Sài Gòn

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những vay mượn từ tiếng Pháp

59 views

Sang đến thời kỳ “một trăm năm đô hộ giặc Tây”. Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã trở thành thuộc địa của Pháp. Cũng vì thế, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội và đời thường của người Việt.

Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, nổi bật nhất là văn hóa Pháp.

Khi chiếm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá Nho giáo sang văn hoá Phương Tây. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Linh mục Alexandre de Rhodes

Đối với người bình dân, việc tiếp nhận tiếng Pháp đến một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nói “Cắt tóc, thui dê” để chỉ ngày Quốc khánh Pháp 14/7, Quatorze Juliet. Người ta có thể dùng tiếng Tây “bồi” nhưng lại không cảm thấy xấu hổ vì vốn liếng tiếng Pháp của mình vốn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để tả con cọp, người ta có thể dài dòng văn tự: “tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng (jaune), một chút màu đen (noir), nó ăn thịt ông (monsieur), nó ăn thịt cả tôi (moi).

Nhân đây cũng xin nói thêm về những đại danh từ nhân xưng như toa (anh, mày – toi), moa hay mỏa (tôi, tao – moi), en hay ẻn (cô ấy, chị ấy – elle), lúy hay lủy (anh ấy, hắn – lui), xừ hay me-xừ (ông, ngài – monsieur)… Học trò trường Tây, những nhà trí thức khoa bảng hay cả những kẻ tỏ ra “thời thượng” ngày xưa thường dùng những đại từ này. Cũng vì thế có một câu mang tính cách châm chọc: “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn tiểu quá nên moa phải… trên đầu toa” (toa ở đây có 2 nghĩa: toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi (anh) trong tiếng Pháp).

Nói thêm về hỏa xa, người Pháp xây dựng đường xe lửa đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1881. Đây là đoạn đường ray (rail) từ Cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn, dài 13km. Mãi đến năm 1885 chuyến xe lửa đầu tiên mới được khởi hành và một năm sau, tuyến đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71km bắt đầu hoạt động. Sau đó, mạng lưới đường sắt được xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, dùng kỹ thuật của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Tính đến năm 1975 miền Nam có khoảng 1.240km đường ray nhưng vì chiến cuộc nên chỉ được sử dụng khoảng 60%.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Nhà ga xe lửa cạnh đầu đường Lê Lai (1931)

Nhà ga cũng có xuất xứ từ tiếng Pháp gare. Ga là công trình kiến trúc làm nơi cho tàu hoả, tàu điện hay máy bay đỗ để hành khách lên xuống hoặc để xếp dỡ hàng hoá. Từ sự vay mượn này ta có thêm những từ ngữ như sân ga, trưởng ga, ga chính, ga xép… Nhân nói về ga tưởng cũng nên nhắc lại động từ bẻ ghi (aiguiller) tức là điều khiển ghi (aiguille) cho xe lửa chuyển sang đường khác. Trong tiếng Việt, bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Ga Đà Lạt (1938)

Có những từ ngữ xuất xứ từ tiếng Pháp nhưng vì lâu ngày dùng quen nên người ta cứ tưởng chúng là những từ “thuần Việt”. Chẳng hạn như cao su (caoutchouc), một loại cây công nghiệp được người Pháp du nhập vào Việt Nam qua hình thức những đồn điền tại miền Nam. Ngôn ngữ tiếng Việt rất linh động trong cách dùng từ ngữ cao su qua các biến thể như giờ cao su (giờ giấc co dãn, không đúng giờ), kẹo cao su (chewing-gum)…

Nhà băng (banque) là một chữ quen dùng trong ngôn ngữ hàng ngày còn xà bông cũng là loại chữ dùng lâu ngày thành quen nên ít người để ý xuất xứ của nó là từ tiếng Pháp, savon. Ở miền Bắc, xà bông được cải biên thành xà phòng, là chất dùng để giặt rửa, chế tạo bằng cách cho một chất kiềm tác dụng với một chất béo. Nổi tiếng ở Sài Gòn xưa có xà bông Cô Ba của Trương Văn Bền, dùng dầu dừa làm nguyên liệu chính.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Ngân Hàng Đông Dương nhìn từ phía sau góc Tôn Thất Đạm-Nguyễn Công Trứ

Chúng ta thấy ngôn ngữ Việt vay mượn từ tiếng Pháp trong rất nhiều lãnh vực. Về ẩm thực, tiếng Việt thường mượn cả cách phát âm đến tên của các món ăn có xuất xứ từ phương Tây. Vào nhà hàng, người phục vụ đưa ra mơ-nuy (thực đơn – menu) trong đó có những món như bít-tết (chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh – beefsteak), những thức uống như bia (rượu bia – bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon), rượu vang (rượu nho – vin)…

Về thịt thì có xúc-xích (saucisse), pa-tê (paté), giăm-bông (jambon), thịt phi-lê (thịt thăn, thịt lườn – filet). Các món ăn thì có ra-gu (ragout), cà-ri (curry)… Khi ăn xong, khách xộp còn cho người phục vụ tiền puộc-boa (tiền thưởng – pourboire). Ngày nay từ boa hay bo được dùng phổ biến với ý nghĩa cho tiền thưởng, hay còn gọi là tiền phong bao hoặc tiền phục vụ.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Bánh Pâté Chaud

Từ rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp. Có nhiều loại bánh đặc biệt như bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài – baguette), bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud), bánh croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant).

Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà như ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat), trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette) hoặc trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque).

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Cà phê Brodard trên đường Catinat

Món không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê (café). Cà phê phải được lọc từ cái phin (filtre à café) mới đúng điệu. Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn nhiều người đã mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình”: “cái nồi ngồi trên cái cốc”.

Ngôn ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi (chemise), cổ tay có cài khuy măng-sét (manchette). Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì mặc áo vét (vest) hay bộ vét-tông (veston) kèm theo chiếc cà-vạt (cravate) trên cổ áo sơ mi. Trời hơi lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê (gilet) và hai tay mang găng (gants) cho ấm.

Ngay cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ thì mang xú-chiêng (nịt ngực – soutien-gorge) và xì-líp (slip). Nam giới thì mặc áo may-ô (maillot) bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya (dây nịt – ceinture) và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts).

Trang phục có thể được may từ các loại cô-tông (vải bông – coton) hoặc bằng len (làm từ lông cừu – laine). Trên đầu có mũ phớt (feutre, một loại mũ dạ), mũ be-rê (béret, một loại mũ nồi)… dưới chân là đôi dép săng-đan (sandales), sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc).

Đi lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá (giày của lính – soldat). Loại lính nhảy dù, biệt kích (ngày nay là đặc công) gọi là còm-măng-đô (commando). Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!). Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được dùng chỉ những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu thông.

Xưa kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên: mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui), sen đầm (gendarme), phú-lít (police), ông cò (commissaire)… Lực lượng thuế quan (ngày nay gọi là hải quan) được gọi là đoan (douane), lính đoan còn có nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp thuộc.

Nông phẩm thì có đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert), đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois), bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ (bông cải – chou-fleur), xà lách (salade), cải xoong (còn gọi là xà lách xoong – cresson), cà-rốt (carotte), ác-ti-sô (artichaut)…

Tiếng Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica (khẩu cầm)… Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường – dancing) luôn có ọc-két (ban nhạc – orchestre) chơi nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve (gái nhẩy – cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Vũ trường Maxim’s trên đường Tự Do cạnh khách sạn Majestic

Người phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ tiếng Việt những từ ngữ như bơ (beurre), pho-mát (fromage), kem (crème)… Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai nhãn hiệu sữa Ông Thọ (Longevity) và Con Chim (Nestlé) như đã nói ở phần trên.

Có người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi thọ (longévité) của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy. Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim (gồm chim mẹ và 2 chim con) nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim cho tiện.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Trụ sở hãng sữa Nestlé (sữa Con chim) trên đường Công Lý

Thế mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng (Lait Mont-Blanc) và sữa bột Guigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn vụng một thìa Guigoz của em út: vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ ly ty như tan ngay trong miệng.

Sữa bột Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ đo lường. Khi dùng hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng đường, muối, tiêu, bột ngọt…

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Logo hình tổ chim của hãng sữa Nestlé

Những người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz đã theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người “tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để phòng khi cần đến.

Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”. Học tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu”. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc măng (lấy ở trên rừng), luộc rau, luộc khoai mỳ (“chôm chỉa” khi đi “tăng gia sản xuất”)… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp núc.

Chúng tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn (Tây Ninh) nên có cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm nuôi”.

Sau 30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975.

Tình cờ tôi bắt gặp trang web của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới 15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có sữa!

Người Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô (xe hơi – auto, automobile). Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven (manivelle) đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có bộ phận đề-ma-rơ (khởi động – démarreur). Sau khi đề (demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe – chauffeur) sẽ cầm lấy vô-lăng (bánh lái – volant) để điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như cờ-lê (chìa vặn – clé), mỏ-lết (molete), đinh vít (vis), tuốc-nơ-vít (cái vặn vít – tournevis), công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur), công tắc (cầu dao – contact)…

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Công ty xe hơi Pháp Citroen (REX Hotel Saigon) 1927

Bây giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có guy-đông (thanh tay lái – guidon), dưới chân có pê-đan (bàn đạp – pedale), săm (ruột bánh xe – chambre à air) và phía sau là bọc-ba-ga (để chở hàng hóa – porte-bagages).

Chi tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên (dây xích – chaine), có líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre), rồi phanh (thắng – frein) ở cả bánh trước lẫn bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu (thanh chắn bùn – garde-boue) và gạc-đờ-sên (thanh che dây xích – garde-chaine).

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Xe hơi trên đường Nguyễn Huệ

Mỗi chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm (pompe) để phòng khi lốp xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô (dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). Tôi còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục man châm gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện.

Hồi xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling… Đó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa.

Tác giã : Nguyễn Ngọc Chính

Gia Định Báo – Số 6, năm thứ hai (tháng sáu 1866)

130 views

Mời các bạn đọc số 6 của Gia Định Báo, ra mắt vào tháng sáu năm 1866. Gia Định Báo là báo đầu tiên bằng tiếng quốc ngữ của Việt Nam.

Gia-Định-Báo-–-Số-6-năm-thứ-hai-tháng-sáu-1866

Bạn cũng có thể tải báo để đọc trên những thiết bị đọc sách như Kindle (Amazon)… bằng cách bấp vào những links sau đây tùy theo dạng :

Dạng EPUB : http://ul.to/6nmjsbai

Dạng Kindle : http://ul.to/f7sbej64

Dạng MOBI : http://ul.to/cvw9xycp

Gia Định Báo – Số 5, năm thứ hai (tháng năm 1866)

204 views

Gia Định Báo (嘉定報) là tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt mới (chữ Quốc ngữ), được sáng lập bởi Trương Vĩnh Ký, được ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn.

Đây là số thứ 5 được phát hành vào tháng năm năm 1866.

Gia-Định-Báo-–-Số-4-năm-thứ-hai-tháng-tư-1866

Ngã Tư Hàng Sanh (Sài Gòn) trước năm 1975

294 views

Ngã Tư Hàng Sanh là một giao lộ đồng mức thuộc loại hiện đại nhất của Sài Gòn trước biến cố 1975. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu thông tin và khám phá hình ảnh về địa điểm mang tên cây này tại Sài Gòn xưa.

