Phim

Phim “Chân Trời Tím” của đạo diễn Lê Hoàng Hoa

936 views

Phim CHÂN TRỜI TÍM – Đạo diễn Lê Hoàng Hoa thực hiện, Liên Ảnh Công Ty sản xuất năm 1971.

Chân Trời Tím của Lê Hoàng Hoa

Nhà văn Mai Thảo viết sơ lược cốt truyện Chân Trời Tím, in sau bản nhạc rời “Nửa Hồn Thương Đau” do NXB Tiếng Hát Đôi Mươi ấn hành:
Là một trong những khuôn mặt đằm thắm nhất của Sài Gòn tân nhạc và Sài Gòn ban đêm, nữ ca sĩ Liên, mỗi đêm xuất hiện lộng lẫy dưới ánh đèn mầu, lại được hàng ngàn thính giả mến mộ tiếng hát tuyệt vời dành cho những cảm tình nồng nhiệt …
Nhưng đã hơn một tuần, Liên nghỉ hát, nằm bệnh, chờ đợi người tình là Hạ sĩ Phi còn ở ngoài mặt trận. Tình yêu với Liên, trong xa cách, đã mang cái khuôn mặt não nùng và sâu thảm nhất của cô đơn . Liên như sống lại khi Phi đột ngột trở về. Cặp tình nhân đưa nhau đi thật xa. Họ tìm đến một bãi biển khuất lánh, tận hưởng bên nhau những giờ phút thần tiên của một hạnh phúc mà Liên tin tưởng là bền vững cả đời! Liên đã lầm. Chiến tranh làm thành những chia ly. Trong lửa đạn kín trùm, hạnh phúc chỉ là chốc lát.
Theo tiếng gọi của nhiệm vụ và chí lớn, Phi lại lên đường. Mất Phi, từ đó đời Liên chỉ còn là tối đen địa ngục. Trở lại phòng trà, ném tiếng hát não nùng theo hình bóng đã khuất xa của người yêu, cô đơn và tuyệt vọng cuối cùng xô đẩy Liên xuống vũng lầy của xa đọa.
Rồi những biến chuyển long trời lở đất đảo lộn hoàn toàn vận mệnh của đất nước liên tiếp bùng nổ! Thành phố giới nghiêm. Tranh đấu dâng cao. Quần chúng xuống đường. Cách mạng nổi dậy. Từ một tiền đồn heo hút, Phi nhận lãnh công tác đặc biệt trở về thành phố. Hai người tình, mà chiến tranh làm cho đứt đoạn, gặp lại nhau. Nhưng định mệnh khốc liệt nói rằng hạnh phúc chỉ đến với đời Liên có một lần, và Chân Trời Tím, cái chân trời mộng tưởng được vẽ lên, tan nát và diễm lệ trong ca khúc “Nửa Hồn Thương Đau” chỉ còn là cõi mộng xa thẳm của một thế giới nào đó mà tiếng hát tuyệt vời của Liên không bao giờ tới được!

Dàn diễn viên :
– Hùng Cường trong Phi
– Kim Vui trong vai Liên
– Thanh Lan trong vai Phượng
– Mộng Tuyền trong vai Loan
– Bảo Ân trong vai Điền
– Bà Năm Sadec
– Ánh Nga
– Hà Huyền Chi
….

Nhớ về Thanh Nga với vai Nhàn trong “Sáu Giờ Giới Nghiêm”

1680 views

Phim Sau Giờ Giới Nghiêm phóng tác theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Mai Thảo.
Câu chuyện về một cô gái nghèo, vai được nghệ sĩ Thanh Nga đảm nhiệm, có nhiều tham vọng muốn thay đổi thân phận nên cuối cùng phải trả một giá rất đắt.

Nhàn, một thiếu nữ nghèo sống trong ngõ hẻm tối tăm, mơ mộng thoát ra đường lớn huy hoàng. Nhàn từ chối mối tình chân thật của Sinh, thợ sửa xe đạp, chạy theo sự phồn vinh giả tạo mà xã hội trưởng giả cố tình tạo ra để thu hút những con thiêu thân. Cuối cùng, tan nát cuộc đời, Nhàn muốn quay về ngõ hẻm cùng Sinh xây dựng hạnh phúc, nhưng đã muộn.
Các nhân vật nữ trong phim đều là những phụ nữ bất hạnh. Người thì đau khổ tận cùng đến lúc chết giữa tuổi thanh xuân. Còn Nhàn thì sau khi tan nát cuộc đời lại phải tiếp tục sống để cố tìm lại hạnh phúc đã mất.

Thanh Nga - Sáu Giờ Giới Nghiêm

Trong phim, Thanh Nga tỏ ra vững vàng ở những lớp đài các và bi thảm, lấy biết bao nước mắt khán giả. Về tạo hình, khi Thanh Nga xuất hiện với áo bà ba bằng gấm và khăn buộc tóc nhìn rất dễ thương.
Đoàn Châu Mậu đã gây thích thú cho người xem phim qua phong cách thư thái trầm tĩnh rất điêu luyện của anh.

Đoàn Châu Mậu - Sáu Giờ Giới Nghiêm

Phim Sau Giờ Giới Nghiêm được trình chiếu tại 12 rạp lớn trong đô thành, kể từ ngày 9/5/1972. Tuần đầu phim này được chiếu ở 6 rạp: Rex, Văn Hoa, Đakao, Nguyễn Văn Hảo, Khải Hoàn, Victory và tuần lễ thứ nhì phim này được chiếu ở 6 rạp khác…
Sau Giờ Giới Nghiêm được báo chí ngợi khen là một bộ phim tình cảm đã thành công từ màu sắc, âm thanh, ánh sáng. Đạo diễn Lê Dân đã làm sáng chói Thanh Nga từ đầu đến cuối. Phim cũng được các nhà phê bình phim cho là nâng cao bảng hiệu Liên Ảnh Công Ty và là phim màu có giá trị gây uy tín cho phim Việt Nam.

