Tín ngưỡng

Chuyện kể về các thầy bói đất Sài Gòn xưa

462 views

Giai thoại kể lại, có quan chức chế độ Sài Gòn được thầy bói khuyên là nên luôn luôn thắt cà vạt màu xám có sọc màu hồng, và ông này đã âm thầm làm như vậy trong bao nhiêu năm trời. Vì sự mê tín của cả nhân dân và chính quyền, các vị thầy bói có ảnh hưởng rất lớn, nếu không nói là đã đóng những vai trò quan trọng trên chính trường.

Các thầy bói nổi danh ở Sài Gòn

Trong nghề bói toán ở Sài Gòn trước năm 1975, các thầy bói đều là những người làm ăn khá giả và rất có uy tín xã hội. Trong đó, số thầy bói từ miền Bắc di cư vào Nam chiếm một lượng lớn.

Thầy Khánh Sơn

Có lẽ, thầy Khánh Sơn là người nổi tiếng nhất và lâu nhất ở Sài Gòn trước năm 1975. Từ những năm Pháp thuộc, thầy đã tự xưng là Maitre Khánh Sơn. Báo chí thời ấy đã đăng ảnh thầy đeo kính trắng trí thức, một ngón tay chỉ vào cái chìa khóa, tượng trưng cho sự khám phá mọi điều huyền bí (?!). Thầy hành nghề từ những năm 1940, sau khi tốt nghiệp bằng sư phạm tại Hà Nội, chứ không phải vì thất nghiệp mà phải xoay nghề như một số thầy ở bên Tàu sang Việt Nam.

Theo nhiều giai thoại, thầy Khánh Sơn là người hào hoa phong nhã, lại làm ra tiền nên dù vợ con đàng hoàng, thầy vẫn được các bà, các cô mê mệt. Viên toàn quyền Pháp Pasquier trấn nhậm Đông Dương vào năm 1936, được thầy Khánh Sơn đã đưa ra một “câu sấm” để giải đoán trường hợp ông ta:

Bao giờ hai bảy mười ba
Lửa thiêng đốt cháy tám gà trên mây

Theo một số người, thầy Khánh Sơn cho rằng “tám gà” là “bát kê” (phiên âm của tên vị toàn quyền); và “trên mây” là “máy bay”. Sau đó ít lâu, máy bay trên chở viên viên toàn quyền bay về Pháp bị bốc cháy. Không những ông ta mà cả tám người trên phi cơ đều tử nạn. Thời gian hành nghề của thầy Khánh Sơn kéo dài rất lâu. Thầy đã từng là nhà đoán vận mạng riêng của rất nhiều nhân vật tên tuổi như: cựu hoàng Bảo Đại, cựu quốc vương Sihanouk…

Thầy Minh Nguyệt

Thầy Minh Nguyệt, là một người miền Nam, tự quảng cáo trên báo là giáo sư Minh Nguyệt, và mở văn phòng ở đường Đề Thám. Cùng với các thầy Huỳnh Liên, Khánh Sơn, thầy Minh Nguyệt là một nhà bói toán có đến hàng chục ngàn thân chủ.

Văn phòng của thầy lúc nào cũng đầy nữ thân chủ, phần đông là các cô có chồng quân nhân Mỹ đã bỏ Việt Nam. Các cô tới để nhờ thầy đoán xem bao giờ gặp lại cố nhân để cho đời sống được lên hương như trong quá khứ. Hàng chục cô trong đó mong được nâng khăn sửa túi cho giáo sư Minh Nguyệt, nhưng thầy nghiêm lắm, chẳng bao giờ “trăng hoa”.

Thầy Nguyễn Văn Canh

Thầy Nguyễn Văn Canh sinh quán tại Nam Định. Thầy Canh mù lòa từ thuở sơ sinh, nên được gia đình cho học nghề bói toán để làm kế sinh nhai. Thuở đầu đời, thầy hành nghề tại Thái Bình, Hà Nội, rồi di cư vào Sài Gòn. Dù bị mù nhưng thầy Canh có đến mười người con, tất cả đều được sinh trưởng trong cảnh no ấm sung túc nhờ nghề của thầy, vốn là một nghề rất sáng giá vào thời ấy. Thầy sở trường về tử vi và bói dịch, nổi tiếng như một nhà tiên tri.

Dáng người bệ vệ cao lớn, thầy có sức khỏe dồi dào và thần trí minh mẫn. Xem tử vi trên năm đầu ngón tay, thầy Canh chỉ cần nghe ngày sinh tháng đẻ của thân nhân một lần là nói ngay vanh vách sao nào đóng ở cung nào, cung thê có đào hoa hồng loan thì sao, cung mệnh không có chính diệu mà đắc tam không thì cuộc đời sẽ như thế nào. Nói rồi, thầy nhớ mãi, lần sau khách tới chỉ cần nói tên là thầy biết số này ra sao!

