Tín ngưỡng

Chùm ảnh lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội vào những năm 1920-1929

339 views

Hà Nội, đền thờ Hai Bà Trưng, còn gọi là Đền Đồng Nhân vốn dựng từ năm 1160 đời vua Lý Anh Tông ở phường Bố Cái, tức là bãi Đồng Nhân, bên bờ sông Hồng. Năm 1819, vì bãi bị lở, dân dời đền vào khu vực trường Giảng Võ cũ của thời Lê, thuộc đất thôn Hương Viên, tổng Thanh Nhàn huyện Thọ Xương tức địa điểm hiện nay.

Từ nhiều thế kỷ qua đến nay, đền là nơi thờ Hai Bà Trưng linh thiêng bậc nhất ở kinh đô Thăng Long và miền Bắc nói chung. Ngôi đền đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích Lịch sử Quốc gia ngay đợt đầu tiên vào năm 1962.

Mỗi năm đền tổ chức một lễ hội lớn diễn ra từ ngày 3-6/2 Âm lịch để tưởng nhớ công lao của Hai Bà Trưng. Mồng 4, làng vào đám bằng tế nhập tịch và mồng 5 là hội rước nước. Đám rước đi từ đền ra phố Huế, lên Hàng Bài đến tận đền Bà Kiệu ở Hồ Gươm, rẽ ra Cột đồng hồ ở phố Trần Nhật Duật, rồi đưa choé xuống thuyền ra giữa sông lấy nước về nấu với trầm hương để tắm tượng. Hai lão bà trong làng, tính cách khiêm nhường, đức hạnh, được dân cử để tắm tượng, mặc áo mới cho Hai Bà trong ngày hội lớn.

Cùng nhau xem loạt ảnh đặc sắc về lễ hội này do người Pháp chụp vào những năm 1920-1929.

Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Khung cảnh ở sân đền. Trong điện thờ, các vị chức sắc đang làm lễ trước bàn thờ
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Một vị cao niên đọc sớ trong điện thờ
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Các hương chức, quan viên và nhạc công tập trung phía trước điện thờ
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Trẻ em cầm cờ đứng dọc lối vào điện thờ trong lễ hội đền Đồng Nhân
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Kiệu thờ và các đồ lễ được đặt ở sân đền để chuẩn bị cho đám rước tôn vinh Hai Bà Trưng
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Hai chiếc bình đựng nước thiêng sẽ được rước trong lễ hội
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Người hành lễ cầu khấn bên chiếc kiệu đặt ở sân đền trước lễ rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Các chức sắc mặc lễ phục, chụp ảnh kỷ niệm với tượng voi ở sân đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Các quan chức chụp ảnh kỷ niệm trước bức bình phong của đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Nhóm nam giới có địa vị trong làng chụp ảnh kỷ niệm
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Đám rước chuẩn bị khởi hành từ sân đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Tượng voi được đưa ra trước cổng đền để phục vụ lễ rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Chiếc kiệu lớn được đưa ra khỏi cổng đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Đám rước đi qua đường làng
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Dân làng tề tựu xem đám rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Người khiêng trống trong đám rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Bến sông Hồng gần đền Đồng Nhân tấp nập khách hành hương qua lại bằng thuyền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Một con thuyền chở đồ lễ phục vụ lễ hội

Theo Kiến Thức

Kho tài liệu Việt Nam trong Hội Thừa Sai Paris

472 views

Từ tháng 09/2019, toàn bộ tài liệu lưu trữ, thư viện, kho tranh ảnh, bản đồ và các bộ sưu tập đồ vật của Hội Thừa Sai Paris, Missions Etrangères de Paris (MEP), được quy tụ về Viện Nghiên Cứu Pháp-Châu Á, Institut de Recherche France-Asie (IRFA), trong đó kho tài liệu liên quan đến Việt Nam chiếm một phần quan trọng.

Có thể nói cha Alexandre de Rhodes là người đóng vai trò lớn trong mối liên hệ giữa Hội Thừa Sai Paris và Việt Nam. Cuốn Phép giảng tám ngày (Cathéchimus / Cathéchisme) của cha Alexandre de Rhodes, xuất bản vào thế kỷ XVII, cùng với nhiều tác phẩm quý khác, được Viện tự hào trưng bầy trong tủ kính đặt ngay lối vào chính ở phố Babylone.

