Địa Điểm

Ngã Tư Hàng Sanh (Sài Gòn) trước năm 1975

36 views

Ngã Tư Hàng Sanh là một giao lộ đồng mức thuộc loại hiện đại nhất của Sài Gòn trước biến cố 1975. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu thông tin và khám phá hình ảnh về địa điểm mang tên cây này tại Sài Gòn xưa.

Lý giải về tên gọi Hàng Xanh, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trước năm 1945 khu vực này trồng nhiều cây sanh. Cây Sanh được trồng dọc hai bên đường Bạch Đằng ngày nay kéo dài đến ngã tư này.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn
Hàng Xanh 1967

Sanh là tên một loại cây lớn có họ hàng với cây đa, cây đề, cây si… (họ Ficus). Xưa trên con đường đi từ đường Thiên Lý (đường Cái Quan), chổ gần cầu Sơn, đi băng qua rạch Cầu Bông đến lăng Ông – Bà Chiểu, hai bên đường có trồng hàng cây Sanh, do vậy đường có tên là Hàng Sanh, nay là đường Bạch Đằng. Cho đến khoảng thập niên 40 vẫn còn cây này ở ven đường. Trên Bản đồ đô thành Sài Gòn năm 1962 thì đoạn đầu của đường Bạch Đằng vẫn còn ghi tên là đường Hàng Sanh.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn
Bảng chỉ dẫn tên đường ở Ngã 4 Hàng Xanh. Đi thẳng là qua cầu Tân Cảng để đi Biên Hòa, quẹo trái về tỉnh Gia Định, Bà Chiểu, quẹo phải về trung tâm Sài Gòn

Sài Gòn xưa là rừng, đến giữa thế kỷ XX vẫn còn nhiều vết tích. Người dân bản xứ thường đặt tên những địa danh bằng tên các loài cây như : cây Vắp, cây Củ Chi, cây Sanh, cây Quéo, cây Thị, cây Da Sà, cây Sơn (có cầu Sơn gần ngã tư Hàng Sanh), cây Gõ, cây Xoay, … và cây Gòn (Sài Gòn).

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Trước thập niên 1960, chỗ này mang tên là Ngã 3 hàng Sanh. Đến đầu thập niên 1960, sau khi cầu Tân Cảng (nay là cầu Sài Gòn) được xây dựng, có thêm một nhánh đường đi Biên Hòa được gọi là Xa Lộ Biên Hòa, thì chỗ này mới thành Ngã Tư Hàng Sanh.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Vào thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, ít người biết được đây là một giao lộ đồng mức thuộc loại hiện đại nhất Á Châu thời ấy, với hệ thống dải phân cách, phân luồng và đèn tín hiệu giao thông được cách âm chôn hoàn toàn dưới lòng đất và vẫn còn sử dụng tốt cho đến năm 1995…

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Ngày trước, ngã tư Hàng Sanh đặt một chiếc đồng hồ mà ai đi qua cũng thấy. Bây giờ những chiếc đồng hồ công cộng ấy chỉ còn lại ở vài ngã tư. Trước tình hình giao thông cấp bách, vòng xoay của ngã tư Hàng Sanh bị đập bỏ, nhường chỗ cho cây cầu vượt bằng thép xuyên ngang. Chiếc đồng hồ và vòng xoay biến mất, chỉ còn lại trong hoài niệm của nhiều người.

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn
Đồng hồ ở vòng xoay Nguyễn Bỉnh Khiêm (Q.1), chỉ cách ngã tư Hàng Xanh (Q. Bình Thạnh) khoảng 1 km
)Ảnh: Từ Tấn Phát)

Nhà thơ Kiên Giang – Hà Huy Hà khi lên Sài Gòn học, năm 1943 ông ở trọ tại Hàng Sanh; sau đó ông có sáng tác bài thơ “Nhạc Xe Bò”, có đoạn :

Đêm xưa trăng mới đứng đầu
Đoàn xe bò đã qua cầu Hàng Sanh
Nhạc xe bò rộn âm thanh
Khô khan mà thảm, mong manh mà sầu
Bánh xe lốc cốc
Lên dốc đầu cầu

Ngã Tư Hàng Sanh - Sài Gòn

Tổng hợp

Nhà dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

129 views

Với kiến trúc nhà dòng Saint Paul, chúng ta tự hào rằng tại Sài Gòn năm 1864 đã có một công trình kiến trúc kiên cố đầu tiên lại do chính kiến trúc sư người Việt thiết kế và xây dựng.