Thầy Ba La

Thầy Ba La cũng sinh quán ở ngoài Bắc, và di cư vào Sài Gòn. Trước năm 1975, thầy Ba La mở văn phòng bói toán, khách bước vào trông thấy ngay một cụ già tiên phong đạo cốt, râu tóc bạc phơ, chẳng khác gì các đạo sĩ trong truyện Tàu.

Thầy cũng mù lòa từ lúc trẻ nên đã chọn nghề này để sinh sống. Văn phòng thầy Ba La tiếp toàn là các vị trí thức, giáo sư, kỹ sư, luật sư… Có người không tới để nhờ thầy đoán vận mệnh, mà chỉ đến để xin được luận đàm về tử vi. Thầy Ba La không làm khó trong việc tiếp thân chủ, nhưng thầy hết sức thận trọng khi đặt một lá số, gieo một quẻ bói.

Chuyện kể rằng, có hai vợ chồng nọ cầu tự mãi mới có một đứa con trai. Năm lên ba tuổi, cậu bé bị bệnh mà mất. Hai vợ chồng lại tiếp tục “cầu tự” để xin được ‘trả lại’ đứa con trai. Ba năm sau, họ lại sinh được một bé trai. Đứa bé giống anh trai đã mất như đúc, kể cả nốt ruồi son giữa ngực. Vì vậy hai ông bà thân sinh lấy tên người anh đặt cho người em, cả giấy khai sinh đều giữ nguyên của người anh để đi học, dù họ cách nhau ba tuổi.

Cậu bé lớn lên, học hành đõ đạt và tìm đến thầy Ba La để nhờ giải đáp cuộc đời mình. Anh ta đưa thầy xem lá số tử vi của anh trai, thầy Ba La càng xem càng toát mồ hôi, miệng không ngớt thốt lên : ‘Lạ quá, lạ quá’. Sau cùng, thầy nói rằng :
Nếu thật anh sinh vào ngày giờ này, tháng này, năm này, thì anh đã mệnh yểu từ năm lên ba !

Thầy Ba La xem lại thật kỹ, vì bị mù, nên thầy gọi người nhà ra nhận xét và trả lời từng điểm: có phải cái trán thế này, cái mũi thế này, cặp mắt thế này, tầm vóc cao lớn như thế này…không ? Và nhất là có nốt ruồi son ở giữa ngực? Thầy lập lại :
Có nốt ruồi đỏ thật à ? Thế thì lạ quá ! Tôi chịu, không đủ tài đoán số này cho anh. Anh hãy cầm tiền về và chỉ đến khi nào anh… có được một lá số tử vi khác !

Thầy Ba La bực tức vì cảm thấy, lần đầu tiên, mình không tin ở khả năng của mình. Cũng bực tức nghi ngờ phần nào người thân chủ này đã có thể không thành thật. Anh thanh niên cảm phục đến sợ hãi, xin lỗi thầy và trình ra lá số tử vi với ngày tháng sinh thật.

Hầu hết những giai thoại trên đều không có sức thuyết phục, nhưng có một điều chắc chắn là nghề bói toán ở Sài Gòn trước năm 1975 rất thịnh hành. Thậm chí, các nhà cầm quyền thời điểm đó còn mời cả các thầy bói lên truyền hình để tiên đoán về vận mệnh chính trị quốc gia. Cuộc sống của các thầy bói này do đó cũng rất sung túc.

Những “bóng hồng” trong làng bói toán Sài Gòn

Tuy cũng thành công, nhưng so với quý ông thì số lượng các thầy bà thời ấy ít hơn nhiều. Thường thì, khách của các thầy bà là phụ nữ, nhưng đôi khi cũng còn là các thiếu gia lắm tiền nhưng mê tín.
Nghề bói toán dù hiện nay không được công nhận nhưng rất có sức hấp dẫn, đặc biêt đối với nữ giới.

Bà Anna Phán

Bà Anna Phán đã nổi tiếng một thời từ Hà Nội. Khi bà theo làn sóng di cư vào Nam thì chỉ còn hành nghề được ít năm nữa. Cũng có người cho rằng là vì tuổi già sức yếu nên con cháu không muốn bà tiếp tục, dù rằng… lộc thánh hãy còn.

Madame Claire

Trẻ hơn Bà Anna Phán, có một bà thầy gợi cảm mang cái tên rất đầm: Madame Claire. Madame Claire chẳng những bói hay mà còn là một người lịch lãm và gợi cảm. Có một công tử Bạc Liêu về già còn đem đến tặng Madame vài món nữ trang đáng giá.

