiến trúc sư “thầy Học”

Theo các tài liệu lịch sử truyền giáo, vào ngày 20-5-1860, các nữ tu dòng Thánh Phaolô gốc ở thành Chartres (Soeurs de Saint Paul de Chartres) từ Hong Kong đặt chân đến Sài Gòn. Họ cùng tạm định cư tại một căn nhà nhỏ vùng chợ cũ cùng các nữ tu dòng kín (đến Sài gòn năm 1861). Vào tháng 9-1862, mẹ bề trên dòng thánh Phaolô Benjamin khởi công xây cất nhà giám tỉnh tại khu đất Đường Thành (Rue de la Citadelle). Toàn bộ công trình này hoàn thành vào ngày 10-8-1864. Và trong bản thảo viết tay của mẹ Benjamin chỉ ghi lại tên kiến trúc sư là Thầy Học.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Không ảnh Dòng Thánh Phaolô năm 1929

Lúc ấy các bà phước chẳng biết kiến trúc sư “Thầy Học” là ai. Không biết trước đây đã có tài liệu nào xác minh Thầy Học là ai chưa. Riêng cụ Vương Hồng Sển trong quyển Sài Gòn năm xưa in năm 1958 cho biết: “Tương truyền nhà lầu cao lớn nơi đây là do ông Nguyễn Trường Tộ năm xưa đứng coi xây cất”. Vậy Thầy Học hay ông Nguyễn Trường Tộ là người thiết kế, xây cất tòa nhà này? Trong tạp chí Văn Đàn (số 4-1961, Sài Gòn) ông Phạm Đình Khiêm đã công bố nhiều tài liệu trong thư khố tu viện đã chứng minh Thầy Học chính là ông Nguyễn Trường Tộ.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Không ảnh Dòng Thánh Phaolô năm 1929

Trước hết, các soeur gọi ông Nguyễn Trường Tộ là Thầy Học vì ông đã từng làm thầy dạy học cho nhà chung. Cách gọi này đã được ghi một cách chính thức trong một tập tài liệu viết tay tên là La Création des Établisements des Soeurs de Saint Paul de Chartres en Extrême-Orient (Ký sự về việc thành lập các cơ sở dòng Nữ tu thánh Phaolô thành Chartres tại Viễn Đông) do mẹ Benjamin, người sáng lập “Nhà Trắng” soạn thảo.

“… Được khu đất tốt đẹp như vậy lại chán cảnh tạm bợ nhiều khi còn tốn kém hơn, bà bề trên bèn quyết định xây nhà vững chắc. Bà bàn tính công việc xây cất ấy với Đức cha Gauthier và cha Croc, các vị ấy đồng ý rằng khi trở về đàng ngoài, sẽ để Thầy Học ở lại điều khiển các công tác”.

Trong ký sự còn xác định: “Ông là một giáo hữu Đàng-Ngoài”. Điều này đã xác nhận thời gian sau khi thôi học, ông Nguyễn Trường Tộ mở trường dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ Hán trong nhà chung Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Tại đây, năm 1846 ông được giám mục người Pháp tên là Gauthier dạy học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu biết về các môn khoa học thường thức của phương Tây. Cuối năm 1858, ông đi cùng Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn “phân sáp” (sáp nhập hai, ba gia đình Công giáo vào trong một làng không Công giáo, chứ không cho ở tập trung như trước). Đầu năm 1859, Giám mục Gauthier đưa ông sang Hương Cảng (Hong Kong) và Pháp. Trong tập Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ do con ông là Nguyễn Trường Cửu ghi chép giai đoạn ông Nguyễn Trường Tộ đi Pháp như sau: “Rồi sang nước đại Pháp, ở kinh thành Ba Lê, là kinh đô, đi du lịch xem chính trị, học hành, kỹ nghệ, phong tục nước đại Pháp. Khi nghe “lặng sáp” rồi (ý nói chấm dứt tình trạng phân sáp như nói ở trên – LVN) thì Đức cha Hậu lại đem ông Tộ và các cụ về nhà chung”.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Vẫn theo ông Cửu thì chính mẹ bề trên phải thỏa thuận với Đức cha Hậu để xây cất Nhà Trắng. Câu hỏi đặt ra là tại sao mẹ Bejamin lại chọn Nguyễn Trường Tộ mà không chọn những kiến trúc sư Pháp vì chính Nguyễn Trường Tộ đã chứng minh được với mẹ bề trên và Đức cha là một người có khả năng về kiến trúc khi về nhà chung (Xã Đoài) đã “làm lại nhà hai tầng cho Cố giữ việc ở và nhà Tràng Latin ba tầng hình chữ thập gọi là “nhà tây” cho học trò Latin ở và học cùng làm nhà thờ Đức Bà riêng cho học trò, theo mẫu nhà thờ Đức Bà hiện ra thành Lộ Đức (Lourdes) đẹp lắm và ở ngoài xây tường cải hoa lộng, giống các sắc hoa tây nam rực rỡ xanh tươi vui mắt, rầy (bây giờ) hư rồi. Đoạn tậu vườn làm nhà ở phía bắc nhà chung, rồi vào Gia Định làm sở nhà bà phước cho các người nhà mụ Tây ở…”.