Bà Marie-Alpais Dumoulin, giám đốc Viện IRFA, cho biết đây chỉ là một vài mẫu nhỏ được trưng bày nhân lễ khánh thành Viện vào tháng 01/2020.

«Cha Alexandre de Rhodes là người khởi xướng sáng lập Hội Thừa Sai Paris vì Cha là người thỉnh cầu Tòa Thánh Roma thành lập một hội truyền giáo mới biết rõ các ngôn ngữ bản địa và có thể truyền giáo bằng những kiến thức văn hóa bản địa.
Cha Alexandre de Rhodes truyền giáo ở Việt Nam và bản thân cha là một người biết rất rõ ngôn ngữ ở Việt Nam lúc đó. Cha Alexandre de Rhodes là người tiếp tục công việc của các cha truyền giáo trước đó, có nghĩa là ghi theo bảng chữ cái la tinh tiếng nói của người Việt, sau này được gọi là quốc ngữ. Chính cha Alexandre de Rhodes là người cho in cuốn Dictionnaire annamite-portugais-latin. Tại sao lại là La tinh và Bồ Đào Nha ? Vì la tinh là ngôn ngữ của Giáo Hội, còn Bồ Đào Nha là tiếng của những tu sĩ dòng Tên, truyền giáo trong khu vực vào thế kỷ XVII.
Sau cuốn từ điển đó, Alexandre de Rhodes in thêm cuốn Phép giảng kinh tám ngày (Cathéchisme) bằng tiếng Việt. Cuốn Phép giảng kinh này rất được chú ý trong bộ sưu tập của chúng tôi vì trong ít nhất hai thế kỷ sau đó, rất nhiều cha truyền giáo, được cử sang Việt Nam, đã sử dụng cuốn giảng kinh đó
».

Những tài liệu quý hiếm về dân tộc thiểu số Việt Nam

Viện IRFA chỉ có thể tiếp khoảng 10 độc giả mỗi ngày, một phần do diện tích phòng đọc khá nhỏ, nhưng lý do chính là Viện muốn bảo đảm môi trường nghiên cứu thuận lợi nhất, phục vụ chu đáo nhất nhu cầu tài liệu của độc giả, có nhiều thời gian với mỗi độc giả để hướng họ đến những tài liệu liên quan.

Ngay lối vào chính của Viện IRFA là cầu thang dẫn lên tầng 1, nơi có kho lưu trữ tài liệu viết tay của các nhà truyền đạo Hội Thừa Sai Paris, có khối lưu trữ dài khoảng 513 mét. Kho được chia thành hai khu vực : khu vực bảo quản tài liệu và phòng đọc.
Toàn bộ tài liệu lưu trữ được xếp trên các giá, xê dịch được nhờ hệ thống đường ray và để tiết kiệm diện tích, được xếp theo từng nước và tên nhà truyền giáo.

«Tài liệu về Việt Nam nằm từ dãy 28 đến dãy 32. Và nếu tôi mở từng dãy, chúng ta sẽ thấy là mỗi dãy có rất nhiều tài liệu ở trong. Lưu trữ về những nhiệm vụ ở Việt Nam có từ thời những nhà sáng lập Hội Thừa Sai Paris, có nghĩa là từ những năm 1770.
Ví dụ ở dãy này, khi mở ra, chúng ta thấy những hộp đựng tài liệu lưu trữ của địa hạt giám mục Kon Tum, được thành lập từ những năm 1930. Chưa đầy một thế kỷ mà chúng tôi đã có nhiều tài liệu như thế này về Kon Tum, vì địa hạt giám mục Kon Tum được một giám mục của Hội Thừa Sai Paris quản lý cho đến năm 1975 vì thế, tất cả tài liệu lưu trữ được chuyển về đây. Điều này cũng cho thấy mong muốn mở rộng việc truy cập những tài liệu này, bởi vì tài liệu lưu trữ ở Kon Tum liên quan thực sự đến lịch sử Việt Nam và lịch sử Giáo Hội Việt Nam. Vì vậy, nhiệm vụ của chúng tôi là để độc giả có thể truy cập được những tài liệu này
».

Bà Marie-Alpais Dumoulin đã chuẩn bị một chiếc hộp nhỏ bằng gỗ, hình chữ nhật dài khoảng 40 cm và rộng khoảng 10 cm, để giới thiệu. Bên ngoài ghi Danh mục về dân tộc, thực vật của Jacques Dournes (1922-1993), một linh mục và là nhà nhân chủng học nổi tiếng về dân tộc Sré và Gia Rai ở Việt Nam.