Cô Bích

Cô Bích, một thiếu phụ người Đà Nẵng nổi danh về bói toán mà cũng có lập am, lên đồng. Xưa kia, hồi còn Pháp thuộc, cô đã từng có chồng sĩ quan Pháp nhưng không có con. Là người thất học nhưng khi “đồng lên”, cô Bích viết chữ Hán đẹp như rồng bay phượng múa. Đó là lời tiên thánh truyền dạy cho kẻ đến hầu cửa cô, một người mà khi đồng lên thì trở nên đẹp lộng lẫy với cặp mắt sắc như dao. Cô Bích đã tạ thế tại Đà Nẵng sau năm 1980.

Nhưng vị thầy bói nữ lừng danh hơn cả phải kể là bà Nguyệt Hồ ở đường Đinh Công Tráng. Vào khoảng cuối năm 1974, bà Nguyệt Hồ 43 tuổi, xưa kia đã từng nổi tiếng là hoa khôi.
Cả bốn vị nữ thầy trên đây đều đã thành công với nghề nghiệp và sống một cuộc đời sung túc, nếu không nói là vương giả. Các bà không những chỉ bóc bài, xem chỉ tay mà còn làm công việc giới thiệu tình duyên và gỡ rối tơ lòng. Các nữ thân chủ khi có chuyện rắc rối về gia đạo là tìm đến các bà như tìm đến những cái phao.

Đoạn kết buồn của các thầy bói nổi tiếng

Theo chuyện kể lại, trước 1975, nhờ làm ăn khấm khá, thầy bói Huỳnh Liên tậu một khu vườn nhà ở làng Vĩnh Phú, Lái Thiêu, Bình Dương để khi rảnh rỗi ông lại từ Sài Gòn về đây vui thú với vợ bé. Trong khi đó, bà cả vẫn ở Sài Gòn.

Sau năm 1975, nghề bói không còn được xem là hợp pháp, thầy Huỳnh Liên không có con và về ở hẳn với bà bé. Ông không tin tưởng bà vợ bé lắm, nên xâu chìa khóa mở tủ cất tiền và vàng ông luôn luôn giữ bên mình. Một hôm đường dây điện thoại tầng trên bị hỏng, ông sai bà đi gọi hai người cháu của bà lên sửa.

Tới chiều, hai đứa cháu tới nhà rồi theo ông chủ lên gác sửa điện, trong khi chị bếp đi bắt gà đãi khách. Khi chị bếp trở lại, nghe có tiếng động khả nghi, chị chạy lên tầng trên thì thấy một cảnh tượng hãi hùng: Một người cầm khúc dây điện ngắn xiết chặt cổ ông Huỳnh Liên, ông trợn mắt và không kêu la gì được.

Lúc công an đến thì ông Huỳnh Liên đã chết. Người ta thấy cái tủ cất giấu tiền, vàng của ông vẫn còn nguyên và đồ đạc trong nhà cũng không bị mất món nào. Trong lúc quýnh quáng tháo chạy, hai đứa cháu vợ ngoài việc cướp của còn quên mất hai cái áo còn cởi bỏ trong nhà. Trong túi áo hai kẻ sát nhân còn bỏ lại, có đầy đủ giấy tờ tùy thân của chúng. Nhờ đó, công an không mất nhiều công sức cũng tóm gọn cả hai tại nhà ngay trong đêm đó.

Ngày nay, nghề bói toán không được công nhận và các thầy bói chỉ hoạt động lén lút
Theo dòng chảy của lịch sử, các thầy bói của Sài Gòn cũ đã không còn những vị thế xã hội như xưa. Đoán vận mạng cho nhiều người nhưng cuối cùng thì các thầy cũng chẳng đoán được vận mạng cho chính mình. Những người lớn tuổi đã sống ở Sài Gòn lâu năm kể lại: cho đến năm 1972, thầy Khánh Sơn và các thầy Minh Nguyệt, Huỳnh Liên được mời lên truyền hình của chế độ cũ tiên đoán vận mệnh. Cả ba thầy đều nói những điều tốt đẹp. Không có thầy nào tiên đoán được biến cố long trời lở đất 30/4 để tháo chạy mà giữ lấy nghề.

Tác giã : Lăng Nhu

Một dấu ấn thời khai hoang còn tồn tại: Bàn thiên

384 views

Bàn Ông Thiên, nghĩa là bàn thờ Ông Trời, cũng có người gọi là Bàn Thông Thiên với ý nghĩa thông thiên triệt địa, là lời cầu nguyện của người thông đến trời, thấu cả đất. Nhưng đa số người dân Nam Bộ từ miền Đông tới miền Tây gọi gọn lại là Bàn Thiên.

Một vùng châu thổ rộng lớn do phù sa hai sông Mê Kông và Đồng Nai bồi đắp tạo thành một màu xaanh bạt ngàn, gần như ba mặt trông ra đại dương bao la bát ngát, đất phương nam quả là “rừng vàng biển bạc”, một món quà vô giá mà thiên nhiên ưu đãi cho lưu dân người Việt mặc sức khai khẩn. Lợi dụng thực vật đa loại sẵn có như tre, mây, cây lá… ông cha ta chỉ dựng lều trại đơn sơ để giải quyết cho việc tạm cư, tạm canh trong buổi đầu lập nghiệp.