Lý giải về tên gọi Hàng Xanh, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trước năm 1945 khu vực này trồng nhiều cây sanh. Cây Sanh được trồng dọc hai bên đường Bạch Đằng ngày nay kéo dài đến ngã tư này.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn
Hàng Xanh 1967

Sanh là tên một loại cây lớn có họ hàng với cây đa, cây đề, cây si… (họ Ficus). Xưa trên con đường đi từ đường Thiên Lý (đường Cái Quan), chổ gần cầu Sơn, đi băng qua rạch Cầu Bông đến lăng Ông – Bà Chiểu, hai bên đường có trồng hàng cây Sanh, do vậy đường có tên là Hàng Sanh, nay là đường Bạch Đằng. Cho đến khoảng thập niên 40 vẫn còn cây này ở ven đường. Trên Bản đồ đô thành Sài Gòn năm 1962 thì đoạn đầu của đường Bạch Đằng vẫn còn ghi tên là đường Hàng Sanh.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn
Bảng chỉ dẫn tên đường ở Ngã 4 Hàng Xanh. Đi thẳng là qua cầu Tân Cảng để đi Biên Hòa, quẹo trái về tỉnh Gia Định, Bà Chiểu, quẹo phải về trung tâm Sài Gòn

Sài Gòn xưa là rừng, đến giữa thế kỷ XX vẫn còn nhiều vết tích. Người dân bản xứ thường đặt tên những địa danh bằng tên các loài cây như : cây Vắp, cây Củ Chi, cây Sanh, cây Quéo, cây Thị, cây Da Sà, cây Sơn (có cầu Sơn gần ngã tư Hàng Sanh), cây Gõ, cây Xoay, … và cây Gòn (Sài Gòn).

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Trước thập niên 1960, chỗ này mang tên là Ngã 3 hàng Sanh. Đến đầu thập niên 1960, sau khi cầu Tân Cảng (nay là cầu Sài Gòn) được xây dựng, có thêm một nhánh đường đi Biên Hòa được gọi là Xa Lộ Biên Hòa, thì chỗ này mới thành Ngã Tư Hàng Sanh.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Vào thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, ít người biết được đây là một giao lộ đồng mức thuộc loại hiện đại nhất Á Châu thời ấy, với hệ thống dải phân cách, phân luồng và đèn tín hiệu giao thông được cách âm chôn hoàn toàn dưới lòng đất và vẫn còn sử dụng tốt cho đến năm 1995…

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Ngày trước, ngã tư Hàng Sanh đặt một chiếc đồng hồ mà ai đi qua cũng thấy. Bây giờ những chiếc đồng hồ công cộng ấy chỉ còn lại ở vài ngã tư. Trước tình hình giao thông cấp bách, vòng xoay của ngã tư Hàng Sanh bị đập bỏ, nhường chỗ cho cây cầu vượt bằng thép xuyên ngang. Chiếc đồng hồ và vòng xoay biến mất, chỉ còn lại trong hoài niệm của nhiều người.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn
Đồng hồ ở vòng xoay Nguyễn Bỉnh Khiêm (Q.1), chỉ cách ngã tư Hàng Xanh (Q. Bình Thạnh) khoảng 1 km
)Ảnh: Từ Tấn Phát)

Nhà thơ Kiên Giang – Hà Huy Hà khi lên Sài Gòn học, năm 1943 ông ở trọ tại Hàng Sanh; sau đó ông có sáng tác bài thơ “Nhạc Xe Bò”, có đoạn :

Đêm xưa trăng mới đứng đầu
Đoàn xe bò đã qua cầu Hàng Sanh
Nhạc xe bò rộn âm thanh
Khô khan mà thảm, mong manh mà sầu
Bánh xe lốc cốc
Lên dốc đầu cầu

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Tổng hợp

Gia Định Báo – Số 4 năm thứ hai (tháng tư 1866)

178 views

Gia Định báo phát hành trong phạm vi vùng chiếm đóng của thực dân Pháp lúc đó là 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ.

Nội dung chính của Gia Định báo ban đầu gồm 2 phần: công vụ và tạp vụ. Phần công vụ chuyên về các vấn đề chính trị, pháp lý, công quyền, đăng các công văn, nghị định, thông tư, đạo dụ của chính quyền thực dân; còn phần tạp vụ gồm các tin tức địa phương trên các lĩnh vực: kinh tế, tôn giáo, văn hóa – xã hội…

Đây là số 4 được phát hành vào tháng tư năm 1866.

Gia-Định-Báo-–-Số-4-năm-thứ-hai-tháng-tư-1866

Nhà dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

235 views

Với kiến trúc nhà dòng Saint Paul, chúng ta tự hào rằng tại Sài Gòn năm 1864 đã có một công trình kiến trúc kiên cố đầu tiên lại do chính kiến trúc sư người Việt thiết kế và xây dựng.

Khi đi ngang ngôi nhà trắng tại số 4 Tôn Đức Thắng, quận 1 (trước là Cường Để) mọi người chỉ biết đây là một nữ tu viện. Tòa nhà này trước kia còn được gọi là “Nhà Trắng”, không phải vì sơn toàn màu trắng như tòa Bạch Ốc (White House) mà vì ngôi nhà này được xây dựng và làm chủ bởi những nữ tu dòng Saint Paul de Chartres (Thánh Phaolô thành Chartres) “trinh bạch từ linh hồn đến những chiếc áo dòng trắng toát”. Trước năm 1975, trong nhà dòng này có một trường tư thục với các lớp từ mẫu giáo tới tú tài với số lượng 1.600 học sinh (có ký túc xá cho học sinh nội trú).

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Kiến trúc ban đầu của Dòng Thánh Phao Lô Sài Gòn (1866)

Sau năm 1975, có một thời gian là trường sư phạm mầm non. Nếu ai có dịp vào đây sẽ choáng ngợp với không gian rộng rãi, khoáng đãng với kiến trúc ba khối nhà: cô nhi viện, nhà nữ tu ở và khu nhà nguyện. Khu nhà nguyện có thiết kế đặc biệt, nhìn từ trên cao xuống rất giống cây thánh giá, bên trong có thêm nhiều cột đỡ vững chãi, phía trước là một sân cỏ rộng với tượng thánh bổn mạng của dòng Phaolô.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Một thiết kế theo nhận định của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ: “Một giáo đường huy hoàng với đường nét thẩm mỹ lối Gothique. Các khu vòm hình liềm cung, đua nhau vượt lên tới 20 thước, không một chút chạm trổ hoa hòe… Làm cho khách tưởng nhớ đến giáo đường “Sainte Chapelle”… Cảm tưởng nhẹ nhàng vì sự thành công của vị kiến trúc sư làm cho ai vào đó cũng cảm thấy thoát tục”.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Kiến trúc sư “thầy Học”

Theo các tài liệu lịch sử truyền giáo, vào ngày 20-5-1860, các nữ tu dòng Thánh Phaolô gốc ở thành Chartres (Soeurs de Saint Paul de Chartres) từ Hong Kong đặt chân đến Sài Gòn. Họ cùng tạm định cư tại một căn nhà nhỏ vùng chợ cũ cùng các nữ tu dòng kín (đến Sài gòn năm 1861). Vào tháng 9-1862, mẹ bề trên dòng thánh Phaolô Benjamin khởi công xây cất nhà giám tỉnh tại khu đất Đường Thành (Rue de la Citadelle). Toàn bộ công trình này hoàn thành vào ngày 10-8-1864. Và trong bản thảo viết tay của mẹ Benjamin chỉ ghi lại tên kiến trúc sư là Thầy Học.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Không ảnh Dòng Thánh Phaolô năm 1929

Lúc ấy các bà phước chẳng biết kiến trúc sư “Thầy Học” là ai. Không biết trước đây đã có tài liệu nào xác minh Thầy Học là ai chưa. Riêng cụ Vương Hồng Sển trong quyển Sài Gòn năm xưa in năm 1958 cho biết: “Tương truyền nhà lầu cao lớn nơi đây là do ông Nguyễn Trường Tộ năm xưa đứng coi xây cất”. Vậy Thầy Học hay ông Nguyễn Trường Tộ là người thiết kế, xây cất tòa nhà này? Trong tạp chí Văn Đàn (số 4-1961, Sài Gòn) ông Phạm Đình Khiêm đã công bố nhiều tài liệu trong thư khố tu viện đã chứng minh Thầy Học chính là ông Nguyễn Trường Tộ.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Không ảnh Dòng Thánh Phaolô năm 1929

Trước hết, các soeur gọi ông Nguyễn Trường Tộ là Thầy Học vì ông đã từng làm thầy dạy học cho nhà chung. Cách gọi này đã được ghi một cách chính thức trong một tập tài liệu viết tay tên là La Création des Établisements des Soeurs de Saint Paul de Chartres en Extrême-Orient (Ký sự về việc thành lập các cơ sở dòng Nữ tu thánh Phaolô thành Chartres tại Viễn Đông) do mẹ Benjamin, người sáng lập “Nhà Trắng” soạn thảo.

“… Được khu đất tốt đẹp như vậy lại chán cảnh tạm bợ nhiều khi còn tốn kém hơn, bà bề trên bèn quyết định xây nhà vững chắc. Bà bàn tính công việc xây cất ấy với Đức cha Gauthier và cha Croc, các vị ấy đồng ý rằng khi trở về đàng ngoài, sẽ để Thầy Học ở lại điều khiển các công tác”.

Trong ký sự còn xác định: “Ông là một giáo hữu Đàng-Ngoài”. Điều này đã xác nhận thời gian sau khi thôi học, ông Nguyễn Trường Tộ mở trường dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ Hán trong nhà chung Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Tại đây, năm 1846 ông được giám mục người Pháp tên là Gauthier dạy học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu biết về các môn khoa học thường thức của phương Tây. Cuối năm 1858, ông đi cùng Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn “phân sáp” (sáp nhập hai, ba gia đình Công giáo vào trong một làng không Công giáo, chứ không cho ở tập trung như trước). Đầu năm 1859, Giám mục Gauthier đưa ông sang Hương Cảng (Hong Kong) và Pháp. Trong tập Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ do con ông là Nguyễn Trường Cửu ghi chép giai đoạn ông Nguyễn Trường Tộ đi Pháp như sau: “Rồi sang nước đại Pháp, ở kinh thành Ba Lê, là kinh đô, đi du lịch xem chính trị, học hành, kỹ nghệ, phong tục nước đại Pháp. Khi nghe “lặng sáp” rồi (ý nói chấm dứt tình trạng phân sáp như nói ở trên – LVN) thì Đức cha Hậu lại đem ông Tộ và các cụ về nhà chung”.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Vẫn theo ông Cửu thì chính mẹ bề trên phải thỏa thuận với Đức cha Hậu để xây cất Nhà Trắng. Câu hỏi đặt ra là tại sao mẹ Bejamin lại chọn Nguyễn Trường Tộ mà không chọn những kiến trúc sư Pháp vì chính Nguyễn Trường Tộ đã chứng minh được với mẹ bề trên và Đức cha là một người có khả năng về kiến trúc khi về nhà chung (Xã Đoài) đã “làm lại nhà hai tầng cho Cố giữ việc ở và nhà Tràng Latin ba tầng hình chữ thập gọi là “nhà tây” cho học trò Latin ở và học cùng làm nhà thờ Đức Bà riêng cho học trò, theo mẫu nhà thờ Đức Bà hiện ra thành Lộ Đức (Lourdes) đẹp lắm và ở ngoài xây tường cải hoa lộng, giống các sắc hoa tây nam rực rỡ xanh tươi vui mắt, rầy (bây giờ) hư rồi. Đoạn tậu vườn làm nhà ở phía bắc nhà chung, rồi vào Gia Định làm sở nhà bà phước cho các người nhà mụ Tây ở…”.