Thanh Nga - Sáu Giờ Giới Nghiêm

Đây là lần đầu tiên phim Việt Nam được chiếu tại nhiều rạp liên tục trong hai tuần như vậy. Giới điện ảnh Việt Nam đang thừa thắng xông lên, và việc bộ phim Sau Giờ Giới Nghiêm của Liên Ảnh Công ty trình chiếu ở 12 rạp lớn, được coi như mở đầu kỷ nguyên tươi sáng của làng phim” (trích Báo Nghệ Thuật Mới – 4/5/1972). Trong sự thành công đó có phần rất lớn của Thanh Nga.
Nhạc sĩ Hoàng Trọng cũng là người góp thêm phần thành công khi viết nhạc phim Sau Giờ Giới Nghiêm.

Phim Sáu Giờ Giới Nghiêm

Có cảnh Thanh Nga bị người vợ lớn của Mẫn (nghệ sỹ tiền phong Bích Thuận thủ vai) cho em út đánh ghen rồi đem vất ra lề đường. Cơn mưa làm cô tỉnh lại, thất thiểu đi về con hẻm cũ, ngó thấy cô bạn gánh nước mướn ngày xưa sống với cái hạnh phúc tầm thường, biết an phận, cô gái buồn bã bỏ đi trong giờ giới nghiêm. Nhạc nổi lên với giọng ca nức nở của Thái Thanh bài Đường Dài Một Bóng. “Đàn lỡ ngay từ phím tơ đầu tiên…Hạnh phúc không như giấc mơ triền miên…Đêm ngơ ngác một mình ai…Đường dài một bóng âm thầm….“. Một nét diễn khó quên!

Phim Sáu Giờ Giới Nghiêm

Phim màu, 35mm, màn ảnh rộng, dài 1 giờ 30 phút.
Sản xuất: Liên Ảnh Công Ty.
Giám đốc sản xuất: Lưu Trạch Hưng và Quốc Phong.
Kịch bản và đạo diễn: Lê Dân.
Quay phim: Châu Tùng.
Âm nhạc: Hoàng Trọng.
Diễn viên: Thanh Nga (Nhàn), Trần Quang (Sinh), Đoàn Châu Mậu (Mẫn), Ngọc Minh (Hoa), Ngọc Phu (Hoạch), Bích Thuận (Vợ Mẫn), Bà Năm Sa Đéc, Thùy Liên, Nguyên Hạnh, Bé Bự, Hoài Phong…

© Tác giả : Lê Quang Thanh Tâm

Nhớ về rạp xi-nê Rex, rạp tối tân nhất Đông Nam Á trước 1975

2443 views

Trong bài trước, tôi có liệt kê tất cả những rạp xi-nê của Sài Gòn trước 1975. Trong số các rạp kể trên, chúng ta phải nói đến một rạp của người Việt mà quy mô về mọi mặt của nó có thể nói đứng đầu cả Đông Nam Á, đó là rạp Rex.

Rạp Rex 1968-1969
Rạp Rex 1968-1969

Tính đến năm 1960, rạp Đại Nam trên đường Trần Hưng Đạo của ông bà Nguyễn Phúc Ưng Thi thuộc vào loại hạng nhất ở Sài Gòn. Rạp có một tầng lầu và máy lạnh mát rượi.
Có lẽ chưa hài lòng lắm với quy mô của rạp Đại Nam, ông bà Ưng Thi, một cặp thương gia thành đạt sở hữu nhiều rạp chiếu phim hàng đầu tại Sài Gòn, đã dồn hết vốn liếng mua một miếng đất trên đường Nguyễn Huệ gần Tòa Đô Chánh (nay là UBND TP.HCM) để xây dựng rạp Rex, một rạp chiếu bóng với quy mô chưa từng có ở Việt Nam.
Rạp Rex – đúng như ý muốn của chủ nhân – là một rạp chiếu bóng thuộc vào hàng tối tân bậc nhất. Rạp này được trang bị những tiện nghi hiện đại dành cho một rạp chiếu bóng. Dàn máy lạnh có công suất cực cao khiến cho 1.200 khán giả run cầm cập. Có người đi xem phim phải mang theo áo chống lạnh.

Rạp Rex 1966
Rạp Rex 1966

Màn ảnh của Rex là màn ảnh đại vỹ tuyến Todd-AO rộng đến 150 m2. Phim được chiếu tại đây là phim 70mm với dàn máy chiếu đặc biệt chỉ có ở Rex. Khán giả đến với Rex được tận hưởng khung cảnh rất trang nhã và sang trọng.
Thời bấy giờ, đối với những cặp tình nhân, được ngồi trên ghế nệm êm ái, xem phim nghe âm thanh nổi stereo, có lẽ đó là điều hạnh phúc nhất.
Vé của Rex thuộc loại khá đắt, gấp mất lần so với các rạp khác. Có 2 loại vé, dưới đất và trên lầu. Vé trên lầu có giá cao hơn và khách được sử dụng thang cuốn. Có thể nói đây là chiếc thang máy tự động đầu tiên ở Việt Nam, và lại trang bị cho một rạp chiếu phim!

Rạp Rex 1965
Rạp Rex 1965

Theo lời một người kể lại: “Trong ngày khai trương, một người đẹp lên lầu bằng thang cuốn. Có lẽ chưa quen với loại thang này nên đã bị thang máy cuốn luôn cái quần. Cũng may chưa có điều gì đáng tiếc xảy ra“. Thời điểm khai trương rạp Rex (1961) là một sự kiện gây được chú ý của không chỉ dân kinh doanh rạp mà còn cả giới chính trị gia thời đó.
Cuộn phim đầu tiên để khai trương rạp là phin Ben Hur. Phim đoạt 11 giải Oscar vào năm 1959, được trình chiếu tại Mỹ.
Thông thường một cuộn phim mới được chiếu tại Mỹ phải 4 năm sau mới về đến Việt Nam. Vậy mà Ben Hur chiếu cùng lúc với Mỹ chắc hẳn ông bà Ưng Thi phải mất một khoản tiền khá lớn để nhập về.
Trong 10 năm từ 1960 – 1970, thị trường phim ảnh và rạp chiếu bóng tại Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung rất phát đạt. Hầu như năm nào cũng có rạp mới khai trương dù vậy không rạp nào có quy mô bằng hoặc vượt qua được rạp Rex.