Những người đầu tiên đến bới đất lật cỏ mà hậu thế rất mực sùng kính và tôn xưng là “Tiền hiền khai khẩn” luôn mang tín ngưỡng truyền thống của quê hương bản quán từ vùng Thuận Quảng xa xôi, khi “Đến nơi xứ sở lạ lùng, chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê” này, họ cảm thấy mình quá cô đơn nhỏ bé trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, chỉ còn biết đặt hết niềm tin vào đấng thiêng liêng tối cao, đó là Ông Trời. Phải, chỉ có Ông Trời là đấng quyền năng tuyệt đối ở rất xa mà cũng rất gần loài người, ngửa mặt là thấy trời, cúi đầu là thấy đất (Ngưỡng diện kiến thiên, đê đầu thị địa). Trời là niềm tin, đất là hi vọng. Chỉ có Ông Trời mới có thể cứu khổ, cứu nạn cho người “chơn ướt chơn ráo” sống giữa bốn bề “Cỏ mọc thành tin, rắn đồng biết gáy!”. Thế là khái niệm Ông Trời đã thực sự hình thành trong tư duy của người đi mở cõi. Nhưng thờ Ông Trời bằng cơ ngơi nào cho phải lẽ? Thôi thì trong thời kỳ tạm cư, tạm canh âu cũng phải “tạm thờ” miễn thể hiện được câu “Hữu thành tắc linh”.

Thế là cái Bàn Thiên được… chào đời từ đó.

Với vật thể này có người gọi là Bàn Thông Thiên, nghĩa là bàn thờ Ông Trời, cũng có người gọi là Bàn Thông Thiên với ý nghĩa thông thiên triệt địa, là llời cầu nguyện của người thông đến trời, thấu cả đất. Nhưng đa số người dân Nam Bộ từ miền Đông tới miền Tây gọi gọn lại là Bàn Thiên, ý nghĩa cũng như nhau. Người xưa quan niệm “Trời tròn đất vuông”, Trời cao rộng vô biên, cao khong nóc, rộng không vách, nên việc thực hiện một Bàn Thiên rất đơn giản: một cây cột tròn dài cỡ ngang đấu người, một tấm ván hình vuông mỗi cạnh khoảng 4-5 tấc, giữa tấm ván đóng dính chắc vào đầu cột, thêm vài cây chỏi xéo ngắn cho tấm ván không lúc lắc, đầu cột còn lại vạt hơi nhọn, cắm xuống đất. Thế là xong Bàn Thiên. Còn vị trí cắm ở đâu, chúng ta cần làm cho rõ ý nghĩa.

Người xưa lấy thân mình làm chủ thể để suy ra nguyên tắc: Đông vi tả, Tây vi hữu, Nam vi tiền, Bắc vi hậu (hướng Đông bên trái, hương Tây bên phải, Nam phía trước, Bắc phía sau) mà định hướng tiến thủ và định vị cho ngôi nhà. Theo nguyên tắc này, những ngôi nhà đầu tiên cất trên vùng đất mới (Kể cả những ngôi đình đầu tiên) luôn quay mặt về phương Nam là hướng tiến thủ (Nam vi tiền), đối kháng là phương Bắc (Bắc vi hậu) để mỗi khi bái tế, người ta phải quay mặt vô bàn thờ, tức hướng về hướng Bắc mà hoài niệm, tri ân tổ tiên, thể hiện rõ nét đạo lí “uống nước nhớ nguồn”. Bởi thế mà vị trí đặt Bàn Thiên cũng tuân thủ theo nguyên tắc đó: từ ngạch của nhà trước đo ra một trượng (khoảng 4 mét), cắm cột Bàn Thiên giữa sân nhà nơi trống trải để bàn ngó thẳng lên trời (ngưỡng diện kiến thiên), lư hương để phía trước, hướng về phương Nam. Tùy theo diện tích của sân mà cự li thay đổi chút ít.