Khi đi ngang ngôi nhà trắng tại số 4 Tôn Đức Thắng, quận 1 (trước là Cường Để) mọi người chỉ biết đây là một nữ tu viện. Tòa nhà này trước kia còn được gọi là “Nhà Trắng”, không phải vì sơn toàn màu trắng như tòa Bạch Ốc (White House) mà vì ngôi nhà này được xây dựng và làm chủ bởi những nữ tu dòng Saint Paul de Chartres (Thánh Phaolô thành Chartres) “trinh bạch từ linh hồn đến những chiếc áo dòng trắng toát”. Trước năm 1975, trong nhà dòng này có một trường tư thục với các lớp từ mẫu giáo tới tú tài với số lượng 1.600 học sinh (có ký túc xá cho học sinh nội trú).

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Kiến trúc ban đầu của Dòng Thánh Phao Lô Sài Gòn (1866)

Sau năm 1975, có một thời gian là trường sư phạm mầm non. Nếu ai có dịp vào đây sẽ choáng ngợp với không gian rộng rãi, khoáng đãng với kiến trúc ba khối nhà: cô nhi viện, nhà nữ tu ở và khu nhà nguyện. Khu nhà nguyện có thiết kế đặc biệt, nhìn từ trên cao xuống rất giống cây thánh giá, bên trong có thêm nhiều cột đỡ vững chãi, phía trước là một sân cỏ rộng với tượng thánh bổn mạng của dòng Phaolô.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Một thiết kế theo nhận định của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ: “Một giáo đường huy hoàng với đường nét thẩm mỹ lối Gothique. Các khu vòm hình liềm cung, đua nhau vượt lên tới 20 thước, không một chút chạm trổ hoa hòe… Làm cho khách tưởng nhớ đến giáo đường “Sainte Chapelle”… Cảm tưởng nhẹ nhàng vì sự thành công của vị kiến trúc sư làm cho ai vào đó cũng cảm thấy thoát tục”.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Kiến trúc sư “thầy Học”

Theo các tài liệu lịch sử truyền giáo, vào ngày 20-5-1860, các nữ tu dòng Thánh Phaolô gốc ở thành Chartres (Soeurs de Saint Paul de Chartres) từ Hong Kong đặt chân đến Sài Gòn. Họ cùng tạm định cư tại một căn nhà nhỏ vùng chợ cũ cùng các nữ tu dòng kín (đến Sài gòn năm 1861). Vào tháng 9-1862, mẹ bề trên dòng thánh Phaolô Benjamin khởi công xây cất nhà giám tỉnh tại khu đất Đường Thành (Rue de la Citadelle). Toàn bộ công trình này hoàn thành vào ngày 10-8-1864. Và trong bản thảo viết tay của mẹ Benjamin chỉ ghi lại tên kiến trúc sư là Thầy Học.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Không ảnh Dòng Thánh Phaolô năm 1929

Lúc ấy các bà phước chẳng biết kiến trúc sư “Thầy Học” là ai. Không biết trước đây đã có tài liệu nào xác minh Thầy Học là ai chưa. Riêng cụ Vương Hồng Sển trong quyển Sài Gòn năm xưa in năm 1958 cho biết: “Tương truyền nhà lầu cao lớn nơi đây là do ông Nguyễn Trường Tộ năm xưa đứng coi xây cất”. Vậy Thầy Học hay ông Nguyễn Trường Tộ là người thiết kế, xây cất tòa nhà này? Trong tạp chí Văn Đàn (số 4-1961, Sài Gòn) ông Phạm Đình Khiêm đã công bố nhiều tài liệu trong thư khố tu viện đã chứng minh Thầy Học chính là ông Nguyễn Trường Tộ.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Không ảnh Dòng Thánh Phaolô năm 1929

Trước hết, các soeur gọi ông Nguyễn Trường Tộ là Thầy Học vì ông đã từng làm thầy dạy học cho nhà chung. Cách gọi này đã được ghi một cách chính thức trong một tập tài liệu viết tay tên là La Création des Établisements des Soeurs de Saint Paul de Chartres en Extrême-Orient (Ký sự về việc thành lập các cơ sở dòng Nữ tu thánh Phaolô thành Chartres tại Viễn Đông) do mẹ Benjamin, người sáng lập “Nhà Trắng” soạn thảo.