Tổng hợp : vietnamnet

Liệt kê những rạp xi nê ở Sài Gòn trước 1975

7893 views

Trước 1975, tại Sài Gòn có khoảng hơn 60 rạp hát lớn nhỏ. Thời ấy, người Sài Gòn giải trí chủ yếu là xem xi nê (hay còn gọi là chiếu bóng, chiếu phim) nên các rạp hoạt động rất rầm rộ.

Một thời vang bóng
Điện ảnh do người Pháp khai sinh vào cuối thế kỷ 18. Loại hình nghệ thuật này theo chân quân đội Pháp đến với người dân Sài Gòn vào những năm đầu của thập niên 1930. Hai rạp chiếu bóng đầu tiên được xây dựng để phục vụ chiếu phim.
Rạp Majestic nằm ở cuối đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi). Rạp thuộc loại hạng sang và đẹp, nằm cận kề với khách sạn Majestic.
Cũng trên con đường này, rạp Eden nằm ẩn mình bên trong hành lang Eden, vốn là thương xá mua sắm nổi tiếng. Theo đánh giá của nhiều người, đây là 2 rạp có cấu trúc đẹp và sang trọng bậc nhất thời bấy giờ.
Ban đầu, đối tượng đến xem phim tại 2 rạp này là người Pháp. Một số người Việt chịu ảnh hưởng lối sống của Pháp cũng thường xuyên đến. Điều bất ngờ – ngay cả chính người Pháp cũng không lường trước được – là sự hưởng ứng nồng nhiệt của các tầng lớp người Việt.

Rạp Lệ Thanh
Rạp Lệ Thanh

Chỉ trong khoảng thời gian hơn 10 năm, số lượng khán giả người Việt đến xem phim quá đông khiến các ông chủ rạp người Pháp phải nhường quyền kinh doanh chiếu bóng lại cho người Việt.
Đỉnh điểm của sự phát triển này xảy ra rầm rộ nhất là vào năm 1950. Hàng loạt rạp chiếu bóng từ hạng sang có máy lạnh với sức chứa khoảng 1.000 khán giả cho đến các rạp bình dân ở các vùng ven ra đời đều được người xem đón nhận nồng nhiệt.
Rạp Majestic hoạt động một thời gian sau đó chuyển đổi thành nhà hàng. Hiện nay nơi đây là phòng trà Maxim’s. Có thể nói, Majestic ra đời sớm nhất nhưng trụ với điện ảnh khá ngắn ngủi.
Rạp Eden tồn tại cho đến đầu thập niên 1970. Một phần của rạp được chuyển thành phòng trà Tiếng Tơ Đồng. Không lâu, Eden bị xóa sổ hoàn toàn để trở thành Trung tâm mua sắm Eden Mall. Ngày nay, dấu tích của rạp Eden, nhà hàng Givral, cà phê La Pagode, cả một chuỗi hình ảnh về Sài Gòn đã bị đập bỏ hoàn toàn để xây dựng khu thương mại…
Majestic và Eden không còn không có nghĩa sinh hoạt của các rạp chiếu bóng đi vào ngõ cụt mà ngược lại, hàng loạt rạp chiếu bóng khác ra đời đành dấu thời kỳ hưng thịnh nhất của loại hình nghệ thuật thứ 7.

Rạp Khải Hoàn
Rạp Khải Hoàn – 1968

Sau đây là danh sách các rạp xi-nê Sài Gòn trước 1975 được sắp theo thứ tự abc.

Alhambra – Nguyễn Cư Trinh.
Alliance Française – Đồn Đất. Rạp của Trung Tâm Văn Hóa Pháp chiếu toàn phim Pháp không có phụ đề Việt ngữ, hiếm khi thấy người Việt đi xem.
Aristo – Lê Lai. Sau 1954 đây là nơi trình diễn thường trực của đoàn cải lương Kim Chung di cư từ miền bắc vào nam, đoàn có thêm tên phụ là Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô. Nữ nghệ sĩ chính là Kim Chung.
Asam – Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao. Rạp nằm trong một hẻm nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng giữa đường đường Phan Thanh Giản. Rạp này đã biến mất hoàn toàn vào khoảng từ giữa đến cuối thập niên 60, không để lại vết tích gì.
Hiền Vương. Gần đó có tiệm mì Cây Nhãn nổi tiếng một thời, về sau nghe nói tiệm mì này dời về ngã tư hay ngã năm Bình Hòa gì đó.
Cẩm Vân.
Võ Di Nguy – Phú Nhuận.
Cao Đồng Hưng – Bạch Đằng, chợ Bà Chiểu, Gia Định.
Casino Đa Kao – Đinh Tiên Hoàng. Rạp tương đối khang trang, phim khá chọn lọc, giá cả nhẹ nhàng, địa điểm rất thuận tiện nằm gần Cầu Bông.
Casino Sài Gòn – Pasteur. Tên mới là Vinh Quang.
Cathay – Công Lý, Chợ Cũ.
Catinat – Tự Do. Rạp xi-nê tí hon này nằm trong một hành lang từ đường Tự Do xuyên qua đường Nguyễn Huệ về sau chuyển đổi thành phòng trà ca nhạc với nhiều tên : ‘Au Chalet’, và ‘Đêm Màu Hồng’, nơi ra mắt của ban ‘Phượng Hoàng’ thời kỳ trước khi nhập với ca sĩ Elvis Phương.
Cầu Muối – Bến Chương Dương, Cầu ông Lãnh. Chuyên hát bội.
Cây Gỏ – Minh Phụng, Chợ Lớn. Chuyên diễn Cải lương.