Theo tác giả Trương Bá Cần, trong các công trình do Nguyễn Trường Tộ xây cất ở Xã Đoài, nay chỉ còn lại nhà tràng Latin (tức tiểu chủng viện) ba tầng, hình chữ thập gọi là “nhà Tây”, chứ tòa giám mục và các nhà phụ thuộc đều đã bị bom Mỹ đánh sập.

Dấu ấn kiến trúc tại Sài Gòn

Riêng Giám mục Gauthier thường gọi Nguyễn Trường Tộ bằng danh hiệu “kiến trúc sư”, mặc dù ông Tộ chưa một ngày học qua ngành kiến trúc như trong thư gửi Hội Truyền giáo nước ngoài ở Paris (đề ngày 1-1-1870), Giám mục Gauthier viết: “… Người ta quen gọi là kiến trúc sư vì ông ta (chỉ ông Tộ) đã xây ngôi nhà ba tầng của các nữ tu Sài Gòn, một nhà nguyện và một ngọn tháp cao nổi bật…” (dẫn lại theo Nguyễn Bá Cần). Có lẽ do thiên bẩm, óc quan sát, thực nghiệm khi được ra nước ngoài trước kia, ông có ở Hong Kong ít lâu và trong thời gian ngắn ngủi tại thuộc địa này của người Anh, ông đã thấy được cách thức và thể loại kiến trúc của châu Âu. Trước đó, ông đã được ngợi ca là một kiến trúc sư tài năng trong quyển II, trang 731 của tạp chí La Semaine religieuse (Paris, năm 1867):

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Người Đông phương ở trong phái ủy thì có hai ông quan và một người kiến trúc sư Công giáo, có trí nhớ lạ lùng, tài năng lỗi lạc và chính là người đã xây giáo đường của ta ở Sài Gòn”. Hai ông quan là Nguyễn Tăng Doãn và Trần Văn Đạo, còn người kiến trúc sư tài năng lỗi lạc ấy chính là ông Nguyễn Trường Tộ. Linh mục Le Mée (thừa sai Paris) trong một bức thư đăng trên tập san Missions Catholiques năm 1876 có nói về công việc ấy như sau: “Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc đã đem theo một nho sĩ Bắc Kỳ, tên là Lân (tức Nguyễn Trường Tộ). Với trí thông minh hiếm có, lại được gợi ý và được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và tận tụy của Giám mục Gauthier, nho sĩ Bắc Kỳ này, vì tình yêu Thiên Chúa, đã nhận đứng ra đốc suất công việc. Thời đó ở Sài Gòn chưa có một công trình nào làm kiểu mẫu. Với đề án của tu viện và nhà nguyện do nữ tu Benjamin cung cấp, ông ta đã phác họa được một họa đồ phối cảnh chung và thực hiện công trình nhờ sự cộng tác của các công nhân người Việt. Chính ông đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom công việc một cách rất cẩn thận và chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ cũng như chưa có nhà thầu…”.

Tác Giã : Lê Văn Nghĩa

Gia Định Báo – Số 3 năm thứ hai (tháng ba 1866)

186 views

Được xuất bản vào năm 1865 nhưng chỉ có những số từ năm 1866 của Gia Định Báo được lưu trữ như một di sản văn hóa thế giới ở Thư viện Quốc gia Pháp.

Đây là số 3 được phát hành vào tháng ba năm 1866.

Gia-Định-Báo-Số-3-Tháng-3-1866

Em ơi, Sài Gòn… bến Bạch Đằng !

225 views

Sài Gòn là thành phố có nhiều sông rạch nên bến nhiều vô kể. Nhưng từ bến trong bài hát Sài Gòn đẹp lắm của nhạc sĩ Y Vân gần như được mặc định là bến Bạch Đằng mà người Sài Gòn ai cũng hiểu.

Dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai/ Từ xa thấp thoáng muôn tà áo tung bay/ Nếp sống vui tươi nối chân nhau đến nơi này/ Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi…”.

Trước năm 1975, bến Bạch Đằng là con đường dọc bờ sông Sài Gòn, đoạn từ Nhà máy Ba Son đến đầu đường Hàm Nghi nối với đường Bến Chương Dương. Sau năm 1975, đường Bến Bạch Đằng đổi thành đường Tôn Đức Thắng (nối thêm một đoạn từ Nhà máy Ba Son đến đường Lê Duẩn mà trước năm 1975 là một đoạn của đường Cường Để)…

Sài Gòn xưa có nhiều con đường mang tên bắt đầu từ “bến” – những bến sông nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chẳng hạn, bến Bạch Đằng gắn liền với lịch sử ba lần đánh thắng quân xâm lược; bến Chương Dương và Hàm Tử là hai bến sông gắn với các chiến thắng quân Nguyên Mông vào thế kỷ 13…

Con đường Bến Chương Dương trước kia nối với đường Bến Bạch Đằng chạy dọc theo rạch Bến Nghé đến hết địa phận quận 1 giáp với quận 5 – nay là cầu Nguyễn Văn Cừ. Từ đây, đường này nối tiếp với đường Bến Hàm Tử chạy dọc theo kênh Tàu Hũ vào tới cầu Chà Và, Chợ Lớn.

Lại nhớ danh tướng Trần Quang Khải sau những chiến công hiển hách, khi về trí sĩ đã làm bài thơ có hai câu: “Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù…”. Năm 2010, khi đại lộ Đông Tây hoàn thành, đường Bến Chương Dương và Bến Hàm Tử trở thành một phần con đường mới mang tên Võ Văn Kiệt.

Bên kia rạch Bến Nghé, phía quận 4, vẫn còn con đường mang tên Bến Vân Đồn – cũng là một địa danh lừng lẫy trong công cuộc chống quân xâm lược Nguyên Mông gắn liền với danh tướng Trần Khánh Dư. Trước kia, Bến Vân Đồn là con đường nhỏ hẹp chạy dọc bờ rạch nhếch nhác đầy rác rến trôi lềnh bềnh dưới những căn nhà sàn tạm bợ, nằm cạnh đám ghe thuyền bán đủ thứ hàng hóa từ các tỉnh về…

Nhưng hiện nay, đường Bến Vân Đồn đã mở rộng thoáng đãng, hoành tráng, những nhà sàn trên rạch đã được giải tỏa, thay vào đó là một công viên cặp bờ sông chạy dài tới cầu Nguyễn Văn Cừ bắc từ quận 5 qua như một ngã ba nối với quận 8 và quận 4. Nhà đất trên đường Bến Vân Đồn bây giờ là đất vàng, bởi quận 4 bây giờ được coi như “quận Một phẩy”!

Bến Bạch Đằng những năm cuối 1950, đầu 1960 là nơi hẹn hò lý tưởng của những đôi tình nhân. Hoàng hôn buông xuống, các cặp tình nhân bình dân hẹn nhau ra các quán dọc bờ sông ngồi ăn bò bía, uống nước mía, nước ngọt hay ăn kem, vừa tâm sự vừa ngắm nhìn dòng sông Sài Gòn chảy hiền hòa.

Trong công viên dọc bờ sông có nhiều người tập thể dục hay tản bộ, hoặc có người sau khi tan sở đạp xe ra bến đứng hóng gió sông trước khi về nhà. “… Người ra thăm bến, câu chào nói lao xao…”. Lâu lâu lại có một con tàu lớn chạy qua hay mấy chiếc sà lan xình xịch chở bà con tiểu thương, công nhân tan ca chạy từ Bến Bạch Đằng qua Thủ Thiêm.

Bến Bạch Đằng - Nhà Hàng Mỹ Cảnh

Trước năm 1975, về cuối đường Bến Bạch Đằng gần đầu đường Hàm Nghi có hai nhà hàng nổi trên sông là Ngân Đình và Mỹ Cảnh thuộc loại sang trọng nhất nhì TP. Đến cuối những năm 1980, đầu 1990, trên Bến Bạch Đằng, đối diện tượng Trần Hưng Đạo xuất hiện “khách sạn nổi năm sao” của một tập đoàn nước ngoài – một biểu tượng của thời kỳ đổi mới và hòa nhập bấy giờ. Nhưng chỉ mấy năm sau thì tàu khách sạn nổi dời đi, chút kỷ niệm một thời còn lại là tiền sảnh tiếp tân và khoảnh sân hòa nhập vào cái hồn cốt của Công viên Bến Bạch Đằng hôm nay.

Tác giã : Thạm Đình

Những tấm ảnh độc về người nghèo ở Sài Gòn năm 1965

210 views

Sài Gòn thường được nhắc đến như một “Hòn Ngọc Viễn Đông” với những đường phố, biệt thự hào nhoáng nhưng song song với sự phát triễn của thủ đô miền Nam trước 1975 là những sự đau thương đầy nước mắt của thành phần người nghèo mà ít người nhắc đến.

Sau đây là loạt ảnh của cựu binh Mỹ Thomas W. Johnson chụp vào năm 1965.

Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Với những người nghèo nhất, mái nhà của họ có thể chỉ là những ống cống bằng bê tông. Đây đa phần là những người phải di cư do chiến sự.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
hu ổ chuột ở Chợ Lớn nhìn từ máy bay, nơi sinh sống của hàng trăm nghìn người nghèo trong những ngôi nhà tạm làm bằng vật liệu thô sơ.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Những ngôi nhà tạm bợ bên bờ kênh Bến Nghé.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Người dân của các xóm nghèo Sài Gòn làm đủ nghề để kiếm sống trên đường phố, như đi bán mía ghim dạo…
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
…Hay làm lao công.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Một người lái đò chở khách qua sông Sài Gòn.
Cuộc sống người nghèo ở Sài Gòn năm 1965
Hai mẹ con người vô gia cư mắc võng nằm bên vỉa hè Sài Gòn.

Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975

187 views

Trước năm 1975, bến Bạch Đằng là con đường dọc bờ sông Sài Gòn ở khu vực trung tâm quận 1, đoạn từ Nhà máy Ba Son đến đầu đường Hàm Nghi nối với đường Bến Chương Dương.

Bến Bạch Đằng những năm cuối 1950, đầu 1960 là nơi hẹn hò lý tưởng của những đôi tình nhân. Cùng xem loạt ảnh về bến Bạch Đằng giai đoạn trước 1975.

Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Bến Bạch Đằng, đoạn gần rạch Bến Nghé (phía trên), phía đối diện là khách sạn Majestic (bên phải), tháng 5/1968
© Bettmann/ CORBIS
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Một góc bến Bạch Đằng năm 1972
© Habans Patrice
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Bến Bạch Đằng, đoạn gần rạch Bến Nghé (phía trên), phía đối diện là khách sạn Majestic (bên phải), tháng 5/1968
© Bettmann/ CORBIS
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Khung cảnh thanh bình ở bến Bạch Đằng năm 1961, nhìn từ khách sạn Majestic
© Wilbur E. Garrett/ National Geographic/ Getty Images
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Công viên Bến Bạch Đằng, thập niên 1960
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Tàu quân sự Hàn Quốc neo đậu ở bến Bạch Đằng, 1967
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Trẻ em bơi lội gần nhà hàng Mỹ Cảnh, 1962 – 1963
© Ken Schumacher
Những bức hình màu về Bến Bạch Đằng ở Sài Gòn trước 1975
Bốc dỡ gỗ từ thuyền ở bến Bạch Đằng, thập niên 1960

Gia Định Báo – Số 2 năm thứ hai (tháng hai 1866)

200 views

Sau khi Pháp chiếm lục tỉnh Nam kỳ, trong thời gian 1862 – 1864, lần lượt ba tờ báo tiếng Pháp, tiếng Trung ra đời. Đó là tờ Le Bulletin officiel de l’Expédition de la Cochinchine (Nam Kỳ viễn chinh công báo) ra ngày 29.9.1861, tờ Le Bulletin des Communes (Xã thôn công báo) xuất hiện năm 1862, báo này dùng chữ Hán làm phương tiện, rồi tiếp đến là tờ Le courrier de Saigon (Sài Gòn thư tín) ra ngày 1.1.1864. Còn riêng về Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ được xuất bản, ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn.