“… Được khu đất tốt đẹp như vậy lại chán cảnh tạm bợ nhiều khi còn tốn kém hơn, bà bề trên bèn quyết định xây nhà vững chắc. Bà bàn tính công việc xây cất ấy với Đức cha Gauthier và cha Croc, các vị ấy đồng ý rằng khi trở về đàng ngoài, sẽ để Thầy Học ở lại điều khiển các công tác”.

Trong ký sự còn xác định: “Ông là một giáo hữu Đàng-Ngoài”. Điều này đã xác nhận thời gian sau khi thôi học, ông Nguyễn Trường Tộ mở trường dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ Hán trong nhà chung Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Tại đây, năm 1846 ông được giám mục người Pháp tên là Gauthier dạy học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu biết về các môn khoa học thường thức của phương Tây. Cuối năm 1858, ông đi cùng Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn “phân sáp” (sáp nhập hai, ba gia đình Công giáo vào trong một làng không Công giáo, chứ không cho ở tập trung như trước). Đầu năm 1859, Giám mục Gauthier đưa ông sang Hương Cảng (Hong Kong) và Pháp. Trong tập Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ do con ông là Nguyễn Trường Cửu ghi chép giai đoạn ông Nguyễn Trường Tộ đi Pháp như sau: “Rồi sang nước đại Pháp, ở kinh thành Ba Lê, là kinh đô, đi du lịch xem chính trị, học hành, kỹ nghệ, phong tục nước đại Pháp. Khi nghe “lặng sáp” rồi (ý nói chấm dứt tình trạng phân sáp như nói ở trên – LVN) thì Đức cha Hậu lại đem ông Tộ và các cụ về nhà chung”.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Vẫn theo ông Cửu thì chính mẹ bề trên phải thỏa thuận với Đức cha Hậu để xây cất Nhà Trắng. Câu hỏi đặt ra là tại sao mẹ Bejamin lại chọn Nguyễn Trường Tộ mà không chọn những kiến trúc sư Pháp vì chính Nguyễn Trường Tộ đã chứng minh được với mẹ bề trên và Đức cha là một người có khả năng về kiến trúc khi về nhà chung (Xã Đoài) đã “làm lại nhà hai tầng cho Cố giữ việc ở và nhà Tràng Latin ba tầng hình chữ thập gọi là “nhà tây” cho học trò Latin ở và học cùng làm nhà thờ Đức Bà riêng cho học trò, theo mẫu nhà thờ Đức Bà hiện ra thành Lộ Đức (Lourdes) đẹp lắm và ở ngoài xây tường cải hoa lộng, giống các sắc hoa tây nam rực rỡ xanh tươi vui mắt, rầy (bây giờ) hư rồi. Đoạn tậu vườn làm nhà ở phía bắc nhà chung, rồi vào Gia Định làm sở nhà bà phước cho các người nhà mụ Tây ở…”.

Theo tác giả Trương Bá Cần, trong các công trình do Nguyễn Trường Tộ xây cất ở Xã Đoài, nay chỉ còn lại nhà tràng Latin (tức tiểu chủng viện) ba tầng, hình chữ thập gọi là “nhà Tây”, chứ tòa giám mục và các nhà phụ thuộc đều đã bị bom Mỹ đánh sập.