Rạp Long Vân
Rạp Long Vân

Diên Hồng – Yersin.
Đại Đồng – Nguyễn Văn Học, Gia Định.
Đại Đồng – Cao Thắng. Một rạp nhỏ chuyên chiếu phim cũ nhưng khá chọn lọc, giá cả thật nhẹ nhàng, địa điểm rất thuận tiện. Càng thuận tiện hơn nữa vì cạnh rạp có một tiệm bò bía rất ngon và rẻ.
Đại Lợi – Thoại Ngọc Hầu, Chợ Ông Tạ.
Đại Nam – Trần Hưng Đạo. Rạp Đại Nam là rạp sang trọng nhất Sài Gòn, những phim mới được chiếu trước tiên ở đây và một vài rạp khác rồi một thời gian sau mới được đưa đi tỉnh hoặc các rạp nhỏ chuyên chiếu lại. Mỗi phim gồm có nhiều cuộn nên thời đó mấy rạp cùng chiếu chung một phim bằng cách chia lệch giờ khởi chiếu. Mỗi khi chiếu xong một cuộn thì có người xách đi giao cho rạp kế tiếp và ngược lại.
Có lần rạp Đại Nam đang chiếu phim “Pillow Talk” (1959) thì anh chàng đi giao cuộn phim đã mải mê uống nước giải khát hay sao đó mà để mất đi cuộn phim phải giao. Tất cả các rạp cùng chiếu phim đó đành phải ngưng lại và đem phim khác ra chiếu đỡ. Mãi một thời gian sau, không rõ cuộn phim được chuộc lại hay phải mua phim mới Pillow Talk mới được chiếu trở lại. Đến khi rạp Rex ra đời vào năm 1962 thì rạp Đại Nam xuống còn ngôi vị thứ hai.
Đại Quang – Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn. Rạp này hoàn toàn Trung Hoa chẳng có gì là Việt Nam hết vì họ chiếu toàn phim Tàu.
Đồng Nhì – Lê Quang Định, Gia Định.

Rạp Palace
Rạp Palace

Eden -Tự Do.
Rạp quá nổi tiếng này không nằm ngoài mặt đường mà lại nằm sâu trong một thương xá cũng được gọi là Eden. Đến rạp, khán giả có thể đi vào từ phía đường Tự Do, Lê Lợi hay Nguyễn Huệ đều được cả. Cái tên rạp tiếng Pháp tự nó cho biết rạp này đã có từ thời Pháp thuộc và kiến trúc bên trong thì đúng y như những rạp bên Pháp được thấy qua các phim xi-nê. Ở Sài Gòn, chỉ duy nhất rạp này mới có hai balcons (tầng lầu).
Thông thường, khi xem xi-nê, ngồi balcon 1 là hay nhất vì nhìn xuống vừa tầm mắt không mỏi cổ và không bị cái đầu của người ngồi hàng ghế trước che khuất tầm nhìn. Balcon 2 của rạp Eden thì nhỏ hơn và quá cao nên nhìn sâu xuống muốn cụp cái cổ luôn nên phần đông khán giả chẳng màng để ý đến sự hiện hữu của nó, ngoại trừ dân đào kép Sài Gòn thì chiếu cố rất nhiệt liệt và gọi đó là ‘pigeonnier’ (chuồng bồ câu). Đi xem xi-nê một mình khi rạp hết chỗ phải lên đó thì buồn lắm vì trên ấy đào kép mùi mẫn chẳng cần biết trên màn ảnh chiếu cái gì, nhất là những cặp ngồi ở hàng ghế chót có sau lưng nguyên bức tường thì tha hồ lâm ly chẳng lo có ai nhìn đến trong cái tối mù mù.
Ca sĩ huyền thoại Pháp Dalida đã trình diễn ở rạp này.
Hào Huê – Sau này đổi thành rạp Nhân Dân – 372-374, Trần Phú, P7, Q5. Rạp ở gần khu Lacaze là rạp hát của gánh hát Quảng cũng được sửa lại cho gánh cải lương mướn.
Hoàng Cung – Triệu Quang Phục, Chợ Lớn.
Hồng Liên – Hậu Giang, Chợ Lớn.
Hùng Vương – Pétrus Ký, Sài Gòn.
Huỳnh Long – đường Châu Văn Tiếp – hông chợ Bà Chiểu
Hưng Đạo – Nguyễn Cư Trinh.
Khá Lạc – Nguyễn Tri Phương. Rạp nằm cạnh tiệm phở Tương Lai hiện vẫn còn bán phở.
Khải Hoàn – Võ Tánh và Cống Quỳnh.