Những năm đầu, tờ báo do một người Pháp là Ernest Potteaux làm tổng tài và chỉ là bản dịch của tờ Le Courrier de Saigon. Phải đợi đến năm 1869, Trương Vĩnh Ký thay Potteaux làm giám đốc, trông coi việc biên tập, tờ báo mới trở thành tờ báo bằng tiếng Việt chính thức và đầu tiên của Việt Nam.

Đây là số 2 được phát hành vào tháng hai năm 1866.

Gia-Định-Báo-Số-2-Tháng-2-1866

Gia Định Báo – Số 1 năm thứ hai (tháng giêng 1866)

171 views

Gia Định Báo (嘉定報) được cho là tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt mới (chữ Quốc ngữ), được sáng lập bởi Trương Vĩnh Ký (còn biết dưới tên Petrus Ký), được ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn. Đây là phương tiện truyền thông hoàn toàn mới mẻ khi đó, làm cho chữ Quốc ngữ có cơ hội phổ biến trong dân chúng.

Những số đầu tiên được phát hành vào năm 1865 đã bị thất lạc, những số sau từ năm 1866 vẫn còn được lưu trữ ở thư viện quốc gia Pháp. Thời gian đầu, báo ra mỗi tháng 1 kỳ vào ngày 15 hàng tháng. Sau đó mỗi tháng 2 kỳ, rồi mỗi tuần 1 kỳ, tuy nhiên ngày ra báo của Gia Định Báo không cố định, khi thì Thứ Ba, Thứ Tư, lúc lại Thứ Bảy. Số trang của Gia Định Báo cũng không cố định, khi thì 4 trang, lúc 12 trang.

Đây là số 1 được phát hành vào tháng giêng năm 1866.

Gia-Định-Báo-Số-1-Năm-1866

Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở miền Nam Việt Nam

236 views

Nhìn lại khoảng thời gian những năm 60 của thế kỉ trước, hình ảnh những con người Việt nghèo khó ở miền Nam Việt Nam. Cùng với đó là những chiếc xe đạp, xe hơi chở khách, xe đò, xe lam, những bức ảnh cho chúng ta thấy các phương tiện giao thông ở Việt Nam hồi những năm 1960 rất đa dạng. Nhưng đó là những con người sống thật nhất, không có cảnh chen lấn xô đẩy như cuộc sống hiện tại.

Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN
Sống lại những năm 60 với chùm ảnh giao thông ở VN

Dinh Thượng Thơ: Giá trị không chỉ ở kiến trúc

196 views

Ngay khi phương án phá bỏ tòa nhà xưa, vốn có tên gọi “Dinh Thượng Thơ” được công bố ở một cuộc triển lãm vào cuối tháng 4.2018, nhiều ý kiến trên báo đài đã cảnh báo khả năng đánh mất một di sản quý mặc dầu tòa nhà chưa được xếp hạng di tích. Trên internet, hơn 7.000 người trong và ngoài nước đã nhanh chóng ký thỉnh nguyện thư online yêu cầu dừng việc phá bỏ.
Bài viết dưới đây tiếp tục đóng góp các tư liệu nghiên cứu mới về giá trị nhiều mặt của Dinh Thượng Thơ.

Giá trị ngay từ tên gọi Việt hóa

Có ý kiến cho rằng từ ngữ xưa “Dinh Thượng Thơ” có hơi hướm thực dân, đế quốc vì vậy không nên gọi (và từ đó không nên duy trì tòa nhà!). Nói như thế hoàn toàn “oan”, bởi tên gọi “Dinh Thượng Thơ” chính là từ dịch thuật Việt hóa của người Sài Gòn vào cuối thế kỷ 19. Nó dùng để chỉ một cơ quan chính quyền hoàn toàn còn mới mẻ với người Việt thông qua một từ ngữ dễ hiểu, dễ nhớ. Chúng tôi tìm thấy từ ngữ Việt hóa đó còn dấu tích trên Gia Định Báo – tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ra đời năm 1865. Thêm nữa, chúng được giải thích khá tường tận trong sách giáo khoa “Dư đồ thuyết lược” (Précis de Géographie, Kiến thức chính yếu về địa lý) của Trương Vĩnh Ký, in năm 1887.

Ngày 9.11.1864, cách đây 154 năm, Thống đốc Nam kỳ De La Grandière ký sắc lệnh thành lập cơ quan Direction de L’Intérieur. Đứng đầu cơ quan này là một Directeur, người đầu tiên giữ chức Directeur là ông Paulin Vial. Còn tòa nhà nơi đặt cơ quan được gọi là Hôtel de L’Intérieur. Ngày nay, chúng ta có thể dịch nhanh Direction de L’Intérieur là Bộ Nội vụ (cấp quốc gia) hay Nha Nội vụ (cấp khu vực) hoặc Sở Nội vụ (cấp tỉnh thành). Còn Directeur là giám đốc, và Hôtel de L’Intérieur là Dinh Nội vụ. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ 19, khi người Pháp thiết lập ở nước ta một cơ cấu kinh tế – chính trị hoàn toàn mới mẻ và xa lạ thì việc hiểu nghĩa và dịch thuật tên các cơ quan và chức vụ chính quyền mới, hoàn toàn không phải là chuyện dễ dàng.

Bản đồ Thành Gia Định 1935
Bản đồ Thành Gia Định đối chiếu với các đường phố ở trung tâm Sài Gòn được thiết kế sau 1864. Góc La Grandière – Catinat trong ô vuông xanh chính là địa điểm xây dựng Dinh Thượng Thơ và Dinh Xã Tây. Địa điểm này nằm trong khuôn viên pháo đài của cổng thành phía Nam (nguồn: Tạp chí Hội nghiên cứu Đông Dương – Sài Gòn 1935)

Trong bối cảnh đó, người Sài Gòn – có thể là Trương Vĩnh Ký, giáo sư trường Thông ngôn và Hậu bổ, đã dịch tên Direction de L’IntérieurHôtel de L’Intérieur là “Dinh Lại bộ Thượng Thơ”, gọi tắt là “Dinh Thượng Thơ”. Còn chức vụ Directeur người đứng đầu cơ quan này được dịch là “Quan Thượng Thơ”. Theo chúng tôi, cách dịch nêu trên vận dụng các tên gọi Việt Nam sẳn có, mang ý nghĩa gần giống để biểu đạt nội dung mới. Thật vậy, chữ “Dinh” trong tiếng Việt thế kỷ 19, thường dùng để chỉ cơ quan chính quyền, đồng thời cũng mang nghĩa là là trụ sở của cơ quan đó. Còn chữ “Lại bộ” hay Bộ Lại – từ Việt xưa có từ thời Lý Trần, để chỉ cơ quan trông coi về việc bổ nhiệm quan lại giúp Vua. Bộ Lại là một trong sáu bộ (lục bộ) của chính phủ trong thời phong kiến, bao gồm: Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình, Bộ Công, Bộ Lại và Bộ Lễ. Từ đời nhà Lý cho đến nhà Nguyễn, chức vụ đứng đầu các Bộ đều được gọi là Thượng Thư (phát âm miền Nam là Thượng Thơ). Sau Cách mạng tháng Tám, trong tiếng Việt hiện đại mới xuất hiện chữ Bộ trưởng – thay cho Thượng Thơ.

Hai mươi ba năm sau, khi Liên bang Đông Dương được Pháp thành lập vào tháng 10 năm 1887, chính quyền Pháp vẫn duy trì cơ quan Direction de L’Intérieur với chức năng tương tự nhưng chức vụ Directeur được thay thế bằng chức vụ Secrétariat Général (Tổng thư ký – chức vụ thấp hơn Directeur). Theo sách Quan chế của Huỳnh Tịnh Của – in năm 1888, cơ quan Direction de L’Intérieur được dịch chính thức là “Thống Lý Nha Sở Nội bộ”, còn Secrétariat Général được dịch chính thức là Tá Lý hay Hiệp Lý.

Nếu so từ ngữ “Thống Lý Nha Sở Nội bộ” với “Dinh Lại Bộ Thượng Thơ”, hay Dinh Thượng Thơ thì từ “Thống Lý Nha Sở Nội bộ” chuyên chở được đầy đủ chức năng kiêm quản nhiều sở ngành của Direction de L’Intérieur. Tuy nhiên, nó lại là từ ngữ hoàn toàn bằngchữ Hán – Việt nên khó hiểu, khó nhớ. Cũng tương tự như thế, các từ Tá Lý hay Hiệp Lý đều dịch nghĩa chính xác người đứng đầu cơ quan Direction de L’Intérieur, song vẫn là từ ngữ Hán – Việt. Không dễ dàng sử dụng như từ Thượng Thơ. Cần lưu ý vào cuối thế kỷ 19, trên đất Nam Kỳ các trường lớp Nho học không nhiều như ở miền Trung và miền Bắc, mặt khác chữ quốc ngữ còn phôi thai. Có lẽ chính vì thế, người dân Sài Gòn và Nam Kỳ quen dùng tên gọi Dinh Thượng Thơ hơn Dinh Thống Lý Nha Sở Nội bộ và còn lưu truyền đến ngày nay.

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Có thể nêu một thí dụ tương đồng trong trường hợp này. Đó là từ Dinh Xã Tây (dịch thuật từ Hôtel de Ville), được người Sài Gòn và Nam Kỳ dùng phổ biến để chỉ cơ quan chính quyền thành phố và trụ sở của nó, thay vì “Dinh Đốc lý” hay “Tòa Thị chính (quen dùng ở miền Bắc, miền Trung ). Sau năm 1954 mới có từ “Tòa Đô sảnh” thay thế.

Xét về mặt ngôn ngữ học và sử học, việc gọi tên một địa danh hay một kiến trúc theo tên gọi ban đầu phổ biến của nó là chuyện bình thường và nên làm. Để gọi tên tòa nhà 59 – 61 Lý Tự Trọng, một kiến trúc may mắn tồn tại xuyên ba thế kỷ, chỉ thay đổi chức năng từ sau năm 1945 trở đi, không thể không dùng tên gọi lịch sử vốn có là Dinh Thượng Thơ.

Tên gọi Dinh Thượng Thơ chính là dấu tích ngôn ngữ của thời kỳ giao thời giữa cận đại và hiện đại trong lịch sử Sài Gòn và Việt Nam. Đặc biệt, nó là một thí dụ tiêu biểu về việc phát triển chữ quốc ngữ trở thành ngôn ngữ hành chính và ngôn ngữ toàn xã hội. Vả lại, đâycòn là một thí dụ tiêu biểu trong việc dịch thuật các từ ngữ hành chính sao cho dể hiểu, dễ nhớ trong điều kiện dân trí cụ thể. Điều ấy xứng đáng là một kinh nghiệm quý báu cho công cuộc cải cách hành chính hiện tại.