Vật cúng cũng đạm bạc đơn sơ như cơ ngơi của nó: gạo và muối. Ông cha ta rất quý trọng gạo muối, coi đó là “hạt ngọc của trời, hạt châu của biển” vì nó là thành quả của quá trình lao động gian khổ. Đến ngày Sóc Vọng (mùng 1 và Rằm âm lịch) lễ phẩm có khá hơn: nhang đèn, bông trái, nước sạch và gạo muối mà gọi theo người xưa là hương đăng, hoa quả, bạch thủy, mễ diêm. Đến khuya ba mươi tết cúng giao thừa, Bàn Thiên cũng là nơi thiết lễ tống cựu nghinh tân các ông Hành binh Hành khiển, vật cúng có khá hơn nhưng cũng không ngoài sản phẩm nông nghiệp. Theo các vị kỳ lão thì lời khấn trước Bàn Thiên cũng rất giản dị, nhằm cầu nguyện gia đình bình yên khỏe mạnh, tai qua nạn khỏi, làm ruộng trúng mùa, làm ăn phát đạt mà đối tượng cầu nguyện là Trời Đất và “ai đó” mà mắt trần không thấy được: “Vái vanm Hoàng thiên Hậu thổ, Đất nước ông bà…” hoặc “Khấn vái Trời Đất và những vị khuất mặt khuất mày…

Ngày nay trong tiến trình đô thị hóa, cái Bàn Thiên đã dần dần vắng mặt trên những đường phố đất hẹp người đông. Tuy nhiên, ở nông thôn, nhất là miền Tây nam bộ dấu ấn này vẫn còn rất đậm nét. Ngay cả những thành phố lớn là nơi đất đai được coi là tấc đất tấc vàng – theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen – ta được thấy một số nơi vẫn còn lưu giữ cái bàn thiên trên bao lơn của những tầng lầu 3, 4… Chứng cứ đó đã khẳng định rằng, ngoài lòng sùng kính thiêng liêng theo tín ngưỡng truyền thống, vật thể này biểu hiện rõ nét đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của người dân Nam Bộ ngày nay.

Thiết nghĩ, chùa Một cột ở miền Bắc gần cả ngàn năm nay chúng ta luôn hãnh diện là một quốc bảo của đất nước, thì ở phương Nam mỗi nhà bảo lưu được cái Bàn Thiên coi đó là gia bảo cũng nên.

Tác giã: Đỗ Văn Đồng

Chùm ảnh lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội vào những năm 1920-1929

499 views

Hà Nội, đền thờ Hai Bà Trưng, còn gọi là Đền Đồng Nhân vốn dựng từ năm 1160 đời vua Lý Anh Tông ở phường Bố Cái, tức là bãi Đồng Nhân, bên bờ sông Hồng. Năm 1819, vì bãi bị lở, dân dời đền vào khu vực trường Giảng Võ cũ của thời Lê, thuộc đất thôn Hương Viên, tổng Thanh Nhàn huyện Thọ Xương tức địa điểm hiện nay.

Từ nhiều thế kỷ qua đến nay, đền là nơi thờ Hai Bà Trưng linh thiêng bậc nhất ở kinh đô Thăng Long và miền Bắc nói chung. Ngôi đền đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích Lịch sử Quốc gia ngay đợt đầu tiên vào năm 1962.

Mỗi năm đền tổ chức một lễ hội lớn diễn ra từ ngày 3-6/2 Âm lịch để tưởng nhớ công lao của Hai Bà Trưng. Mồng 4, làng vào đám bằng tế nhập tịch và mồng 5 là hội rước nước. Đám rước đi từ đền ra phố Huế, lên Hàng Bài đến tận đền Bà Kiệu ở Hồ Gươm, rẽ ra Cột đồng hồ ở phố Trần Nhật Duật, rồi đưa choé xuống thuyền ra giữa sông lấy nước về nấu với trầm hương để tắm tượng. Hai lão bà trong làng, tính cách khiêm nhường, đức hạnh, được dân cử để tắm tượng, mặc áo mới cho Hai Bà trong ngày hội lớn.

Cùng nhau xem loạt ảnh đặc sắc về lễ hội này do người Pháp chụp vào những năm 1920-1929.

Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Khung cảnh ở sân đền. Trong điện thờ, các vị chức sắc đang làm lễ trước bàn thờ
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Một vị cao niên đọc sớ trong điện thờ
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Các hương chức, quan viên và nhạc công tập trung phía trước điện thờ
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Trẻ em cầm cờ đứng dọc lối vào điện thờ trong lễ hội đền Đồng Nhân
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Kiệu thờ và các đồ lễ được đặt ở sân đền để chuẩn bị cho đám rước tôn vinh Hai Bà Trưng
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Hai chiếc bình đựng nước thiêng sẽ được rước trong lễ hội
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Người hành lễ cầu khấn bên chiếc kiệu đặt ở sân đền trước lễ rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Các chức sắc mặc lễ phục, chụp ảnh kỷ niệm với tượng voi ở sân đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Các quan chức chụp ảnh kỷ niệm trước bức bình phong của đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Nhóm nam giới có địa vị trong làng chụp ảnh kỷ niệm
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Đám rước chuẩn bị khởi hành từ sân đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Tượng voi được đưa ra trước cổng đền để phục vụ lễ rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Chiếc kiệu lớn được đưa ra khỏi cổng đền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Đám rước đi qua đường làng
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Dân làng tề tựu xem đám rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Người khiêng trống trong đám rước
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Bến sông Hồng gần đền Đồng Nhân tấp nập khách hành hương qua lại bằng thuyền
Lễ hội đền Đồng Nhân ở Hà Nội thập niên 1920
Một con thuyền chở đồ lễ phục vụ lễ hội