Rạp Văn Cầm
Rạp Văn Cầm

Kim Châu – Nguyễn Văn Sâm, Chợ Cũ. Khi rạp bắt đầu khai trương thì họ đã quảng cáo sẽ chiếu phim “Sapho” (1960). Tuy chỉ là một phim hạng B hoặc C nhưng nữ tài tữ Tina Louise có vẻ đẹp duyên dáng nên rất được khán giă hưởng ứng. Qua đến những phim kế tiếp, rạp Kim Châu đã tuyển chọn những phim cùng loại nên rất được khán giả hài lòng.
Kinh Đô – Lê Văn Duyệt. Đây là một rạp xi-nê hạng sang, chỉ kém hơn rạp Đại Nam một tí. Rạp khai trương sau rạp Đại Nam nhưng lại chỉ hoạt động một thời gian tương đối ngắn ngủi rồi biến thành một chi nhánh của cơ quan USAID.
Kinh Thành – Hai Bà Trưng, Tân Định.
Lạc Xuân – Gia Long, Gò Vấp.
Lam Sơn – Bùi Chu. Mũi tàu Lê Lai, Bùi Chu, Võ Tánh chéo góc với nhà thờ Huyện Sĩ, vòng qua bên hông rạp phía đường Lê Lai thì có nhà của nữ kịch sĩ Kim Cương. Rạp xi-nê này chỉ tồn tại một thời gian rất ngắn ngủi rồi bị đóng cửa vì vị trí của rạp quá gần một nhà thờ, vào thời kỳ đó là Đệ Nhất Cộng Hòa, nên Công Giáo đang có ưu thế.
Lê Lợi – Lê Thánh Tôn. Rạp chiếu phim cũ nhưng tuyển chọn toàn phim hay và chỉ chiếu trong 1, 2, hoặc 3 ngày rồi đổi sang chiếu phim khác.
Những phim classic như “High Noon”, “Crimson Pirates”, “Vera Cruz”, “Waterloo Bridge”… được chiếu đi chiếu lại luôn, nếu hụt xem phim nào thì khán giả cứ kiên nhẫn chờ đợi, một thời gian sau thế nào phim đó cũng sẽ được chiếu lại. Lịch trình chiếu phim được niêm yết trước gần một tháng để khán giả chuẩn bị ngày đi xem phim.
Rạp Lê Lợi có thể nói là rạp duy nhất ở Sài Gòn chiếu phim theo phương thức này, một ít rạp khác có bắt chước phần nào nhưng rồi cũng không theo hoàn toàn hoặc sau đó phải thay đổi phương hướng được gọi là ‘revival movie theater’, chỉ khác một chi tiết là họ chiếu hai phim liên tiếp cùng có chủ đề giống nhau. Ai chịu đựng nổi thì ngồi xem hết, ai chịu không nổi thì phải bỏ về thôi vì quá đói bụng, họ không cho đem thức ăn từ ngoài rạp vào và trong rạp chỉ có bán popcorn (bắp rang Mỹ), kẹo, bánh, soda (nước ngọt có ga như: Coca Cola, 7Up…).
Lệ Thanh – Phan Phú Tiên, Chợ Lớn.
Lido – Đồng Khánh, Chợ Lớn. Rạp này có một lịch sử khá ly kỳ. Rạp nằm trong vùng Chợ Lớn cạnh Đại Thế Giới cũ chuyên chiếu phim u Mỹ trong khi các rạp chung quanh đều chiếu phim Tàu. Đến cuối thập niên 60, rạp ngưng hoạt động để cho Mỹ mướn làm khu cư trú và câu lạc bộ. Sau năm 1975, rạp hoạt động chiếu phim trở lại và chỉ mới gần đây, rạp đã bị đập phá ra để nhường chỗ cho một công trình xây dựng nhà cao tầng hay gì đó. Bạn nào có kỷ niệm đẹp hay quyến luyến rạp này thì chỉ còn có thể nhớ qua ký ức mà thôi vì rạp đã biến mất không còn nữa.
Long Duyên – Hồ Văn Ngà.
Long Phụng – Gia Long, chuyên chiếu phim Ấn Độ.
Long Thuận – Trương Công Định và Nguyễn An Ninh.
Long Vân – Phan Thanh Giản.
Majestic – Tự Do. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Nơi đây được xây thành vũ trường Maxim tầng trên và sân khấu trình diễn ca vũ nhạc kịch tầng dưới do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách. – Minh Châu – Trương Minh Giảng. – Minh Phụng – Hồng Bàng, Chợ Lớn. Thật ra, nơi đây là đình Minh Phụng, khi xưa có lúc khai thác chiếu phim ban ngày.
Mini Rex – Lê Lơị.
Moderne – Trần Văn Thạch, Tân Định. Tôi không có duyên với rạp này nên chưa bao giờ có dịp bước chân vào.
Theo lời một thân hữu, rạp này có vài ba đặc điểm: lối vào rạp đâm ngang hông phía giữa những hàng ghế, ghế bằng cây nên khi dứt phim khán giả cùng đứng dậy làm cho ghế cây khua lên rầm rầm, và cũng vì ghế cây nên đoàn quân rệp tha hồ cắn phá đám khán giả trong bóng tối của buổi chiếu phim.
Mỹ Đô – Trần Nhân Tôn và Vĩnh Viễn. Tên xưa là Thành Chung, tên mới là Vườn Lài.
Nam Quang – Lê Văn Duyệt và Trần Quý Cáp.
Nam Tiến – Bến Vân Đồn.
Nam Việt – Tôn Thất Đạm, Chợ Cũ. “The Bravados” (1958).
Nguyễn Huệ – Nguyễn Huệ. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là cơ sở U.S.O…
Rạp Nguyễn Văn Hảo – nay là rạp Công Nhân, trụ sở Nhà Hát Kịch Thành Phố, Số 30, Trần Hưng Đạo, P. Phạm Ngũ Lão, Q1.
Một rạp hát được mệnh danh là Hàng Không Mẫu Hạm trước 1975, nơi đóng đô của một số đoàn hát cải lương lớn ở Sài Gòn ngày trước như: đoàn Việt Kịch Năm Châu, đoàn Hương Mùa Thu, đoàn Hoa Sen.