Dấu ấn kiến trúc tại Sài Gòn

Riêng Giám mục Gauthier thường gọi Nguyễn Trường Tộ bằng danh hiệu “kiến trúc sư”, mặc dù ông Tộ chưa một ngày học qua ngành kiến trúc như trong thư gửi Hội Truyền giáo nước ngoài ở Paris (đề ngày 1-1-1870), Giám mục Gauthier viết: “… Người ta quen gọi là kiến trúc sư vì ông ta (chỉ ông Tộ) đã xây ngôi nhà ba tầng của các nữ tu Sài Gòn, một nhà nguyện và một ngọn tháp cao nổi bật…” (dẫn lại theo Nguyễn Bá Cần). Có lẽ do thiên bẩm, óc quan sát, thực nghiệm khi được ra nước ngoài trước kia, ông có ở Hong Kong ít lâu và trong thời gian ngắn ngủi tại thuộc địa này của người Anh, ông đã thấy được cách thức và thể loại kiến trúc của châu Âu. Trước đó, ông đã được ngợi ca là một kiến trúc sư tài năng trong quyển II, trang 731 của tạp chí La Semaine religieuse (Paris, năm 1867):

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Người Đông phương ở trong phái ủy thì có hai ông quan và một người kiến trúc sư Công giáo, có trí nhớ lạ lùng, tài năng lỗi lạc và chính là người đã xây giáo đường của ta ở Sài Gòn”. Hai ông quan là Nguyễn Tăng Doãn và Trần Văn Đạo, còn người kiến trúc sư tài năng lỗi lạc ấy chính là ông Nguyễn Trường Tộ. Linh mục Le Mée (thừa sai Paris) trong một bức thư đăng trên tập san Missions Catholiques năm 1876 có nói về công việc ấy như sau: “Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc đã đem theo một nho sĩ Bắc Kỳ, tên là Lân (tức Nguyễn Trường Tộ). Với trí thông minh hiếm có, lại được gợi ý và được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và tận tụy của Giám mục Gauthier, nho sĩ Bắc Kỳ này, vì tình yêu Thiên Chúa, đã nhận đứng ra đốc suất công việc. Thời đó ở Sài Gòn chưa có một công trình nào làm kiểu mẫu. Với đề án của tu viện và nhà nguyện do nữ tu Benjamin cung cấp, ông ta đã phác họa được một họa đồ phối cảnh chung và thực hiện công trình nhờ sự cộng tác của các công nhân người Việt. Chính ông đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom công việc một cách rất cẩn thận và chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ cũng như chưa có nhà thầu…”.

Tác Giã : Lê Văn Nghĩa

Em ơi, Sài Gòn… bến Bạch Đằng !

113 views

Sài Gòn là thành phố có nhiều sông rạch nên bến nhiều vô kể. Nhưng từ bến trong bài hát Sài Gòn đẹp lắm của nhạc sĩ Y Vân gần như được mặc định là bến Bạch Đằng mà người Sài Gòn ai cũng hiểu.

Dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai/ Từ xa thấp thoáng muôn tà áo tung bay/ Nếp sống vui tươi nối chân nhau đến nơi này/ Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi…”.

Trước năm 1975, bến Bạch Đằng là con đường dọc bờ sông Sài Gòn, đoạn từ Nhà máy Ba Son đến đầu đường Hàm Nghi nối với đường Bến Chương Dương. Sau năm 1975, đường Bến Bạch Đằng đổi thành đường Tôn Đức Thắng (nối thêm một đoạn từ Nhà máy Ba Son đến đường Lê Duẩn mà trước năm 1975 là một đoạn của đường Cường Để)…

Sài Gòn xưa có nhiều con đường mang tên bắt đầu từ “bến” – những bến sông nổi tiếng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chẳng hạn, bến Bạch Đằng gắn liền với lịch sử ba lần đánh thắng quân xâm lược; bến Chương Dương và Hàm Tử là hai bến sông gắn với các chiến thắng quân Nguyên Mông vào thế kỷ 13…

Con đường Bến Chương Dương trước kia nối với đường Bến Bạch Đằng chạy dọc theo rạch Bến Nghé đến hết địa phận quận 1 giáp với quận 5 – nay là cầu Nguyễn Văn Cừ. Từ đây, đường này nối tiếp với đường Bến Hàm Tử chạy dọc theo kênh Tàu Hũ vào tới cầu Chà Và, Chợ Lớn.

Lại nhớ danh tướng Trần Quang Khải sau những chiến công hiển hách, khi về trí sĩ đã làm bài thơ có hai câu: “Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù…”. Năm 2010, khi đại lộ Đông Tây hoàn thành, đường Bến Chương Dương và Bến Hàm Tử trở thành một phần con đường mới mang tên Võ Văn Kiệt.