Theo Kiến Thức

Kho tài liệu Việt Nam trong Hội Thừa Sai Paris

571 views

Từ tháng 09/2019, toàn bộ tài liệu lưu trữ, thư viện, kho tranh ảnh, bản đồ và các bộ sưu tập đồ vật của Hội Thừa Sai Paris, Missions Etrangères de Paris (MEP), được quy tụ về Viện Nghiên Cứu Pháp-Châu Á, Institut de Recherche France-Asie (IRFA), trong đó kho tài liệu liên quan đến Việt Nam chiếm một phần quan trọng.

Có thể nói cha Alexandre de Rhodes là người đóng vai trò lớn trong mối liên hệ giữa Hội Thừa Sai Paris và Việt Nam. Cuốn Phép giảng tám ngày (Cathéchimus / Cathéchisme) của cha Alexandre de Rhodes, xuất bản vào thế kỷ XVII, cùng với nhiều tác phẩm quý khác, được Viện tự hào trưng bầy trong tủ kính đặt ngay lối vào chính ở phố Babylone.

Bà Marie-Alpais Dumoulin, giám đốc Viện IRFA, cho biết đây chỉ là một vài mẫu nhỏ được trưng bày nhân lễ khánh thành Viện vào tháng 01/2020.

«Cha Alexandre de Rhodes là người khởi xướng sáng lập Hội Thừa Sai Paris vì Cha là người thỉnh cầu Tòa Thánh Roma thành lập một hội truyền giáo mới biết rõ các ngôn ngữ bản địa và có thể truyền giáo bằng những kiến thức văn hóa bản địa.
Cha Alexandre de Rhodes truyền giáo ở Việt Nam và bản thân cha là một người biết rất rõ ngôn ngữ ở Việt Nam lúc đó. Cha Alexandre de Rhodes là người tiếp tục công việc của các cha truyền giáo trước đó, có nghĩa là ghi theo bảng chữ cái la tinh tiếng nói của người Việt, sau này được gọi là quốc ngữ. Chính cha Alexandre de Rhodes là người cho in cuốn Dictionnaire annamite-portugais-latin. Tại sao lại là La tinh và Bồ Đào Nha ? Vì la tinh là ngôn ngữ của Giáo Hội, còn Bồ Đào Nha là tiếng của những tu sĩ dòng Tên, truyền giáo trong khu vực vào thế kỷ XVII.
Sau cuốn từ điển đó, Alexandre de Rhodes in thêm cuốn Phép giảng kinh tám ngày (Cathéchisme) bằng tiếng Việt. Cuốn Phép giảng kinh này rất được chú ý trong bộ sưu tập của chúng tôi vì trong ít nhất hai thế kỷ sau đó, rất nhiều cha truyền giáo, được cử sang Việt Nam, đã sử dụng cuốn giảng kinh đó
».

Những tài liệu quý hiếm về dân tộc thiểu số Việt Nam

Viện IRFA chỉ có thể tiếp khoảng 10 độc giả mỗi ngày, một phần do diện tích phòng đọc khá nhỏ, nhưng lý do chính là Viện muốn bảo đảm môi trường nghiên cứu thuận lợi nhất, phục vụ chu đáo nhất nhu cầu tài liệu của độc giả, có nhiều thời gian với mỗi độc giả để hướng họ đến những tài liệu liên quan.

Ngay lối vào chính của Viện IRFA là cầu thang dẫn lên tầng 1, nơi có kho lưu trữ tài liệu viết tay của các nhà truyền đạo Hội Thừa Sai Paris, có khối lưu trữ dài khoảng 513 mét. Kho được chia thành hai khu vực : khu vực bảo quản tài liệu và phòng đọc.
Toàn bộ tài liệu lưu trữ được xếp trên các giá, xê dịch được nhờ hệ thống đường ray và để tiết kiệm diện tích, được xếp theo từng nước và tên nhà truyền giáo.

«Tài liệu về Việt Nam nằm từ dãy 28 đến dãy 32. Và nếu tôi mở từng dãy, chúng ta sẽ thấy là mỗi dãy có rất nhiều tài liệu ở trong. Lưu trữ về những nhiệm vụ ở Việt Nam có từ thời những nhà sáng lập Hội Thừa Sai Paris, có nghĩa là từ những năm 1770.
Ví dụ ở dãy này, khi mở ra, chúng ta thấy những hộp đựng tài liệu lưu trữ của địa hạt giám mục Kon Tum, được thành lập từ những năm 1930. Chưa đầy một thế kỷ mà chúng tôi đã có nhiều tài liệu như thế này về Kon Tum, vì địa hạt giám mục Kon Tum được một giám mục của Hội Thừa Sai Paris quản lý cho đến năm 1975 vì thế, tất cả tài liệu lưu trữ được chuyển về đây. Điều này cũng cho thấy mong muốn mở rộng việc truy cập những tài liệu này, bởi vì tài liệu lưu trữ ở Kon Tum liên quan thực sự đến lịch sử Việt Nam và lịch sử Giáo Hội Việt Nam. Vì vậy, nhiệm vụ của chúng tôi là để độc giả có thể truy cập được những tài liệu này
».