Theo tác giả Trương Bá Cần, trong các công trình do Nguyễn Trường Tộ xây cất ở Xã Đoài, nay chỉ còn lại nhà tràng Latin (tức tiểu chủng viện) ba tầng, hình chữ thập gọi là “nhà Tây”, chứ tòa giám mục và các nhà phụ thuộc đều đã bị bom Mỹ đánh sập.

Dấu ấn kiến trúc tại Sài Gòn

Riêng Giám mục Gauthier thường gọi Nguyễn Trường Tộ bằng danh hiệu “kiến trúc sư”, mặc dù ông Tộ chưa một ngày học qua ngành kiến trúc như trong thư gửi Hội Truyền giáo nước ngoài ở Paris (đề ngày 1-1-1870), Giám mục Gauthier viết: “… Người ta quen gọi là kiến trúc sư vì ông ta (chỉ ông Tộ) đã xây ngôi nhà ba tầng của các nữ tu Sài Gòn, một nhà nguyện và một ngọn tháp cao nổi bật…” (dẫn lại theo Nguyễn Bá Cần). Có lẽ do thiên bẩm, óc quan sát, thực nghiệm khi được ra nước ngoài trước kia, ông có ở Hong Kong ít lâu và trong thời gian ngắn ngủi tại thuộc địa này của người Anh, ông đã thấy được cách thức và thể loại kiến trúc của châu Âu. Trước đó, ông đã được ngợi ca là một kiến trúc sư tài năng trong quyển II, trang 731 của tạp chí La Semaine religieuse (Paris, năm 1867):

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Người Đông phương ở trong phái ủy thì có hai ông quan và một người kiến trúc sư Công giáo, có trí nhớ lạ lùng, tài năng lỗi lạc và chính là người đã xây giáo đường của ta ở Sài Gòn”. Hai ông quan là Nguyễn Tăng Doãn và Trần Văn Đạo, còn người kiến trúc sư tài năng lỗi lạc ấy chính là ông Nguyễn Trường Tộ. Linh mục Le Mée (thừa sai Paris) trong một bức thư đăng trên tập san Missions Catholiques năm 1876 có nói về công việc ấy như sau: “Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc đã đem theo một nho sĩ Bắc Kỳ, tên là Lân (tức Nguyễn Trường Tộ). Với trí thông minh hiếm có, lại được gợi ý và được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và tận tụy của Giám mục Gauthier, nho sĩ Bắc Kỳ này, vì tình yêu Thiên Chúa, đã nhận đứng ra đốc suất công việc. Thời đó ở Sài Gòn chưa có một công trình nào làm kiểu mẫu. Với đề án của tu viện và nhà nguyện do nữ tu Benjamin cung cấp, ông ta đã phác họa được một họa đồ phối cảnh chung và thực hiện công trình nhờ sự cộng tác của các công nhân người Việt. Chính ông đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom công việc một cách rất cẩn thận và chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ cũng như chưa có nhà thầu…”.

Tác Giã : Lê Văn Nghĩa

Gia Định Báo – Số 3 năm thứ hai (tháng ba 1866)

329 views

Được xuất bản vào năm 1865 nhưng chỉ có những số từ năm 1866 của Gia Định Báo được lưu trữ như một di sản văn hóa thế giới ở Thư viện Quốc gia Pháp.

Đây là số 3 được phát hành vào tháng ba năm 1866.

Gia-Định-Báo-Số-3-Tháng-3-1866

Em ơi, Sài Gòn… bến Bạch Đằng !

501 views

Sài Gòn là thành phố có nhiều sông rạch nên bến nhiều vô kể. Nhưng từ bến trong bài hát Sài Gòn đẹp lắm của nhạc sĩ Y Vân gần như được mặc định là bến Bạch Đằng mà người Sài Gòn ai cũng hiểu.

Dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai/ Từ xa thấp thoáng muôn tà áo tung bay/ Nếp sống vui tươi nối chân nhau đến nơi này/ Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi…”.