Rạp Văn Hoa
Rạp Văn Hoa

Rạp Olympic – nay là Trung tâm Văn hóa TP.HCM – 97, Nguyễn Thị Minh Khai, P. Bến Thành, Q1. Rạp được công ty Kim Chung của ông bầu Long độc quyền cả chục năm trời từ sau năm 1958 cho 5 đoàn hát của công ty luân phiên diễn.
Với các vở diễn nổi tiếng một thời: Mạnh Lệ Quân, Lan và Ðiệp,…. * Khu vực “ngã tư quốc tế” (trục Phạm Ngũ Lão, Trần Hưng Đạo ngày nay) trở thành một trong những khu hoạt động nhộn nhịp nhất của làng văn nghệ Sài Gòn ngày đó. Mặc dù mật độ các rạp hát khá dày (Nguyễn Văn Hảo, Thanh Bình, Hưng Đạo, Quốc Thanh, Khải Hoàn) nhưng các đoàn hát lớn thường xuyên tập kết về, đây trở thành nơi tập trung, điểm hẹn của nhiều nghệ sĩ, giới ký giả kịch trường, các ông bà bầu muốn “săn” đào kép mới cũng tìm đến đây.
Oscar – Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn.
Phi Long – Xóm Củi.
Palace – Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn.
Quốc Thái – Trần Quốc Toản, Chợ Lớn.
Rạp Quốc Thanh – Nay là rạp phim Cinestar – 271, Nguyễn Trãi, P. Nguyễn Cư Trinh, Q1. Được thành lập năm 1960 khi đoàn Thái Dương ra đời, rạp cũng là nơi đóng đô của đoàn Dạ Lý Hương của ông bầu Xuân. Rạp có máy lạnh, có 1000 ghế trong khán phòng và sân khấu được thiết kế rộng rãi.
Rạng Đông – Pasteur. Tên cũ là Hồng Bàng.
Rex – Nguyễn Huệ.
Rạp Thanh Bình – sau đổi là rạp Quốc tế, gần chợ Thái Bình trên đường Phạm Ngũ Lão, nay là căn hộ chung cư cao cấp. Là rạp có thang cuốn đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn.
Lúc đầu là rạp chiếu bóng, sau được ông Diệu sửa thành rạp cải lương để đoàn hát Thủ Đô của ông Ba Bản khai trương, ghi một dấu ấn sâu sắc trong lãnh vực nghệ thuật sân khấu cải lương là có một đoàn hát Thủ Đô có nhiều tuồng hay, có cảnh trí tuyệt đẹp và dàn cảnh vĩ đại.
Thanh Vân – Lê Văn Duyệt, Hòa Hưng.
Thủ Đô – Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn. Tên cũ là Eden. Chuyên diễn cải lương
Trung Hoa – Đồng Khánh, trước nhà thờ Cha Tam, Chợ Lớn.
Văn Cầm – Trần Hưng Đạo. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là đại lý Honda đầu tiên tại Việt Nam.
Văn Cầm – Võ Di Nguy, Phú Nhuận. Rạp này có cái lệ luôn luôn chiếu một phim ngắn của 3 anh hề ‘Stooges’ trước khi chiếu phim chính. Rạp rất rẻ tiền không có máy lạnh nên rất ngộp thở.
Văn Hoa – Trần Quang Khải, Đa Kao.
Văn Lang – Cách Mạng, Phú Nhuận.
Victory Lê Ngọc – Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn.
Việt Long – Cao Thắng (sau trở thành Văn Hoa Sài Gòn, bây giờ là rạp Thăng Long).
Vĩnh Lợi – Lê Lợi. Khoảng đầu thập niên 60, có xảy ra một vụ nổ lựu đạn trong rạp, có người bị thương nặng phải cưa chân.

Tổng hợp : Vietnamnet & saigonchuyenchuake

Những Ngày Cuối Cùng Ở Việt Nam (Last Days in Vietnam)

1433 views

Bộ phim “Last days in Vietnam” (Những ngày cuối ở Việt Nam) về đề tài Chiến tranh Việt Nam cùng 14 phim tài liệu khác đã lọt vào danh sách 15 phim tài liệu được cân nhắc cho hạng mục “Phim tài liệu xuất sắc” do Oscar công bố ngày 12.02.2011.
“Last days in Vietnam” là câu chuyện bên lề về cuộc chiến thống nhất Việt Nam, xoay quanh bối cảnh Sài Gòn những ngày cuối tháng 4.1975. Giữa lúc quân đội miền Nam Việt Nam đang suy yếu, trong khi quân đội miền Bắc Việt Nam đang tiến sát Sài Gòn.
Giữa tình thế ấy, một số nhà ngoại giao và sĩ quan Mỹ còn sót lại đã phải đưa ra một quyết định vô cùng khó khăn: hoặc tuân thủ lệnh từ Nhà Trắng chỉ di tản công dân Mỹ, hoặc chống lại lệnh cấp trên, liều mình ở lại để giúp các công dân Việt Nam.
Đạo diễn của bộ phim, bà Rory Kennedy là một nhà làm phim tài liệu nổi tiếng với nhiều tác phẩm trước đó. Bà là con gái của Thượng nghị sĩ Robert Fitzgerald Kennedy và là cháu của cố Tổng thống John F. Kennedy.
Nữ đạo diễn đã sử dụng nhiều hình ảnh và tài liệu quý giá về Sài Gòn tháng 4.1975 để đưa vào “Last days in Vietnam” bên cạnh hồi ức của một số người Mỹ có mặt tại Việt Nam trước sự kiện nêu trên.
“Last days in Vietnam” được giới chuyên môn đánh giá rất cao cũng như nhận được nhiều lời khen từ khán giả. Bộ phim được số điểm 7.9/10 trên trang IMDB và 96/100 trên trang Rotten Tomatoes.

Phim “Như Giọt Sương Khuya” của đạo diễn Bùi Sơn Duân

1263 views

Phim chuyển thể từ tác phẩm Đừng Gọi Anh Bằng Chú của Nguyễn Đình Thiều.
Là bộ phim màu do Trần Quang, Bạch Tuyết, Đoàn Châu Mậu, Nguyễn Thị Tường Vy đóng chính.
Trong phim, Huấn (Trần Quang) là kỹ sư cơ khí du học từ Pháp về, nhưng không thích làm công chức hay làm công cho người ta, mà lên một tỉnh nhỏ vùng cao nguyên mở tiệm sửa xe hơi. Gặp lại người bạn cũ là anh của Dung (Bạch Tuyết), hai người này xúi Huấn đi buôn lậu quốc tế vùng Việt Miên Thái. Hạnh (Nguyễn Thị Tường Vy) em con cô của Dung gặp Huấn và yêu Huấn, nhưng Huấn lại yêu Dung. Trong cuộc Huấn đưa Dung sang Miên gặp Đạt, họ đụng độ bọn cướp. Dung bị bắn chết… Đây là loại phim hành động…
Đạo diễn Bùi Sơn Duân thành lập một hãng phim tư nhân mang tên Việt Ảnh, trong đó có đạo diễn Nguyễn Long, diễn viên Trần Quang và nhiều diễn viên khác kết hợp thành nhóm làm phim thể loại xã hội đen, buôn lậu. Ba phim Như Hạt Mưa SaNhư Giọt Sương KhuyaHải Vụ 709 đều là sản phẩm của hãng phim Việt Ảnh do ông làm Giám đốc.
Như Hạt Mưa Sa là bộ phim đen trắng, chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Ngọc Linh, do đạo diễn Bùi Sơn Duân dàn dựng năm 1971. Hợp diễn với Thẩm Thúy Hằng là Trần Quang, Bạch Tuyết, Đoàn Châu Mậu, Diễm Kiều… Người nữ nghệ sĩ khả ái này đảm nhận hai vai diễn là hai chị em sinh đôi với hai tính cách hoàn toàn trái ngược, cô chị thì dịu dàng và nữ tính, còn cô em thì trẻ trung, hiện đại. Bộ phim này cũng có doanh thu rất cao, riêng tiền lãi đã giúp cho nhà sản xuất đủ tiền làm tiếp phần 2 là Như Giọt Sương Khuya bằng phim màu, in tráng phim tại Hồng Kông. Nhưng ở bộ phim Như Giọt Sương Khuya quay vào năm 1972, nữ nghệ sĩ Bạch Tuyết vào vai chính bên cạnh nam diễn viên Trần Quang. Như Giọt Sương Khuya được chuyển thể từ tác phẩm Đừng Gọi Anh Bằng Chú của Nguyễn Đình Thiều, do đạo diễn Bùi Sơn Duân chỉ đạo diễn xuất.