Dấu tích thời kỳ người Việt thành lập Sài Gòn từ thế kỷ 17

Qua nghiên cứu các bản đồ cổ và sách sử, chúng tôi thấy nền đất Dinh Thượng Thơ là một trong những dấu tích quan trọng của Thành Gia Định và là dấu tích tiêu biểu của thời kỳ người Việt bắt đầu khai phá, thành lập Sài Gòn.

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, vào mùa Xuân năm 1790, chúa Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) cho xây Thành Gia Định tại vùng đất cao thuộc địa phận làng Tân Khai – một trong 40 ngôi làng đầu tiên của người Việt trên đất Sài Gòn. Vùng đất cao này khi người Pháp vào gọi là Plateau de la Citadelle – Đồi Thành lũy. Đó chính là khu đất trải rộng từ rạch Thị Nghè xuống đến đường Đồng Khởi ngày nay. Đỉnh đồi là khu vực Đài Truyền hình hiện giờ, chân đồi là khu vực Công viên Chi Lăng, bao gồm Dinh Thượng Thơ. Người Pháp gọi khu vực chân đồi tại đây là Dốc Catinat (Catinat là tên một trong những chiến thuyền tham gia đánh thành Gia Định).

Khu trung tâm hành chính Sài Gòn và Nam Kỳ
Khu trung tâm hành chính Sài Gòn và Nam Kỳ trên bản vẽ minh họa quy hoạch Sài Gòn 1900 (đang lưu giữ tại trụ sở UBND TP.HCM). Các cơ quan và kiến trúc tiêu biểu đều trong khoảng cách 5 – 15 phút đi bộ. Dinh Thượng Thơ là hai tòa nhà đánh số 1 và 2

Thành Gia Định là một tòa thành lớn, rộng khoảng 100 ha, xây dựng theo kiểu Việt Nam kết hợp với châu Âu (Vauban). Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết thành còn có tên gọi là thành Bát Quái (dân gian gọi là Thành Quy), hình dáng đường viền như hoa sen, có 8 cửa. Trong đó, hai cửa phía Nam mang tên Càn Nguyên và Ly Minh. Theo bản đồ phác họa Thành Bát Quái do người Pháp vẻ lại và chú giải bởi Trương Vĩnh Ký, cổng Càn Nguyên chính là ngả tư Đồng Khởi – Lý Tự Trọng hiện tại. Còn cổng Ly Minh là ngả ba Lê Thánh Tôn – Thái Văn Lung (tên xưa là Đồn Đất – nay là bệnh viện Nhi đồng 2). Con đường vốn có chạy dọc theo đường hào bên trong tường thành phía Nam cũ,được người Pháp sửa sang, chuyển thành đường phố – năm 1865 mang tên Gouverneur (vì có Dinh Soái phủ Sài Gòn đóng ở khu đất trường Trần Đại Nghĩa hiện tại). Đường này từ năm 1870, mang tên De La Grandière (đườngLý Tự Trọng ngày nay).

Vào tháng Giêng năm 1926, khi xây dựng nhà ở góc đường Catinat (Đồng Khởi) và De La Grandière (có thể là nền đất cao ốc 26 Lý Tự Trọng hiện giờ), người Pháp đã phát hiện một đoạn tường thành Bát Quái xây bằng đá ong Biên Hòa rất kiên cố.

Căn cứ vào các sử liệu nêu trên, có thể nói ô đất giáp ranh đường Đồng Khởi – Lý tự Trọng – Lê Thánh Tôn ngày nay chính là đất của pháo đài ở cổng thành phía Nam, mang tên Càn Nguyên của Thành Gia Định. Trên ô đất này, ngay từ những năm 1860, người Pháp đã quy hoạch làm đất xây dựng Dinh Thượng Thơ (bao gồm nhà làm việc ở mặt đường Lý Tự Trọng và văn phòng của giám đốc trên nền cao ốc 213 Đồng Khởi sau này) và sau đó là Dinh Xã Tây (trụ sở UBND TP.HCM). Nền đất của cả hai công trình kiến trúc quan trọng này ẩn chứa di tích không chỉ của Thành Gia Định mà còn của làng Tân Khai – chiếc nôi của người Việt trên đất Sài Gòn. Năm 2007, tại Hà Nội, di tích Hoàng Thành Thăng Long đã phát lộ trên nền đất xây dựng Nhà Quốc Hội. Nay mai, nếu có một cuộc thám sát khảo cổ tượng tự trên nền đất trong khuôn viên của hai tòa nhà thì có nhiều khả năng di tích Hoàng Thành Gia Định thế kỷ 18 và dấu tích người Việt khai phá Sài Gòn ở thế kỷ 17 sẽ phát lộ!

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Dấu tích mở đầu lịch sử hành chính đô thị và hành chính quốc gia hiện đại

Từ 1861 – 1879, thực dân Pháp thiết lập chính quyền quân quản ở Sài Gòn và sau đó là trên toàn Nam Kỳ, người Việt gọi là “Soái phủ”. Đứng đầu Soái phủ là đô đốc thống đốc (Amiraux Gouverneur, người Việt lúc ấy dịch là Quan Khâm Mạng), một tướng hải quân chỉ huy về cả quân sự và hành chính. Trong gần 4 năm đầu tiên (1861 – 1864), chính quyền quân quản chưa có bộ máy riêng về hành chính dân sự. Đến ngày 9.11.1864, Thống đốc Nam Kỳ De La Grandière ra quyết định thành lập Direction de l’ Interieur (Bộ Nội vụ), viết tắt là DI – hai chữ này còn nguyên trên cửa sắt ở cổng 61 Lý Tự Trọng hiện tại. Cơ quan DI là tổ chức đầu tiên chuyên về hành chính dân sự, có nhiệm vụ quản trị Sài Gòn và các vùng mới chiếm đóng – tách biệt khỏi các hoạt động quân sự. Cơ quan DI bao gồm Secrétariat General (có thể dịch là ban tổng thư ký hay chánh văn phòng) và nhiều Bureax (có thể dịch là sở hay ban hoặc phòng).

Theo sách La Cochinchine en 1878 giới thiệu Nam Kỳ nhân Triển lảm Thế giới ở Paris 1878, DI có một ban tổng thư ký và bốn Bureau (phòng, ban). Theo sách Quan chế của Huỳnh Tịnh Của vào năm 1888, DI vẫn giữ nguyên bộ máy như trên nhưng có thêm Bureau thứ 5 Bureau. Căn cứ vào nội dung công việc của các Bureau thì DI không chỉ phụ trách về bổ nhiệm quan chức các địa phương mà còn kiêm quản một loạt các lĩnh vực dân sự rộng khắp khác. Đó là quản trị ngân sách, tài chính, xây dựng, giao thông, bưu điện, canh nông, thương mại, kỹ nghệ, giáo dục, tôn giáo, cảnh sát và mật vụ và kể cả xử án. Gia Định Báo trực thuộc Bureau thứ ba – bộ phận quản lý các việc liên quan kinh doanh, giáo dục, y tế, hộ tịch, họa đồ, nhà in v.v..

Có thể hình dung công việc của DI là công việc của một chính phủ thực thụ bao gồm nhiều bộ chuyên ngành, hay một cơ quan liên bộ quản trị mọi mặt Nam Kỳ (trừ quân sự). Như vậy, DI là cơ quan ra đời để quản trị hành chính một vùng lảnh thổ rất lớn với Sài Gòn là thủ phủ. Do vậy, tuy chức vụ của người đứng đầu DI chỉ gọi là Directeur (giám đốc) nhưng quyền hạn rất lớn, hầu như chỉ sau thống đốc. Đến năm 1887, chức vụ Directeur của DI được bãi bỏ nhưng cơ quan DI vẫn được duy trì trực thuộc thẳng thống đốc Nam Kỳ. Đây cũng là thời điểm hoàn thành tòa nhà hình chữ U như kiến trúc còn tồn tại đến bây giờ.

Ngày 13.12.1880, Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers ra nghị định thành lập khu Sài Gòn – Chợ Lớn bao gồm hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, đặt dưới quyền của DI. Tuy nhiên đến năm 1888, toàn quyền Đông Dương lại cho hai thành phố tách ra. Như vậy, từ 1864 đến 1888, ngoài việc điều hành toàn Nam Kỳ, DI còn là cơ quan hành chính điều hành trực tiếp Sài Gòn – Chợ Lớn trong 24 năm. Nói cách khác, DI là “tòa thị chính”, ủy ban hành chính đầu tiên của đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn!

Trong hai thập niên cuối cùng của thế kỷ 19, Thống đốc Nam Kỳ lần lượt thành lập và tách các Sở chuyên môn về tài chính, công chính, học chính, thương chính… ra khỏi cơ quan DI. Dần dần, DI chuyển hóa một sở chuyên môn chuyên về nhân sự và công tác văn phòng đặt dưới quyền Nha Tổng thư ký của Thống đốc Nam Kỳ.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trước khi Pháp xâm lược trở lại, Ủy ban hành chính Nam bộ và một số cơ quan trực thuộc đã đóng trụ sở ở Dinh Thống đốc Nam Kỳ (Bảo tàng TP.HCM hiện tại). Nhưng sau khi quân đội Anh vào đóng tại Dinh Thống đốc, các cơ quan này chuyển qua Dinh Xã Tây và Dinh Thượng Thơ.

Từ 1945 – 1955, tòa nhà Dinh Thượng Thơ, có lúc là Dinh Thủ hiến Nam Việt, và rồi Tòa đại biểu chính phủ tại Nam Việt của Quốc gia Việt Nam – Bảo Đại. Từ tháng 10.1955 – 4/1975, Dinh Thượng Thơ chuyển thành trụ sở của Bộ Kinh tế. Nơi đây cũng là trụ sở tuần báo Chấn Hưng Kinh Tế trực thuộc Bộ Kinh tế. Sau tháng 4.1975 đến nay, tòa nhà không còn là trụ sở của các cơ quan trung ương mà chuyển về cho UBND TP.HCM, lần lượt làm trụ sở của nhiều cơ quan quản lý kinh tế.

Đến nay, xuyên qua ba thế kỷ, tòa nhà Dinh Thượng Thơ chỉ thực hiện chức năng là công thự hành chính ở cấp trung ương cũng như địa phương. Có lẽ hiện giờ, ngoài trụ sở UBND TP.HCM và Tòa án TP.HCM, trên địa bàn thành phố, rất hiếm có một công thự nào không những kiến trúc còn nguyên vẹn như thuở ban đầu mà chức năng sử dụng cũng không thay đổi như tòa nhà Dinh Thượng Thơ. Bản thân tòa nhà rất xứng đáng được coi là di tích lịch sử, là cột mốc vàng – mở đầu lịch sử quản trị hành chính đô thị cũng như quản trị hành chính quốc gia của Việt Nam trong thời kỳ hiện đại!

Di sản kiến trúc công thự đẹp và hiệu quả

Khi mới ra đời, 1864, cũng như nhiều cơ quan chính quyền lúc ấy trụ sở của DI chỉ là một số ngôi nhà nhỏ tạm thời. Tuy nhiên khu đất đặt trụ sở của DI đã nằm trong quy hoạch từ rất sớm. Theo các tài liệu hiện có, tòa nhà Dinh Thượng Thơ hình chữ U như kiến trúc đang hiện hữu, được xây dựng trong khoảng 1875 -1881. Trên bản đồ Sài Gòn 1882, hiện lưu tại Thư viện Quốc gia Pháp, chúng tôi thấy đã có hình vẻ tòa nhà hình chữ U này. Như vậy, có thể coi thời điểm 1881 hoặc 1882 là năm hoàn thành tòa nhà.