«Cha Jacques Dournes, linh mục của Hội Thừa Sai Paris, đã sống hơn 30 năm ở Việt Nam, cùng với người dân tộc Sré (thuộc dân tộc Cơ Ho) và người Gia Rai (Jörai) ở vùng tây nguyên. Ông rất thích văn hóa Gia Rai và ông hiểu ra rằng để có thể hiểu được rõ văn hóa Gia Rai, ông phải biết được thế giới của họ. Và để hiểu được thế giới đó thì phải biết được cả thế giới thực vật và để làm được điều này, như chính ông nói, phải đi chân trần, cùng họ đi khám phá những loài thực vật.
Điều lý thú ở đây là việc thu thập những tên cây cỏ đã mang lại kết quả là vào năm 1969, cha Jacques Dournes cho xuất bản cuốn sách Bois Bambou (Gỗ, Tre). Tên sách thể hiện rõ thế giới thực vật biểu tượng của người Gia Rai. Ông giải thích rõ là ông không nghiên cứu cụ thể từng loài cây để viết một cuốn từ điển chuyên biệt mà là để hiểu rõ hơn làm thế nào thế giới thực vật lại hòa nhập với thế giới văn hóa nói chung của người Gia Rai
».

Bên phía phòng đọc, Brigitte, người quản lý kho lưu trữ, chuẩn bị tài liệu và hướng dẫn cho một độc giả nghiên cứu về tiểu sử một nhà truyền đạo thuộc Hội Thừa Sai Paris, tử vì đạo ở Triều Tiên.

«Brigitte cung cấp dần dần cho tôi những tài liệu, bản thảo của vị thánh tử vì đạo. Tôi cũng được bà phụ trách thư viện giúp tìm một số đầu sách có trong thư viện. Ngoài ra, nhờ Brigitte giúp đỡ, tôi còn đọc được các bản chụp phim (microfiche) những tài liệu mà không thể truy cập được tài liệu gốc.
Trước khi lên Paris, tôi viết thư cho Brigitte để bà ấy cho một vài hướng dẫn và chuẩn bị trước những tài liệu mà tôi yêu cầu. Tôi có thể giữ chúng tại phòng đọc trong vòng 24 hoặc 48 tiếng. Đó là khoảng thời gian tôi lưu lại Paris, bởi vì tôi không thể đọc được hết một lần.
Tôi đánh giá rất cao về mức độ nhanh chóng, khả năng đối thoại, trao đổi với nhân viên của Viện, tiếp theo là việc tài liệu được đặt trước được chuyển đến người đọc rất nhanh. Tôi đánh giá cao sự hỗ trợ của Viện IFRA
».

Thư viện với hơn 1.000 đầu sách về Việt Nam

Để đi sang thư viện, độc giả sẽ phải đi qua một khoảng sân rộng. Phòng đọc nhỏ xinh ở tầng trên cùng của tòa nhà chỉ có thể tiếp được hai độc giả cùng lúc.
Bà Annie Salavert, phụ trách thư viện, cho biết kho sách liên quan đến Việt Nam được phân chia và lập danh mục trực tuyến vào năm 2017.

«Một nữ nghiên cứu sinh Việt Nam chuyên về ngôn ngữ đã giúp tôi trong suốt một năm. Cô ấy đã lập được danh sách hơn 1.000 đầu sách bằng nhiều ngôn ngữ ở Việt Nam, trong đó hơn một nửa là tiếng Việt. Phần còn lại được viết bằng những ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở cao nguyên. Và đây chính là điểm đặc biệt của Hội Thừa Sai Paris và là sự đa dạng của Viện Nghiên Cứu Pháp-Châu Á. Về điểm này, cần phải nhấn mạnh đến công trình của cha Jacques Dournes.
Ngoài ra, trong số các tài liệu, sách bằng tiếng Pháp, phải kể đến những công trình nghiên cứu của cha Léopold Cadière, đặc biệt là cuốn kỉ yếu Những Người bạn của Huế xưa (Bulletin des Amis du Vieux Huế). Cha là giám đốc, kiêm chủ biên của kỉ yếu từ năm 1914 đến năm 1944. Bộ sưu tập những số của tạp chí đó là một gia tài quý giá, và dĩ nhiên là một kho báu đối với IRFA
».