Nhớ lại đạo diễn điện ảnh Bùi Sơn Duân

759 views

Đạo diễn điện ảnh Bùi Sơn Duân vừa là tên nghề nghiệp vừa là tên thật. Ông sinh năm 1932 tại Phú Yên và mất vào tháng 2 năm 2001 tại Hoa Kỳ. Trước 30/4/1975, đạo diễn Bùi Sơn Duân cộng tác với Trung tâm Quốc Gia điện ảnh (trực thuộc bộ Thông Tin) thực hiện phim tài liệu sau đạo diễn phim truyện, và 1969 ông ra lập hãng phim riêng lấy Việt Ảnh đặt văn phòng góc Pasteur – Hiền Vương Q3.
Trong quá trình nghề nghiệp, từ năm 1969 khi còn làm đạo diễn cho Trung tâm Quốc Gia điện Ảnh, đạo diễn Bùi Sơn Duân đã làm một cuộc “cách mạng” bằng cách sắp đặt tất cả tài tử diễn viên là người của điện ảnh mới và cũ cùng xây dựng phim, đặc biệt vai chính ông thường chọn một nam hay nữ nghệ sĩ cải lương nổi tiếng thời đó như Thanh Tú hoặc Bạch Tuyết đóng vai chính. Trong Ba Cô Gái Suối Châu do Thanh Tú thủ vai chính; còn trong phim Như Hạt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya cũng chỉ chọn nữ nghệ sĩ cải lương Bạch Tuyết góp mặt, cùng những khuôn mặt mới gồm Như Loan, Tony Hiếu, Trần Hoàng Ngữ…. Thấy đường lối trên làm ăn khá, khán giả hoan nghênh, đạt kết quả tốt đẹp về tài chánh, nhiều hãng phim khác đã đi theo, và nhờ đó mà một số nghệ sĩ cải lương được dịp chuyển sang lãnh vực điện ảnh và trở nên nổi tiếng hơn, như Hùng Cường, Thành Được, Thanh Nga, Bạch Tuyết v.v…
Khi đạo diễn Bùi Sơn Duân thành lập hãng Việt Ảnh, nhiều diễn viên trở thành “khuôn mặt tủ” của hãng như Trần Quang, Tâm Phan, Đoàn Châu Mậu, Lý Huỳnh, Bạch Tuyết, Như Loan, Trần Hoàng Ngữ, Tony Hiếu, quay phim Trần Đình Mưu cùng nhiều diễn viên trẻ khác kết hợp thành nhóm, làm phim thể loại xã hội đen, buôn lậu, như ba phim Như Hạt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya, Hải Vụ 709.
Như Hạt Mưa Sa là bộ phim đen trắng của hãng Việt Ảnh, chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Ngọc Linh, do Bùi Sơn Duân dàn dựng năm 1971 diễn xuất cùng Thẩm Thúy Hằng là Trần Quang, Bạch Tuyết, Đoàn Châu Mậu, Diễm Kiều… “Người đẹp Bình Dương” này đảm nhận hai vai diễn là hai chị em sinh đôi với hai tính cách hoàn toàn trái ngược, cô chị thì dịu dàng và nữ tính, còn cô em thì trẻ trung, hiện đại. Bộ phim có doanh thu rất cao, riêng tiền lãi đã giúp cho nhà sản xuất đủ tiền làm tiếp phần 2 là Như Giọt Sương Khuya bằng phim màu, in tráng phim tại Hồng Kông. Nhưng ở bộ phim Như Giọt Sương Khuya quay vào năm 1972, nữ nghệ sĩ Bạch Tuyết vào vai chính bên cạnh nam diễn viên Trần Quang. Như Giọt Sương Khuya được chuyển thể từ tác phẩm Đừng Gọi Anh Bằng Chú của nhà văn Nguyễn Đình Thiều.
Đạo diễn Bùi Sơn Duân còn thực hiện bộ phim Hải Vụ 709 vào năm 1974, do hãng phim Việt Ảnh hợp tác với hãng phim Dan Thai của Thái Lan. Truyện phim và đạo diễn do Bùi Sơn Duân đảm trách. Các diễn viên trong phim phía Thái Lan có Apinya và Duang Jai. Về diễn viên Việt Nam có Đoàn Châu Mậu, Trần Quang, Tony Hiếu, Tâm Phan, Trần Hoàng Ngữ… Quay phim Trần Đình Mưu. Phim đã quay nhiều cảnh đẹp ở Thái Lan cũng như những phong tục cổ truyền của nước này. Các cảnh quay trong nước được thực hiện tại Sài Gòn, Vũng Tàu, Phú Quốc. Một bộ phim màu hoành tráng và công phu, thuộc thể loại xã hội đen, buôn lậu.  Phim Hải Vụ 709 hoàn thành trước ngày 30/4/1975 nhưng chưa kịp chiếu ra mắt công chúng Sài Gòn.
Năm 1973, Liên hoan điện ảnh châu Á được tổ chức tại Sài Gòn. Nam tài tử Trần Quang được phân công đón tiếp phái đoàn điện ảnh các nước. Nhờ vậy, Trần Quang gặp Juisue Horikoshi, nữ diễn viên của Nhật Bản. Năm ấy cô 23 tuổi. Một tuần trôi qua nhanh, liên hoan kết thúc cũng là khi mối tình nảy nở nhưng chưa ai nói với ai lời nào. Khi tiễn đoàn ra phi trường, diễn viên sân khấu điện ảnh Mộng Tuyền (lúc còn hát cải lương có tên Kim Loan) đưa cho Trần Quang một chiếc bông tai : “Có người gửi cho anh cái này, mong có ngày đôi bông tai sẽ được tái ngộ”. Trần Quang chạy như tên bắn lên máy bay, ôm lấy cô ấy như một lời ngầm hẹn ước. Mối tình kéo dài đến năm 1974.
Năm đó đạo diễn Bùi Sơn Duân quyết định hợp tác với một hãng phim của Nhật làm phim Đôi Bông Tai dựa theo câu chuyện của Trần Quang, dự định hai diễn viên cũng chính là người thật : Trần Quang và Horikoshi. Còn cả hai tài tử dự định tháng 7 năm 1975 sẽ làm đám cưới và thực hiện bộ phim nhưng sau đó mọi chuyện đổi khác. Mối tình lãng mạn kéo dài trong ba năm đã kết thúc với những lời hẹn ước còn dang dở.  Trần Quang tâm sự  : “Sau này, nhiều lần tôi muốn qua Nhật tìm cô ấy, nhưng có cái gì níu bước chân tôi. Tôi muốn giữ lại trong nhau những hình ảnh đẹp nhất. Có thể cô ấy đã có chồng, đã có một cuộc sống hạnh phúc, tôi cũng đã có một cuộc sống khác.”
Bùi Sơn Duân vốn là một đạo diễn tâm huyết và rất yêu nghề. Sau năm 1975, với tên mới là đạo diễn Lam Sơn (như Lê Hoàng Hoa đổi tên Khôi Nguyên), ông đã thực hiện các bộ phim như : Giữa Hai Làn Nước, Bản Nhạc Người Tù, Đám Cưới Chạy Tang, Đường Dây Côn Đảo, Tiếng Đàn, Chiếc Vòng Bạc, Ông Hai Cũ, Con Gái Ông Thứ Trưởng, Biển Bờ, Chiều Sâu Tội Ác, Ba Biên Giới.
Năm 1977, trong vòng mấy tháng, đạo diễn Bùi Sơn Duân và nhà quay phim Nguyễn Đông Hồng cùng với đoàn làm phim của Xưởng phim Tổng hợp Thành phố đã làm xong phim Giữa Hai Làn Nước và cho ra mắt khán giả, bộ phim được đánh giá cao.
Năm 1989, đạo diễn Bùi Sơn Duân còn hỗ trợ cố vấn chỉ đạo nghệ thuật cho bộ phim vidéo Ba Biên Giới do Trần Quang (đang còn ở lại VN) muốn thử sức với vai trò đạo diễn.
Năm 1990, đạo diễn Bùi Sơn Duân xuất cảnh đi Mỹ. Năm 1993, ông nhận lời đạo diễn phim Gia Đình Cô Tư, một bộ phim hài với nghệ sĩ sân khấu điện ảnh Túy Hồng, và đây cũng là cuốn phim cuối cùng của ông.
Sống tại hải ngoại, Bùi Sơn Duân thành lập Hội Ðiện ảnh Việt Nam hải ngoại, tổ chức hằng năm các Ngày Điện Ảnh Việt Nam, ông từng tổ chức cuộc thi viết truyện phim với hy vọng khôi phục nền điện ảnh Việt Nam tại hải ngoại, nhưng chưa làm được gì đáng kể thì ông đã vĩnh viễn ra đi vào năm 2001 tại Pomona.
Đạo diễn Bùi Sơn Duân và cố nhạc sĩ Y Vân rất tâm đầu ý hợp nên bất cứ phim nào do đạo diễn Bùi Sơn Duân thực hiện đều mời nhạc sĩ Y Vân làm nhạc đệm cho phim của mình trước 1975 và sau 1975.
Đạo diễn Bùi Sơn Duân còn là bác ruột của diễn viên điện ảnh Thương Tín, hầu như các phim do ông làm đạo diễn sau 1975 đều luôn mời cháu ruột mình tham gia vai chính hoặc vai thứ ở các phim như Tiếng Đàn, Chiếc Vòng Bạc, Ông Hai Cũ, Biển Bờ, Chiều Sâu Tội Ác.