Bên kia rạch Bến Nghé, phía quận 4, vẫn còn con đường mang tên Bến Vân Đồn – cũng là một địa danh lừng lẫy trong công cuộc chống quân xâm lược Nguyên Mông gắn liền với danh tướng Trần Khánh Dư. Trước kia, Bến Vân Đồn là con đường nhỏ hẹp chạy dọc bờ rạch nhếch nhác đầy rác rến trôi lềnh bềnh dưới những căn nhà sàn tạm bợ, nằm cạnh đám ghe thuyền bán đủ thứ hàng hóa từ các tỉnh về…

Nhưng hiện nay, đường Bến Vân Đồn đã mở rộng thoáng đãng, hoành tráng, những nhà sàn trên rạch đã được giải tỏa, thay vào đó là một công viên cặp bờ sông chạy dài tới cầu Nguyễn Văn Cừ bắc từ quận 5 qua như một ngã ba nối với quận 8 và quận 4. Nhà đất trên đường Bến Vân Đồn bây giờ là đất vàng, bởi quận 4 bây giờ được coi như “quận Một phẩy”!

Bến Bạch Đằng những năm cuối 1950, đầu 1960 là nơi hẹn hò lý tưởng của những đôi tình nhân. Hoàng hôn buông xuống, các cặp tình nhân bình dân hẹn nhau ra các quán dọc bờ sông ngồi ăn bò bía, uống nước mía, nước ngọt hay ăn kem, vừa tâm sự vừa ngắm nhìn dòng sông Sài Gòn chảy hiền hòa.

Trong công viên dọc bờ sông có nhiều người tập thể dục hay tản bộ, hoặc có người sau khi tan sở đạp xe ra bến đứng hóng gió sông trước khi về nhà. “… Người ra thăm bến, câu chào nói lao xao…”. Lâu lâu lại có một con tàu lớn chạy qua hay mấy chiếc sà lan xình xịch chở bà con tiểu thương, công nhân tan ca chạy từ Bến Bạch Đằng qua Thủ Thiêm.

Bến Bạch Đằng - Nhà Hàng Mỹ Cảnh

Trước năm 1975, về cuối đường Bến Bạch Đằng gần đầu đường Hàm Nghi có hai nhà hàng nổi trên sông là Ngân Đình và Mỹ Cảnh thuộc loại sang trọng nhất nhì TP. Đến cuối những năm 1980, đầu 1990, trên Bến Bạch Đằng, đối diện tượng Trần Hưng Đạo xuất hiện “khách sạn nổi năm sao” của một tập đoàn nước ngoài – một biểu tượng của thời kỳ đổi mới và hòa nhập bấy giờ. Nhưng chỉ mấy năm sau thì tàu khách sạn nổi dời đi, chút kỷ niệm một thời còn lại là tiền sảnh tiếp tân và khoảnh sân hòa nhập vào cái hồn cốt của Công viên Bến Bạch Đằng hôm nay.

Tác giã : Thạm Đình

Hình ảnh vài căn nhà lá bên bờ kênh Tàu ở Sài Gòn (1875-1879)

389 views

Bức ảnh này cho chúng ta hình dung về một số căn nhà lá của một ngôi làng bên bờ kênh Tàu ở Sài Gòn vào khoảng những năm 1875-1879. Ngôi làng nằm giữa những cây cọ, ở rìa một con suối, và có vẻ như tại thời điểm chụp thủy triều đang xuống thấp.
Đồng bằng sông Cửu Long là một đồng bằng thấp rộng lớn, thường xuyên bị ngập lụt, với vô số kênh, rạch với nhiều kích thước (được gọi là arroyos trong tiếng Pháp và tiếng Anh). Trong thời kì Nam tiến (thế kỉ XVII), người Việt đã định cư dọc theo các tuyến đường thủy này nhưng chúng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thủy triều. Phương tiện di chuyển duy nhất thời đó là thuyền, do đó nơi đây tập trung rất nhiều thuyền. Kênh Tàu còn có tên gọi khác là Bến Nghé. Đây là nơi hội tụ và trung chuyển hàng hóa trên sông đến và từ Chợ Lớn và Di An.