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Dinh Thượng Thơ do kiến trúc sư Marie-Afred Foulhoux (1840 – 1892) thiết kế. Ông cũng là tác giả thiết kế các công thự đồ sộ chung quanh tòa nhà này, như tòa Pháp Đình (1885), Dinh Thống đốc Nam Kỳ 1890), Bưu điện (1891). Hơn thế nữa ông còn là Giám đốc Sở Công chánh Nam Kỳ, sau đó được bổ nhiệm làm Kiến trúc sư trưởng của thành phố.

Do vậy, tòa nhà Dinh Thượng Thơ và các công trình kể trên của Foulhoux, mang phong cách dinh thự Pháp thế kỷ 19 nhưng vẫn có đường nét sáng tạo, kết hợp với thực tế xứ nhiệt đới. Thiết kế cổng vào tòa nhà chính, các cột trang trí tầng lầu, cổng ngoài sân và cửa đúc bằng gang, hàng rào sắt đều thể hiện tính sang trọng, quý phái. Tuy nhiên, tòa nhà có sân rộng, nhiều vòm cửa và cửa sổ lớn, tường rào không xây kín, tạo ra cảm giác thân thiện.

Trên sân tòa nhà, hiện có một cây hoa bồ cạp vàng, ở cuối tòa nhà phía giáp đường Đồng Khởi có một cây đa lâu năm. Cả hai cây này đều làm tăng vẻ đẹp cho tòa nhà. Được biết dưới tòa nhà có tầng hầm chưa được khảo sát đầy đủ. Nếu có được bản vẻ gốc kiến trúc của tòa nhà và một cuộc khảo sát toàn diện, hẳn chúng ta còn tìm được nhiều điều thú vị khác ở kiến trúc Dinh Thượng Thơ.

Mặt khác, khi đối chiếu kiến trúc tòa nhà và lịch sử hành chính cũng như cách thức tổ chức cơ quan hành chính của người Pháp trên đất Sài Gòn và Nam Kỳ, chúng ta có thể nhận thấy Dinh Thượng Thơ là một thí dụ tiêu biểu cho việc sử dụng công thự một cách hiệu quả và tiết kiệm. Thật vậy, ngay từ đầu, Dinh Thượng Thơ là một cơ quan hành chính đa năng, kiêm quản nhiều bộ phận chuyên môn khác nhau, đặt cạnh nhau để hỗ trợ cho nhau và tạo ra sự thuận tiện cho người dân tiếp xúc. Theo Gia Định Báo (tòa soạn đặt trong Dinh Thượng Thơ từ 1865 – 1885), ngoài việc liên hệ các Bureaux, nơi đây còn là nơi hội họp Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (một dạng hội đồng nhân dân cấp miền), bán đấu giá tài sản công và kể cả là nơi đến đặt mua báo và giao dịch quảng cáo!

Trong thực tế, quy mô tòa nhà Dinh Thượng Thơ chỉ ở mức vừa phải để phục vụ một dân số vừa phải (dưới 300.000 dân). Khi các tỉnh thành phát triển, dân số gia tăng, nhu cầu quản trị gia tăng thì Dinh Thượng Thơ không kiêm quản nữa. Các sở chuyên môn được dời đi theo quy hoạch đã định trước. Và do vậy, chính quyền đã không cần phải mở rộng hay xây mới tòa nhà Dinh Thượng Thơ, qua đó không làm lảng phí ngân sách, đồng thời không làm hỏng đi thiết kế hoàn hảo của chính tòa nhà và quy hoạch tổng thể cả khu vực!

Di sản quy hoạch trung tâm và cảnh quan hoàn hảo

Theo các bản vẻ thiết kế đô thị và bản đồ minh họa quy hoạch 1860, 1880 và 1900 mà chúng tôi được tham khảo tại Thư viện quốc gia Pháp, nơi xây dựng tòa nhà làm trụ sở cho Dinh Thượng Thơ, nằm trong tổng thể thiết kế quy hoạch khu trung tâm chính quyền Nam Kỳ và Sài Gòn.

Khu trung tâm này là ô chữ nhật, bao gồm các đường phố ngày nay là Nguyễn Đình Chiểu (Bắc), Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Tây), Lê Thánh Tôn (Nam) và Nguyễn Bĩnh Khiêm (Đông). Trong đó, đại lộ Gouvernement – Chính phủ (về sau, đổi là Norodom, nay là Lê Duẩn) và đường Impériale – Đế chế (về sau đổi là Nationale, nay là Hai Bà Trưng) là hai con đường trung tâm giao nhau thẳng góc, giống như kiểu thiết kế đô thị phổ biến ở Pháp vào thế kỷ 18. Thực tế khu này chính là nền đất của Thành Quy và Thành Phụng của nhà Nguyễn, hay nói cách khác người Pháp đã kế thừa và tận dụng ngay quy hoạch của Việt Nam sẳn có.

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Trong khu này, góc Đông Bắc, chủ yếu dành cho các cơ quan quân sự vì giáp giới với rạch Thị Nghè (thông ra sông Sài Gòn) và thủy xưởng Ba Son. Đối xứng với nó là góc Tây Nam – nơi đặt các cơ quan chỉ huy đầu nảo và các sở chuyên môn hành chính. Các cơ quan đó được bố trí kế cận nhau, bao gồm lần lượt như sau:

  • Soái Phủ (khu Taberd, nay là trường Trần Đại Nghĩa, ba mặt đường).
  • Sở Học chánh (ba mặt đường, nay là Vincom Center, Sở Giáo dục và các biệt thự kế cận), nằm bên cạnh công viên Pages (công viên Chi Lăng).
  • Sở Đo đạc (góc Đồng Khởi – Lý Tự Trọng, đối diện Dinh Thượng Thơ).
  • Bộ/ Sở Nội vụ (Dinh Thượng Thơ, 59 – 61 Lý Tự Trọng).
  • Sở Công Chánh (63 Lý Tự Trọng, nay là trụ sở Sở Giao thông – Vận Tải và Sở Tài nguyên – Môi trường).
  • Sở Hiến binh (38 Lý Tự Trọng, nay là doanh trại quân đội).
  • Dinh Thống đốc Nam Kỳ (lúc đầu là Bảo tàng Nông nghiệp, nay là Bảo tàng TP.HCM).
  • Pháp đình (Tòa án TP.HCM).
  • Khám lớn (nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp).
  • Dinh Chính phủ (về sau thành Dinh Toàn quyền Đông Dương, còn gọi là Dinh Norodom, nay là Dinh Thống Nhất).
  • Nhà thờ Nhà nước (Nhà thờ Đức Bà ngày nay).
  • Sở Bưu Điện (Bưu điện trung tâm ngày nay).
  • Sở Tài chính và Sở Thu thuế (hai tòa nhà đối diện nhau, nay là Sở Văn hóa – Thể thao và cao ốc Metrolitan, cao ốc Bảo Việt).

Đặc biệt, bản đồ minh họa quy hoạch 1880 cho thấy có một vườn cây phía sau Dinh Thượng Thơ, đó chính là đất để dành làm Tòa Thị chính thành phố (Dinh Xã Tây được xây dựng từ 1898 đến 1909).

Thêm nữa, Dinh Thượng Thơ không chỉ là một kiến trúc đẹp gắn với quy hoạch trung tâm chính quyền hoàn hảo mà còn góp phần làm nên cảnh quan đẹp của góc đường Đồng Khởi – Lý Tự Trọng. Điều này biểu hiện ở các điểm như sau:

  • Tòa nhà thấp tầng, hài hòa với công viên Chi Lăng (trước 1955 là công viên Pages) làm thành một không gian thoáng rộng, dấu mốc kết thúc con dốc Catinat.
  • Hàng rào bằng tường gạch, hài hòa hợp cùng cây xanh dọc đường Catinat (sau 1955 là Tự Do, nay là Đồng Khởi).
  • Là một phần không thể thiếu của đường Lý Tự Trọng (tên nguyên thủy là đường Thống Đốc), khởi đầu khi xưa từ ngả tư Nguyễn Trung Trực đến bệnh viện Nhi Đồng 2 (bệnh viện Grall thời Pháp) có hai hàng cây cao cân đối, nhà cửa ven đường có chiều cao bị khống chế thấp hơn hai hàng cây. Đó là con đường tiêu biểu cho cách thiết kế quy hoạch một thành phố – vườn (Garden City) hay thành phố trong vườn (City in Gardens), theo cách nói hiện đại, đã áp dụng cho Sài Gòn từ hơn 150 năm trước.
  • Hiện tại, đường Lý Tự Trọng từ ngả tư Đồng Khởi đổ lên Thái Văn Lung đã xây dựng nhiều tòa cao ốc hiện đại, vượt quá các hàng cây xưa. Chỉ còn đoạn đường trải dài từ Thư viện Khoa học tổng hợp (Khám lớn Sài Gòn xưa) và mặt hông Pháp đình Tòa án, kéo đến Dinh Thượng Thơ là đoạn đường giữ được nét đẹp xưa, hài hòa cây xanh với kiến trúc. Quả thật, đoạn đường này cùng với Dinh Thượng Thơ, Dinh Thống đốc, Tòa án, đang trở thành “hàng quý hiếm” độc đáo khi mà ở thời điểm thế kỷ 21, trung tâm thành phố đã không thoát khỏi cơn lốc biến đổi trở thành rừng nhà cao tầng.

Giữ lại tòa nhà Dinh Thượng Thơ và cảnh quan xung quanh nó không chỉ vì lưu giữ các giá trị lịch sử – văn hóa mà còn lưu giữ giá trị cảnh quan – môi trường vô giá của một đô thị kết hợp văn minh Âu – Á, đã từng được coi là Hòn ngọc Viễn Đông!

Tác giã : Phúc Tiến (đăng trên trang báo mạng Người Đô Thị)

Hình ảnh vài căn nhà lá bên bờ kênh Tàu ở Sài Gòn (1875-1879)

456 views

Bức ảnh này cho chúng ta hình dung về một số căn nhà lá của một ngôi làng bên bờ kênh Tàu ở Sài Gòn vào khoảng những năm 1875-1879. Ngôi làng nằm giữa những cây cọ, ở rìa một con suối, và có vẻ như tại thời điểm chụp thủy triều đang xuống thấp.
Đồng bằng sông Cửu Long là một đồng bằng thấp rộng lớn, thường xuyên bị ngập lụt, với vô số kênh, rạch với nhiều kích thước (được gọi là arroyos trong tiếng Pháp và tiếng Anh). Trong thời kì Nam tiến (thế kỉ XVII), người Việt đã định cư dọc theo các tuyến đường thủy này nhưng chúng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thủy triều. Phương tiện di chuyển duy nhất thời đó là thuyền, do đó nơi đây tập trung rất nhiều thuyền. Kênh Tàu còn có tên gọi khác là Bến Nghé. Đây là nơi hội tụ và trung chuyển hàng hóa trên sông đến và từ Chợ Lớn và Di An.

Sông Sài Gòn (góc kênh Tàu) nhìn từ trên không

251 views

Bức ảnh này chụp sông Sài Gòn (từ góc kênh Tàu) từ trên cao vào khoảng những năm 1930-1940.
Thời gian được chứng minh nhờ vào hình ảnh tòa nhà là trụ sở của Ngân hàng Đông Dương (được xây dựng bởi kiến trúc sư người Pháp Félix Dumail trong khoảng thời gian từ năm 1924 đến 1928). Ngoài ra, chúng ta có thể thấy cây cầu xoay và phía sau là cây cầu “cố định” bắc qua trụ sở của hãng vận tải Messageries Maritimes (còn được biết với tên là Bến Nhà Rồng).
Trong bức ảnh này, có thể nhận ra nét đặc trưng là tàu thuyền thường neo đậu bên bờ trái của kênh Tàu, không giống như bên bờ phải. Một trong những lý do để lý giải điều này là do phía bờ bên trái đã được đô thị hóa trước tiên, do đó đây là nơi tập trung nhà ở và các cơ sở trọng yếu phục vụ cho mục đích kinh tế.