(Theo Nguyễn Việt viết và tổng hợp từ nhiều nguồn)

Nắng Chiều (1971) Phim Saigon trước 1975 của đạo diễn Lê Mộng Hoàng

1590 views

Nắng Chiều” là bộ phim màu do Hãng phim Lido sản xuất, đạo diễn Lê Mộng Hoàng thực hiện năm 1971, với sự tham gia của các diễn viên như: Thanh Nga, Hùng Cường, ca sĩ Phương Hồng Ngọc, Ngọc Phu…
Nội dung của “Nắng Chiều” nói về mối tình đầy trắc trở của một cô thôn nữ (Thanh Nga) và anh chàng lính ngụy (Hùng Cường). Hai người yêu nhau, nhưng đã bị cô em họ (Phương Hồng Ngọc) ganh ghét, tìm cách chinh phục anh lính. Vì không được anh lính đoái hoài tới, cô đã thuê mướn bọn lưu manh chặn đường cô thôn nữ để hãm hiếp tập thể. Tủi nhục, cô thôn nữ bỏ vào chùa đi tu để quên đi nỗi thương đau. Nhiều lần người yêu của cô tìm tới chùa để thuyết phục cô trở về cuộc sống đời thường, song cô đều tránh mặt, không dám gặp lại người yêu vì thấy mình không còn xứng đáng nữa. Nhưng rồi cuối cùng bằng sự kiên nhẫn của anh lính, sự giúp đỡ của gia đình cô thôn nữ và sự hối hận của cô gái hàng xóm hại người, đã đưa cô thôn nữ xa rời cửa Phật để trở về với người yêu của mình, hạnh phúc bên nhau. Trong phim này, có cảnh anh lính chơi đàn ghita và hát bài “Nắng chiều” của nhạc sĩ Lư Trọng Nguyễn, do chính nghệ sĩ Hùng Cường hát.