Bà Marie-Alpais Dumoulin đã chuẩn bị một chiếc hộp nhỏ bằng gỗ, hình chữ nhật dài khoảng 40 cm và rộng khoảng 10 cm, để giới thiệu. Bên ngoài ghi Danh mục về dân tộc, thực vật của Jacques Dournes (1922-1993), một linh mục và là nhà nhân chủng học nổi tiếng về dân tộc Sré và Gia Rai ở Việt Nam.

«Cha Jacques Dournes, linh mục của Hội Thừa Sai Paris, đã sống hơn 30 năm ở Việt Nam, cùng với người dân tộc Sré (thuộc dân tộc Cơ Ho) và người Gia Rai (Jörai) ở vùng tây nguyên. Ông rất thích văn hóa Gia Rai và ông hiểu ra rằng để có thể hiểu được rõ văn hóa Gia Rai, ông phải biết được thế giới của họ. Và để hiểu được thế giới đó thì phải biết được cả thế giới thực vật và để làm được điều này, như chính ông nói, phải đi chân trần, cùng họ đi khám phá những loài thực vật.
Điều lý thú ở đây là việc thu thập những tên cây cỏ đã mang lại kết quả là vào năm 1969, cha Jacques Dournes cho xuất bản cuốn sách Bois Bambou (Gỗ, Tre). Tên sách thể hiện rõ thế giới thực vật biểu tượng của người Gia Rai. Ông giải thích rõ là ông không nghiên cứu cụ thể từng loài cây để viết một cuốn từ điển chuyên biệt mà là để hiểu rõ hơn làm thế nào thế giới thực vật lại hòa nhập với thế giới văn hóa nói chung của người Gia Rai
».

Bên phía phòng đọc, Brigitte, người quản lý kho lưu trữ, chuẩn bị tài liệu và hướng dẫn cho một độc giả nghiên cứu về tiểu sử một nhà truyền đạo thuộc Hội Thừa Sai Paris, tử vì đạo ở Triều Tiên.

«Brigitte cung cấp dần dần cho tôi những tài liệu, bản thảo của vị thánh tử vì đạo. Tôi cũng được bà phụ trách thư viện giúp tìm một số đầu sách có trong thư viện. Ngoài ra, nhờ Brigitte giúp đỡ, tôi còn đọc được các bản chụp phim (microfiche) những tài liệu mà không thể truy cập được tài liệu gốc.
Trước khi lên Paris, tôi viết thư cho Brigitte để bà ấy cho một vài hướng dẫn và chuẩn bị trước những tài liệu mà tôi yêu cầu. Tôi có thể giữ chúng tại phòng đọc trong vòng 24 hoặc 48 tiếng. Đó là khoảng thời gian tôi lưu lại Paris, bởi vì tôi không thể đọc được hết một lần.
Tôi đánh giá rất cao về mức độ nhanh chóng, khả năng đối thoại, trao đổi với nhân viên của Viện, tiếp theo là việc tài liệu được đặt trước được chuyển đến người đọc rất nhanh. Tôi đánh giá cao sự hỗ trợ của Viện IFRA
».

Thư viện với hơn 1.000 đầu sách về Việt Nam

Để đi sang thư viện, độc giả sẽ phải đi qua một khoảng sân rộng. Phòng đọc nhỏ xinh ở tầng trên cùng của tòa nhà chỉ có thể tiếp được hai độc giả cùng lúc.
Bà Annie Salavert, phụ trách thư viện, cho biết kho sách liên quan đến Việt Nam được phân chia và lập danh mục trực tuyến vào năm 2017.

«Một nữ nghiên cứu sinh Việt Nam chuyên về ngôn ngữ đã giúp tôi trong suốt một năm. Cô ấy đã lập được danh sách hơn 1.000 đầu sách bằng nhiều ngôn ngữ ở Việt Nam, trong đó hơn một nửa là tiếng Việt. Phần còn lại được viết bằng những ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở cao nguyên. Và đây chính là điểm đặc biệt của Hội Thừa Sai Paris và là sự đa dạng của Viện Nghiên Cứu Pháp-Châu Á. Về điểm này, cần phải nhấn mạnh đến công trình của cha Jacques Dournes.
Ngoài ra, trong số các tài liệu, sách bằng tiếng Pháp, phải kể đến những công trình nghiên cứu của cha Léopold Cadière, đặc biệt là cuốn kỉ yếu Những Người bạn của Huế xưa (Bulletin des Amis du Vieux Huế). Cha là giám đốc, kiêm chủ biên của kỉ yếu từ năm 1914 đến năm 1944. Bộ sưu tập những số của tạp chí đó là một gia tài quý giá, và dĩ nhiên là một kho báu đối với IRFA
».