Sài Gòn – Toàn Cảnh Kênh Tàu và cầu quây

286 views

Bức ảnh này, có lẽ được chụp vào khoảng năm 1900, từ phía Kênh Tàu (tiếng Anh : Arroyo Chinese và trong tiếp Pháp : Arroyo chinois), có lẽ từ dưới chân cột đèn tín hiệu (hình dưới cho thấy vị trí của cột đèn).

Ống kính nhiếp ảnh gia hướng về phía tây, nghĩa là hướng về Chợ Lớn. Cây cầu quay ở giữa sông Sài Gòn mà chúng ta có thể thấy ở giữa bức ảnh có thể cho chúng ta thấy những nỗ lực kỹ thuật được thực hiện vừa để tăng sự qua lại giữa hai bờ của Kênh Tàu, vừa không làm trở ngại đến giao thông đường sông, rất cần thiết trên tuyến đường này. Những cây cầu này có thể xoay vòng để cho phép những chiếc tàu có độ cao có thể thông qua.

Sài Gòn - Cột đèn Tín Hiệu

Vài hàng nhớ lại bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu Nhân của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

1005 views

Bà Nguyễn Thị Mai Anh, phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sinh năm 1931, là con gái thứ bảy (nên còn có biệt danh Cô Bảy Mỹ Tho) trong một gia đình Công giáo ở Mỹ Tho có mười anh chị em.

Lúc còn niên thiếu, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng người em gái Tám Hảo thường xuyên lên Sài Gòn để đi học và thăm thân nhân. Do gia đình quen biết với dược sĩ Huỳnh Văn Xuân, làm việc ở viện bào chế Trang Hai, hai chị em Bà được giới thiệu làm trình dược viên tại Viện bào chế Roussell. Chính ông Huỳnh Văn Xuân làm mai mối cho Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó đang đeo lon Trung úy) quen Mai Anh. Mặt khác, cậu Mai Anh là Đặng Văn Quang cũng là bạn đồng khóa Trường Võ bị Đà Lạt với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nên cả hai người được se duyên thành vợ chồng, dù có đôi chút trở ngại vì Mai Anh theo đạo Công giáo. Ông Bà chính thức làm lễ cưới vào năm 1951. Sau này, vào năm 1958, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới rửa tội theo Công giáo.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu hoàn toàn không can dự vào chính trường, mà chỉ chú tâm vào các hoạt động xã hội.
Ở cương vị là Phu Nhân của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Bà rất thông cảm với sự thiếu thốn những trung tâm y tế phục vụ người dân. Vì thế, sau nhiều năm hoạt động xã hội, Bà Nguyễn Thị Mai Anh là người đã gợi ý và khởi xướng thành lập một bệnh viện phục vụ người dân ngay tại thủ đô Saigon.
Bệnh viện Vì Dân tọa lạc tại ngã tư Bảy Hiền, thường được giới bình dân Sài Gòn hay kêu đó là bệnh viện Bà Thiệu. Bệnh viện được xây dựng do Bà vận động quyên tiền từ thiện của nhiều người bao gồm: Thân hào Nhân sĩ, Thương gia, Kỹ nghệ gia…
Bệnh viện Vì Dân là bệnh viện tư nhân, nhưng được điều hành như bệnh viện công. Người dân vào khám và chữa bệnh được miễn phí hoàn toàn. Sau khi Bác Sỹ khám bệnh xong thì bệnh nhân được phát thuốc theo toa. Nếu ai bị bệnh nặng thì được nằm lại bệnh viện để chữa bệnh.

Nguyễn Thị Mai Anh - Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu

Lễ đặt viên đá đầu tiên đã cử hành ngày 17 tháng 8 năm 1971. Nhờ sự tín nhiệm và giúp đỡ của các nhà Hảo tâm, các Cơ quan Từ thiện trong nước và ngoại quốc, các Cơ quan quốc tế, và các quốc gia bạn, nên việc xây cất và trang bị các phương tiện y khoa được tiến hành một cách nhanh chóng và đầy đủ.
Bệnh Viện Vì Dân được khánh thành ngày 20 tháng 3 năm 1973 với 400 giường bệnh và nhiều phân khoa khác nhau: khoa Ngoại và Nội trú, khoa giải phẫu, khoa xét nghiệm, khoa tai mũi họng, khoa quang tuyến, nhãn khoa, khoa nhi đồng, nhà thuốc tây…Bệnh Viện Vì Dân là bệnh viện lớn và tân tiến nhất ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Bệnh viên có nhiều vị Bác Sỹ và Y Tá chuyên môn, cũng như xử dụng những dụng cụ y khoa tân tiến nhất. Sau khi Bà Nguyễn Thị Mai Anh phát biểu trong buổi lễ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cùng với Phu nhân cắt băng khánh thành.

Nguyễn Thị Mai Anh - Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu

Ngày 21 tháng 4 năm 1975, do những áp lực từ chiến trường, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức trên đài truyền hình. Sau đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng gia đình rời khỏi Việt Nam vào đêm 25 tháng 4 và bay tới Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch với tư cách là Đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa. Lúc đầu cả gia đình sang sống tại Đài Loan, nơi trước đó ông Nguyễn Văn Kiểu, anh ông Thiệu làm Đại sứ.

Sau khi con trai thứ hai, Nguyễn Quang Lộc sang Anh Quốc học, thì cả nhà lại sang London định cư, và sống ở đó trong suốt 15 năm. Khi mấy người con sang Mỹ để tiếp tục con đường học vấn năm 1985, thì cả nhà cũng đến định cư tại thành phố Boston vì Bà Mai Anh muốn ở gần những người con của mình.
Ông bà có 3 người con là:
– Nguyễn Thị Tuấn Anh (Trưởng nữ)
– Nguyễn Quang Lộc (Trưởng nam)
– Nguyễn Thiệu Long (Thứ nam)

Ngày 29 tháng 9 năm 2001, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ trần tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess Medical Center thuộc thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ sau khi bị đột quỵ ở nhà. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được an táng tại Boston. Lúc mất ông hưởng thọ 78 tuổi.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Tôi mong có dịp về lại Việt Nam thăm mồ mả Ông Bà, và mang tro cốt của ổng (chồng, Nguyễn Văn Thiệu) về khi đất nước bình yên; Ông Già có trối rằng: “Nếu được thì đem chôn tại quê ông ở Phan Rang, nếu không thì rải một nửa xuống biển và một nửa trên núi”, Bà nói như vậy về ước vọng của Bà như một phụ nữ Việt Nam bình thường không quên ơn Tổ tiên dòng họ.

Nguyễn Thị Mai Anh - Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu

Một người từng làm việc trong Dinh Độc Lập dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói về Bà như sau: “Tôi luôn luôn giữ lòng quý mến đối với Tổng thống Phu nhân. Bà lúc nào cũng giữ nếp sống bình dị của người đàn bà phúc hậu, bao dung của sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đối với tôi, Bà Thiệu là hình ảnh một người mẹ, một người vợ hiền đảm đang hơn là một vị Đệ Nhất Phu nhân sống trong tột đỉnh của quyền thế và nhung lụa giàu sang. Bà Thiệu là người đáng kính, không có cái kênh kiệu của một người có quyền thế vì Bà là một người đứng cạnh chồng, chỉ biết lo cho gia đình mà thôi.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc nào cũng vui vẻ và thân thiện với tất cả mọi người chung quanh. Khuôn mặt phúc hậu và nhân cách của Bà làm người đối diện cảm thấy gần gũi và kính trọng. Bà không bao giờ câu nệ về cách cư xử của nhân viên thuộc cấp. Mỗi lần gặp mặt, Bà luôn luôn lên tiếng hỏi thăm sức khỏe chúng tôi trước, không kịp để chúng tôi chào Bà. Điều đặc biệt là Bà không bao giờ đề cập đến bất cứ chuyện gì có liên quan đến việc làm của Tổng Thống Thiệu với chúng tôi. Trong suốt thời gian làm việc tại đây, chỉ có một lần duy nhứt tôi nghe Bà than phiền với ông Thiệu bằng lời lẽ rất ôn tồn về một nhân vật có đầy quyền thế tại Phủ Tổng thống trong lúc tôi đang đứng bên cạnh.

Nguyễn Thị Mai Anh - Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thường đi ủy lạo Thương binh ở khắp bốn vùng chiến thuật cũng như tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Đồng thời bà còn tham gia rất nhiều hoạt động xã hội và từ thiện nữa. Nhận thấy xã hội còn nhiều nhiễu nhương nên Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã thành lập “Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội” vào ngày 1 tháng 6 năm 1968 để an ủi và giúp đỡ người dân. Bà nói: “Xã hội bây giờ đang nhiễu nhương. Phụ nữ phải tham gia làm công tác xã hội với sự yêu thương và đồng cảm để có thể xoa dịu phần nào sự đau khổ của họ“.

Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu dành hầu hết thì giờ của mình để cứu trợ những người tỵ nạn chiến tranh, quả phụ mất chồng trong cuộc chiến và đặc biệt là những cô nhi bị bỏ rơi. Trong một lần đi thăm trẻ em mồ côi ở cô nhi viện Don Bosco tại Saigon thì Bà bồng một em bé lên, với khuôn mặt rạng rỡ và nụ cười rất tươi Bà nói với mọi người hiện diện rằng: “Một trong những đặc ân mà tôi thích nhất là cái ngày mà tôi được quyền gọi các em cô nhi là các con của tôi.

Nhân lúc bế giảng khóa học dành cho những bà vợ của thành viên nội các tại Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 năm 1968, Phu Nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nói: “Phụ nữ, ngoài nhiệm vụ ở hậu phương là yểm trợ tiền tuyến bằng cách giúp băng bó những vết thương mà còn có thể xông pha ngoài chiến trận để đánh giặc như Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị nữa. Tôi nghĩ rằng phụ nữ nên tự nguyện học một khóa căn bản về quân sự để có chút hiểu biết hầu có thể giúp đỡ tiền tuyến lúc cần thiết“.

Nguyễn Thị Mai Anh - Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Văn Thiệu

Không những thường xuyên đi hiến máu, Bà còn khuyến khích mọi người đi hiến máu như Bà. Năm nào Bà cũng tham dự ngày lễ diễn hành nhân ngày giỗ Hai Bà Trưng. Ngay cả hiện tại ở Mỹ Bà vẫn tham dự ngày lễ giỗ Hai Bà hằng năm.

Mặc dầu là vợ của một Tổng Thống, nhưng vì sinh trưởng ở Mỹ Tho, nên giọng nói và tánh tình của Bà hiền hậu và dễ thương như những người sinh trưởng ở miền Nam.

Vào năm 1972, một người Hoa Kỳ làm việc tại Việt Nam đã xin phép lấy tên Bà Nguyễn Thị Mai Anh đặt cho một giống Lan: Brassolaeliocattleya Mai Anh. Nhân dịp này tên của Bà Đinh Thúy Yến (Phu nhân Thủ tướng Trần Thiện Khiêm) cũng được đặt tên cho một giống Lan: Brassolaeliocattleya Dinh Thuy Yen.