Trước năm 1975, bến Bạch Đằng là con đường dọc bờ sông Sài Gòn, đoạn từ Nhà máy Ba Son đến đầu đường Hàm Nghi nối với đường Bến Chương Dương. Sau năm 1975, đường Bến Bạch Đằng đổi thành đường Tôn Đức Thắng (nối thêm một đoạn từ Nhà máy Ba Son đến đường Lê Duẩn mà trước năm 1975 là một đoạn của đường Cường Để)…

Sài Gòn xưa có nhiều con đường mang tên bắt đầu từ “bến” – những bến sông nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chẳng hạn, bến Bạch Đằng gắn liền với lịch sử ba lần đánh thắng quân xâm lược; bến Chương Dương và Hàm Tử là hai bến sông gắn với các chiến thắng quân Nguyên Mông vào thế kỷ 13…

Con đường Bến Chương Dương trước kia nối với đường Bến Bạch Đằng chạy dọc theo rạch Bến Nghé đến hết địa phận quận 1 giáp với quận 5 – nay là cầu Nguyễn Văn Cừ. Từ đây, đường này nối tiếp với đường Bến Hàm Tử chạy dọc theo kênh Tàu Hũ vào tới cầu Chà Và, Chợ Lớn.

Lại nhớ danh tướng Trần Quang Khải sau những chiến công hiển hách, khi về trí sĩ đã làm bài thơ có hai câu: “Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù…”. Năm 2010, khi đại lộ Đông Tây hoàn thành, đường Bến Chương Dương và Bến Hàm Tử trở thành một phần con đường mới mang tên Võ Văn Kiệt.

Bên kia rạch Bến Nghé, phía quận 4, vẫn còn con đường mang tên Bến Vân Đồn – cũng là một địa danh lừng lẫy trong công cuộc chống quân xâm lược Nguyên Mông gắn liền với danh tướng Trần Khánh Dư. Trước kia, Bến Vân Đồn là con đường nhỏ hẹp chạy dọc bờ rạch nhếch nhác đầy rác rến trôi lềnh bềnh dưới những căn nhà sàn tạm bợ, nằm cạnh đám ghe thuyền bán đủ thứ hàng hóa từ các tỉnh về…

Nhưng hiện nay, đường Bến Vân Đồn đã mở rộng thoáng đãng, hoành tráng, những nhà sàn trên rạch đã được giải tỏa, thay vào đó là một công viên cặp bờ sông chạy dài tới cầu Nguyễn Văn Cừ bắc từ quận 5 qua như một ngã ba nối với quận 8 và quận 4. Nhà đất trên đường Bến Vân Đồn bây giờ là đất vàng, bởi quận 4 bây giờ được coi như “quận Một phẩy”!

Bến Bạch Đằng những năm cuối 1950, đầu 1960 là nơi hẹn hò lý tưởng của những đôi tình nhân. Hoàng hôn buông xuống, các cặp tình nhân bình dân hẹn nhau ra các quán dọc bờ sông ngồi ăn bò bía, uống nước mía, nước ngọt hay ăn kem, vừa tâm sự vừa ngắm nhìn dòng sông Sài Gòn chảy hiền hòa.

Trong công viên dọc bờ sông có nhiều người tập thể dục hay tản bộ, hoặc có người sau khi tan sở đạp xe ra bến đứng hóng gió sông trước khi về nhà. “… Người ra thăm bến, câu chào nói lao xao…”. Lâu lâu lại có một con tàu lớn chạy qua hay mấy chiếc sà lan xình xịch chở bà con tiểu thương, công nhân tan ca chạy từ Bến Bạch Đằng qua Thủ Thiêm.

Bến Bạch Đằng - Nhà Hàng Mỹ Cảnh

Trước năm 1975, về cuối đường Bến Bạch Đằng gần đầu đường Hàm Nghi có hai nhà hàng nổi trên sông là Ngân Đình và Mỹ Cảnh thuộc loại sang trọng nhất nhì TP. Đến cuối những năm 1980, đầu 1990, trên Bến Bạch Đằng, đối diện tượng Trần Hưng Đạo xuất hiện “khách sạn nổi năm sao” của một tập đoàn nước ngoài – một biểu tượng của thời kỳ đổi mới và hòa nhập bấy giờ. Nhưng chỉ mấy năm sau thì tàu khách sạn nổi dời đi, chút kỷ niệm một thời còn lại là tiền sảnh tiếp tân và khoảnh sân hòa nhập vào cái hồn cốt của Công viên Bến Bạch Đằng hôm nay.

Tác giã : Thạm Đình

Những tấm ảnh độc về người nghèo ở Sài Gòn năm 1965

421 views

Sài Gòn thường được nhắc đến như một “Hòn Ngọc Viễn Đông” với những đường phố, biệt thự hào nhoáng nhưng song song với sự phát triễn của thủ đô miền Nam trước 1975 là những sự đau thương đầy nước mắt của thành phần người nghèo mà ít người nhắc đến.

Sau đây là loạt ảnh của cựu binh Mỹ Thomas W. Johnson chụp vào năm 1965.

Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Với những người nghèo nhất, mái nhà của họ có thể chỉ là những ống cống bằng bê tông. Đây đa phần là những người phải di cư do chiến sự.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
hu ổ chuột ở Chợ Lớn nhìn từ máy bay, nơi sinh sống của hàng trăm nghìn người nghèo trong những ngôi nhà tạm làm bằng vật liệu thô sơ.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Những ngôi nhà tạm bợ bên bờ kênh Bến Nghé.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Người dân của các xóm nghèo Sài Gòn làm đủ nghề để kiếm sống trên đường phố, như đi bán mía ghim dạo…
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
…Hay làm lao công.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Một người lái đò chở khách qua sông Sài Gòn.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Hai mẹ con người vô gia cư mắc võng nằm bên vỉa hè Sài Gòn.

Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975

378 views

Trước năm 1975, bến Bạch Đằng là con đường dọc bờ sông Sài Gòn ở khu vực trung tâm quận 1, đoạn từ Nhà máy Ba Son đến đầu đường Hàm Nghi nối với đường Bến Chương Dương.

Bến Bạch Đằng những năm cuối 1950, đầu 1960 là nơi hẹn hò lý tưởng của những đôi tình nhân. Cùng xem loạt ảnh về bến Bạch Đằng giai đoạn trước 1975.

Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Bến Bạch Đằng, đoạn gần rạch Bến Nghé (phía trên), phía đối diện là khách sạn Majestic (bên phải), tháng 5/1968
© Bettmann/ CORBIS
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Một góc bến Bạch Đằng năm 1972
© Habans Patrice
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Bến Bạch Đằng, đoạn gần rạch Bến Nghé (phía trên), phía đối diện là khách sạn Majestic (bên phải), tháng 5/1968
© Bettmann/ CORBIS
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Khung cảnh thanh bình ở bến Bạch Đằng năm 1961, nhìn từ khách sạn Majestic
© Wilbur E. Garrett/ National Geographic/ Getty Images
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Công viên Bến Bạch Đằng, thập niên 1960
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Tàu quân sự Hàn Quốc neo đậu ở bến Bạch Đằng, 1967
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Trẻ em bơi lội gần nhà hàng Mỹ Cảnh, 1962 – 1963
© Ken Schumacher
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Bốc dỡ gỗ từ thuyền ở bến Bạch Đằng, thập niên 1960

Gia Định Báo – Số 2 năm thứ hai (tháng hai 1866)

311 views

Sau khi Pháp chiếm lục tỉnh Nam kỳ, trong thời gian 1862 – 1864, lần lượt ba tờ báo tiếng Pháp, tiếng Trung ra đời. Đó là tờ Le Bulletin officiel de l’Expédition de la Cochinchine (Nam Kỳ viễn chinh công báo) ra ngày 29.9.1861, tờ Le Bulletin des Communes (Xã thôn công báo) xuất hiện năm 1862, báo này dùng chữ Hán làm phương tiện, rồi tiếp đến là tờ Le courrier de Saigon (Sài Gòn thư tín) ra ngày 1.1.1864. Còn riêng về Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ được xuất bản, ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn.

Những năm đầu, tờ báo do một người Pháp là Ernest Potteaux làm tổng tài và chỉ là bản dịch của tờ Le Courrier de Saigon. Phải đợi đến năm 1869, Trương Vĩnh Ký thay Potteaux làm giám đốc, trông coi việc biên tập, tờ báo mới trở thành tờ báo bằng tiếng Việt chính thức và đầu tiên của Việt Nam.

Đây là số 2 được phát hành vào tháng hai năm 1866.

Gia-Định-Báo-Số-2-Tháng-2-1866

Gia Định Báo – Số 1 năm thứ hai (tháng giêng 1866)

268 views

Gia Định Báo (嘉定報) được cho là tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt mới (chữ Quốc ngữ), được sáng lập bởi Trương Vĩnh Ký (còn biết dưới tên Petrus Ký), được ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn. Đây là phương tiện truyền thông hoàn toàn mới mẻ khi đó, làm cho chữ Quốc ngữ có cơ hội phổ biến trong dân chúng.

Những số đầu tiên được phát hành vào năm 1865 đã bị thất lạc, những số sau từ năm 1866 vẫn còn được lưu trữ ở thư viện quốc gia Pháp. Thời gian đầu, báo ra mỗi tháng 1 kỳ vào ngày 15 hàng tháng. Sau đó mỗi tháng 2 kỳ, rồi mỗi tuần 1 kỳ, tuy nhiên ngày ra báo của Gia Định Báo không cố định, khi thì Thứ Ba, Thứ Tư, lúc lại Thứ Bảy. Số trang của Gia Định Báo cũng không cố định, khi thì 4 trang, lúc 12 trang.

Đây là số 1 được phát hành vào tháng giêng năm 1866.

Gia-Định-Báo-Số-1-Năm-1866