Bà Annie Salavert nhận xét kho sách Việt Nam có vai trò quan trọng đối với Hội Thừa Sai Paris, cũng như những kho sách bằng nhiều ngôn ngữ châu Á khác.

«Những tác phẩm trong kho sách tiếng Việt được đưa về Hội Thừa Sai Paris nhờ các cha truyền giáo. Chúng tôi cũng đã bị mất nhiều bộ sưu tập lớn ở Việt Nam khi các cha phải rời Đông Dương, lúc đó có rất nhiều cha chỉ có mỗi cuốn Kinh Thánh trong túi. Thật đáng tiếc là nhiều tủ sách của các cha ở Việt Nam đã bị thất lạc. Lẽ ra chúng tôi đã có nhiều hơn là 1.000 cuốn sách. Tôi rất tiếc nhưng chúng tôi cũng lưu được nhiều vết tích của nhà in Quy Nhơn, cũng như một số nhà in khác, mà Viện sẽ còn có nhiều việc phải làm».

Tất cả các tác phẩm trong thư viện của IRFA đều có thể truy cập trên trang web của Viện. Một điều dễ chịu khác là độc giả đến tận nơi, có thể được tận hưởng bầu không khí yên bình lạ thường giữa lòng Paris và được chiêm ngưỡng công trình kiến trúc độc đáo của nhà thờ Chapelle de l’Epiphanie có từ thế kỷ XVII.

Tác giã : Thu Hằng (RFI)

Tòa thánh Cao Đài nhìn từ trên cao

422 views

Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh (cách trung tâm Thành phố Tây Ninh khoảng 4 km về phía đông nam.) được chụp từ trên cao, tháng 07 năm 1948.


Vue aérienne du temple Cao Dai à Tay Ninh (à environ 4 km au Sud-Est du centre ville de Tay Ninh au Sud du Vietnam), le 7 mai 1948.


Aerial view of Cao Dai Temple in Tay Ninh (about 4 km in southeast of Tay Ninh town, in Southern of Vietnam), May 7, 1948.

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn năm 1948

1198 views

Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn, hay còn được gọi là Vương cung thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội ( Cathédrale Notre-Dame de Saïgon ). Ngôi nhà thờ đầu tiên được lập ở đường Số 5, ngay trên địa điểm của một ngôi chùa nhỏ bị bỏ hoang. Vì nhà thờ quá nhỏ nên vào năm 1863, Đô đốc Bonard đã quyết định cho khởi công xây dựng ở nơi khác một nhà thờ khác bằng gỗ bên bờ “Kinh Lớn”. Cố đạo Lefebvre tổ chức “Lễ đặt viên đá đầu tiên” xây dựng nhà thờ vào ngày 28 tháng 3 năm 1863. Hoàn thành vào năm 1865, nhà thờ bằng gỗ ban đầu được gọi là Nhà thờ Saigon. Tháng 8 năm 1876, Thống đốc Nam kỳ Duperré đã tổ chức một kỳ thi vẽ đồ án thiết kế nhà thờ mới và đã chọn đồ án của kiến trúc sư J. Bourard. Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên.


Cathédrale Notre-Dame de Saïgon (Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn) a été construit par les français. Sa construction a été initiée en Août 1876 par le Gouverneur de la Cochinchine Marie Jules Dupré qui a choisi le projet de l’architecte Jules Bourard. Ses premières pierres ont été posées, le 7 octobre 1877, par Mgr Isidore Colombert.


Basilica of Our Lady of The Immaculate Conception (Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn) was built by the French. Its construction was initiated in August 1876 by the Governor of Cochinchina Marie Jules Dupré who chose the design by architect Jules Bourard. On 7 October 1877, Bishop Isidore Colombert laid the first stone in an inaugural ceremony.

Hộ pháp đạo Cao Đài Phạm Công Tắc

957 views

Hộ pháp đạo Cao Đài Phạm Công Tắc, tự là Ái Dân, biệt hiệu Tây Sơn Đạo, về nhà sau lễ nửa đêm bằng xe xích lô của giáo chủ.
(Tây Ninh tháng 07 năm 1948)


Le Pape du Caodaïsme Phạm Công Tắc de retour, sur le cyclo papal, après sa messe de minuit.
(Tây Ninh, Juillet 1948)


Caodaist Pope Phạm Công Tắc on the return way, in the papal tricycle, after holding midnight mass.
(Tây Ninh, July 1948)