Năm 2009 Bà dọn qua sống với gia đình con trai là anh Nguyễn Quang Lộc tại Orange County thuộc tiểu bang California vì Bà muốn ở gần con cháu của mình. Bây giờ Bà đã lớn tuổi nên sức khỏe của Bà không còn được như xưa.

Người viết : David Tran

Văn hóa người Minh Hương ở Sài Gòn

922 views

Có thể thấy được sinh hoạt văn hóa sinh động của người Hoa trước đây và hiện nay thì không có gì hơn là đến khu Chợ Lớn.

Trong Nhà truyền thống góc đường Triệu Quang Phục và Nguyễn Trãi (xưa gọi là đường Cây Mai) thường có triễn lãm và các hình ảnh xưa ở Chợ Lớn cùng các sản phẩm mỹ thuật.
Nhà Truyền thống trước đây là nhà hát Tam Đa của người Hoa trong vùng. Cạnh nhà truyền thống ở số 137 đường Triệu Quang Phục là trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc, chủ yếu là của người Hoa. Trụ sở là Hội quán của chùa bà (Thiên Hậu) cho mượn. Chùa Thiên Hậu nằm ở góc đường Nguyễn Trãi và Triệu Quang Phục. Đường Triệu Quang Phục xưa là đường Canton (Quảng Đông) trong thời Pháp và là trung tâm Chợ Lớn. Phim “Người Tình”, phỏng theo tự truyện “L’Amant” của nhà văn nữ Pháp Margurette Durras, được quay ở đường này. Nhà Xã Tây ở cạnh đây (gọi là Xã Tây vì là tòa nhà hành chính của Pháp chuyên lo chuyện nhập, xuất cảnh và giấy tờ). Vùng này ngày xưa cũng được gọi là Minh Hương xã.

Chùa Thiên Hương ở Chợ Lớn

Anh Trần Đại Tân, người Triều châu, quê ở Sóc Trăng là người biết nhiều về lịch sử người Minh hương ở Nam bộ. Anh Tân tặng tôi quyển sách của anh viết về người Hoa ở Nam bộ. Nói chuyện về các địa lý và phố xưa cũng như các người Hoa danh tiếng trong lịch sử và hiện nay, như Trần Thành trước đây và Lý Ngọc Minh hiện nay, với xưởng gốm ở Bình Dương. Hoạt động của Hội gồm hội họa, thư pháp, nhiếp ảnh, xuất bản văn học. Ngoài ra còn có ban bảo trợ văn hóa người Hoa, với chi hội ca múa nhạc có trụ sở là nhà văn hóa Quận 5, gần Đại Thế giới, đường Trần Hưng Đạo.

Từ hội quán, chúng tôi đi bộ đến thăm chùa Thiên Hậu do người Hoa Quảng Đông xây dựng, rất nhiều du khách nước ngoài viếng thăm. Kiến trúc chùa rất đẹp với các tượng trên nóc, mái chùa bằng sành sứ rất công phu và các tranh khắc trên tường là những tuyệt tác rất trang nhã của nghệ thuật người Hoa. Cạnh chùa Thiên hậu là đền Tam Sơn, trên đường Triệu Quang Phục, của người Phúc Kiến (Phúc Châu), nơi đây thờ Ngọc Hoàng, Quan âm, Quan công.., không có chữ quốc ngữ chỉ có chữ Hán trong và ngoài đền. Theo anh Tân, thì kế bên đền Tam Sơn, xưa kia có Thất phủ cổ miếu, nhưng đã bị phá đi, hiện nay là xí nghiệp in, chỉ còn lại một bức tường. Đây là một mất mác văn hóa to lớn.

Chùa Thiên Hậu Chợ Lớn
Chùa Thiên Hậu Chợ Lớn

Đến Đình Minh Hương Gia Thạnh trên đường Trần Hưng Đạo, gặp lại bác Vương Quang Tâm, hiện nay là người cai quản đình mà năm trước tôi có đến. Đình là tòa nhà cổ nhất Saigon, xây năm 1789, được công nhận là một di tích lịch sử. Năm 1698, ở vùng này đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, làng Minh hương còn để lại câu ca dao :

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương

Lần trùng tu cuối cùng của đình là vào năm 1921. Trong đình, bên phải thờ Trần Thượng Xuyên (có 2 di ảnh tướng Trần Thượng Xuyên) và Nguyễn Hữu Cảnh, bên trái thờ Trịnh Hoài Đức và Ngô Gia Tịnh. Cạnh đó là 1 chuông đồng do vua Minh Mạng tặng, với sắc phong và chuyển tên từ làng thành đình. Chuông được gióng một năm một lần vào ngày 16/1. Sau chánh điện là sân rất rộng gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời). Đình Minh hương Gia Thạnh cũng là nơi tề tựu, gặp gỡ của nhóm Bình Dương thi xã, sáng lập bởi Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, với nhiều nhân sĩ đến đây để ngâm thơ, xướng họa vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19.

Chùa Ngọc Hoàng - Quận 1 Sài Gòn
Chùa Ngọc Hoàng – Quận 1 Sài Gòn

Chùa Giác Lâm là ngôi chùa thuộc loại xưa nhất Sài Gòn. Chùa nằm ở Phú Thọ Hoà kế quận 5 (nay là đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình), vẫn còn giữ nguyên không thay đổi nhiều sau bao năm từ lúc thành lập. Chùa được cư sĩ người Minh hương tên là Lý Thụy Long xây dựng vào năm 1744 ở vùng thanh vắng nhiều cây cối không xa chùa Cây Mai và Gò cây mai, một nơi thanh lam thắng cảnh của Gia Định mà Gia Định thi xã của Trịnh Hoài Đức thường hay nhóm họp làm thơ. Lý Thụy Long có tên riêng là Cẩm, chuyên nghề đan đệm bán nên người địa phương gọi là ông Cẩm Đệm. Vì thế chùa còn có tên là Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm. Năm 1772 hòa thượng Viên Quang tới trụ trì, từ đó mới đổi tên chùa là Giác Lâm. Khi xưa lúc chùa được xây dựng như một cái am, xa cư dân, rất thanh vắng, cây cối rậm rạp, thích hợp cho sự tu dưỡng, tu hành. Trong quyển Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức đã miêu tả cảnh chùa như sau: “Chùa toạ lạc trên gò Cẩm Sơn, cách phía Tây lũy Bán Bích ba dặm…, cây cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà nhã thú!…”. Chùa hiện nay được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Chùa Giác Lâm

Nghề làm gốm là nghề tiểu công nghiệp lâu đời, bắt đầu từ khi người Minh hương đến định cư ở xứ Đồng Nai. Hiện nay ở tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, đa số các chủ lò gốm là do người Việt gốc Hoa, hay Minh hương đảm trách. Họ đã làm nghề này cha truyền con nối bao nhiều đời cho đến nay. Đây là hai trung tâm gốm sứ lớn nhất Nam bộ với nhiều thợ, nghệ nhân người Hoa. Vào thế kỷ 18, đã tồn tại một trung tâm gốm sứ mang tên Xóm Lò Gốm ở vùng quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (phía Chợ Lớn). Xung quanh vùng này còn có nhiều địa danh như Lò Rèn, Xóm Lò Siêu, xóm Lò Gạch… Địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo-Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh-rạch Lò Gốm. Những con kênh này là tuyến đường giao thông chính của khu vực Chợ Lớn, dùng ghe xuồng chở hàng sản xuất đến các tỉnh miền Tây.

Gốm vùng Saigon-Gia Định-Đồng Nai ở thế kỷ 18,19 và 20 nổi tiếng có đặc thù riêng và nổi tiếng tốt mà nhiều nhà văn hóa sử, khảo cổ trước đây gọi là gốm “Cây Mai” (được biết đến qua những gốm xưa tìm được ở gò Cây Mai và khu vực đường Cây Mai, Chợ Lớn) nay được xếp loại và gọi chung là gốm Biên Hòa, Saigon. Ngày nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi thuộc làng Hòa Lục (phường 16 quận 8), gần làng Phú Định, nằm ven kênh Ruột Ngựa, của xóm Lò Gốm xưa. Cuộc khai quật năm 1997-1998 đã tìm thấy tại đây phế tích 3 lò gốm, trên một gò lớn chứa đầy mảnh gốm của các loại lu, khạp, siêu, chậu.. (15) Ngày nay những nơi còn tiếp tục truyền thống gốm cổ truyền của người Hoa hiện nay còn rõ nhất ở những lò làm lu gốm ở Biên Hòa hoặc ở khu vực Q.9 TPHCM (Thủ Đức cũ, gần Công viên Văn hóa dân tộc đang xây dựng), và một số cơ sở nhỏ sản xuất đồ gốm gia dụng ở vùng Lái Thiêu.

Ngoài ra, anh hưởng văn hóa mà người Minh Hương để lại sâu đậm nhất trong đời sống Nam bộ là ngôn ngữ. Tiếng Việt miền Nam được lưu dân Minh hương và Hoa mang vào bổ xung cho tiếng Việt thêm phong phú. Theo Bình Nguyên Lộc, những từ sau có nguồn gốc Minh hương (19).

Các từ gốc Triều Châu

Lẩu : Có nguồn gốc từ lẩu là một món canh của Triều Châu, đựng trong một thứ bát đặc biệt bằng Laiton.
Tía : Chính các chú rể Triều Châu, lưu vong nhà Minh đã đưa ra danh từ Tía vào Nam, và bị ta hiểu là Cha.
Hên : Do Hưng. Triều Châu đưa vào và họ đọc là Hinh thì đáng lý ta phải viết là Hênh.
Xui : Tiếng nầy đất Bắc có nhưng vay mượn lâu đời hơn và nói là Xúi Quẩy. Do chữ Suy mà ra, đọc theo Triều Châu, Hên Xui = May Rủi.
Khổ Tai : Một món ăn khác mà dân miền Nam rất ưa và họ gọi là KHỔ TAI. do người Triều Châu đọc Hô Tai (Hải Táo), một thứ rong biển mà họ nấu với đường để bán cho dân miền Nam ăn.

Các từ gốc Quảng Đông

Xí Mụi : do Quảng Đông gọi Xíu Mụi, chữ Nho là Tiêu Mai.
Công xi: Công Ty, do Quảng Đông đưa vào.
Hủ tiếu : Không biết chữ ra sao, nhưng do Quảng Đông đưa vào, họ nói là Phải, không hiểu sao ta lại biến thành Hủ Tiếu.
Xíu Mại : Không biết chữ nghĩa ra sao, nhưng đa số các món ăn đều do Quảng Đông đưa vào.
Chạp Phô : Chỉ là Tạp hóa. Nhưng chính người Quảng Đông lại cho nó cái nghĩa hạn chế là thực phẩm: trứng vịt, tôm khô, cá khô,v.v. còn các cửa hàng bán các thứ khác cũng tạp nhạp lại không được gọi là chạp phô.
Giò Chá Quảy: Thật đúng là Dầu chá quảy tức con quỷ nướng trong dầu, chỉ loại bánh bột mì chiên mỡ.
Ly : Cốc bằng pha lê, người Quảng Đông gọi là Pò Lý Púi, tức Pha Lê Bôi, ta nuốt hết, chỉ chừa lại Lý và đọc là Ly.
Xì Thẩu : Chữ Nho là Sự Đầu, chủ sự, nhưng bị ta hiểu là Ông chủ.

Điều này cho ta thấy miền Nam ban đầu chịu ảnh hưởng nhiều của phong tục, sinh hoạt, tập quán người Minh hương.

Tác giã : Nguyễn Đức Hiệp