Bà Annie Salavert nhận xét kho sách Việt Nam có vai trò quan trọng đối với Hội Thừa Sai Paris, cũng như những kho sách bằng nhiều ngôn ngữ châu Á khác.

«Những tác phẩm trong kho sách tiếng Việt được đưa về Hội Thừa Sai Paris nhờ các cha truyền giáo. Chúng tôi cũng đã bị mất nhiều bộ sưu tập lớn ở Việt Nam khi các cha phải rời Đông Dương, lúc đó có rất nhiều cha chỉ có mỗi cuốn Kinh Thánh trong túi. Thật đáng tiếc là nhiều tủ sách của các cha ở Việt Nam đã bị thất lạc. Lẽ ra chúng tôi đã có nhiều hơn là 1.000 cuốn sách. Tôi rất tiếc nhưng chúng tôi cũng lưu được nhiều vết tích của nhà in Quy Nhơn, cũng như một số nhà in khác, mà Viện sẽ còn có nhiều việc phải làm».

Tất cả các tác phẩm trong thư viện của IRFA đều có thể truy cập trên trang web của Viện. Một điều dễ chịu khác là độc giả đến tận nơi, có thể được tận hưởng bầu không khí yên bình lạ thường giữa lòng Paris và được chiêm ngưỡng công trình kiến trúc độc đáo của nhà thờ Chapelle de l’Epiphanie có từ thế kỷ XVII.

Tác giã : Thu Hằng (RFI)

Tòa thánh Cao Đài nhìn từ trên cao

521 views

Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh (cách trung tâm Thành phố Tây Ninh khoảng 4 km về phía đông nam.) được chụp từ trên cao, tháng 07 năm 1948.


Vue aérienne du temple Cao Dai à Tay Ninh (à environ 4 km au Sud-Est du centre ville de Tay Ninh au Sud du Vietnam), le 7 mai 1948.


Aerial view of Cao Dai Temple in Tay Ninh (about 4 km in southeast of Tay Ninh town, in Southern of Vietnam), May 7, 1948.

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn năm 1948

1543 views

Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn, hay còn được gọi là Vương cung thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội ( Cathédrale Notre-Dame de Saïgon ). Ngôi nhà thờ đầu tiên được lập ở đường Số 5, ngay trên địa điểm của một ngôi chùa nhỏ bị bỏ hoang. Vì nhà thờ quá nhỏ nên vào năm 1863, Đô đốc Bonard đã quyết định cho khởi công xây dựng ở nơi khác một nhà thờ khác bằng gỗ bên bờ “Kinh Lớn”. Cố đạo Lefebvre tổ chức “Lễ đặt viên đá đầu tiên” xây dựng nhà thờ vào ngày 28 tháng 3 năm 1863. Hoàn thành vào năm 1865, nhà thờ bằng gỗ ban đầu được gọi là Nhà thờ Saigon. Tháng 8 năm 1876, Thống đốc Nam kỳ Duperré đã tổ chức một kỳ thi vẽ đồ án thiết kế nhà thờ mới và đã chọn đồ án của kiến trúc sư J. Bourard. Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên.


Cathédrale Notre-Dame de Saïgon (Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn) a été construit par les français. Sa construction a été initiée en Août 1876 par le Gouverneur de la Cochinchine Marie Jules Dupré qui a choisi le projet de l’architecte Jules Bourard. Ses premières pierres ont été posées, le 7 octobre 1877, par Mgr Isidore Colombert.


Basilica of Our Lady of The Immaculate Conception (Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn) was built by the French. Its construction was initiated in August 1876 by the Governor of Cochinchina Marie Jules Dupré who chose the design by architect Jules Bourard. On 7 October 1877, Bishop Isidore Colombert laid the first stone in an inaugural ceremony.

Hộ pháp đạo Cao Đài Phạm Công Tắc

1334 views

Hộ pháp đạo Cao Đài Phạm Công Tắc, tự là Ái Dân, biệt hiệu Tây Sơn Đạo, về nhà sau lễ nửa đêm bằng xe xích lô của giáo chủ.
(Tây Ninh tháng 07 năm 1948)


Le Pape du Caodaïsme Phạm Công Tắc de retour, sur le cyclo papal, après sa messe de minuit.
(Tây Ninh, Juillet 1948)


Caodaist Pope Phạm Công Tắc on the return way, in the papal tricycle, after holding midnight mass.
(Tây Ninh, July 1948)