Nhạc Sĩ

Cảm âm ca khúc Hoài Cảm của Cung Tiến

102 views

Có những ca khúc mùa thu gắn bó những tình cảm nhớ thương của thế nhân vào trong đó, theo một cách độc đáo, để ta chợt nhận ra những ca khúc đó cũng là một ký ức không thể thiếu khi mỗi độ thu về. Hoài Cảm của Cung Tiến là một trong số đó.

Thật đáng ngạc nhiên là vào năm 1952, khi Cung Tiến sáng tác Hoài Cảm, ông mới đang ở độ tuổi 14-15, nhưng bài hát này đã toát lên một vẻ chín chắn và từng trải như của một người đã trưởng thành, với cảm xúc già dặn của ý tứ dường như không phải từ suy tư của một cậu thiếu niên.

Đây là ca khúc theo thể loại lãng mạn tiền chiến, với lời hát mang đậm chất thơ. Được biết bài hát này được sáng tác ngay sau khi nhạc sĩ chuyển từ miền Bắc vào miền Nam sinh sống, mang theo trong tim nỗi nhớ ngập tràn về Hà Nội. Nhạc sĩ từng chia sẻ: “Tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn sớm lắm. Lúc đi, nhớ tất cả những gì mà ở Hà Nội ghi vào ký ức mình, thì là có bản nhạc đó”.

Nỗi buồn đến dịu nhẹ, nỗi nhớ vu vơ từ từ len vào hồn người, cũng nhẹ nhàng như cách mùa thu đến với ta, không có những đột biến rõ ràng, căng thẳng như sự chói chang của tiết đầu Hạ hay xầm xì khi vào Đông.

Chiều buồn len lén tâm tư
Mơ hồ nghe lá thu mưa

Xuyên suốt ca khúc là nỗi nhớ thương mùa thu cũ quá sâu đậm của chàng trai trẻ. Mùa thu không chỉ là cảnh vật mà còn là con người, phải xa quê hương, như một đứa trẻ còn thơ ngây mà đã bị tách ra sống xa cha mẹ.

Cuộc sống đâu chỉ có gia đình; còn có bao bè bạn và những mối quan hệ xã hội khăng khít nữa, vậy mà đột nhiên người trai trẻ phải rời xa tất cả, không nhớ đến quay quắt thì mới là điều lạ :

Lòng cuồng điên vì nhớ
Ôi đâu người, đâu ân tình cũ ?

Mùa thu đó đã xa lắm rồi; xa về khoảng cách địa lý; xa cả trong tâm tưởng, phải chăng vì bị đè nén bởi những ồn ào, náo nhiệt của miền đất phương Nam, chỉ vụt quay về khi màn đêm buông xuống :

Một mùa thu xa vắng
Như mơ hồ về trong đêm tối

Chờ đợi người cũ, chờ đợi cố nhân ở đây chỉ là cách nói. Tấm màn ngăn cách đâu chỉ có khoảng không, mà còn là những sự lãng quên có thể xảy ra khi tâm hồn bị sương mù bao phủ từ tứ phía :

Chờ nhau hoài cố nhân ơi
Sương buồn che kín muôn nơi

Đây là một sự nhớ mong trong vô vọng, người trai mơ hồ nhận ra rằng kiếp này có thể không gặp lại cảnh cũ người xưa nữa, nên đành hẹn kiếp sau :

Hẹn nhau một kiếp xa xôi
Nhớ nhau muôn đời mà thôi

Hoài Cảm - Cung Tiến

Tiếng xưa vang vọng, mùa nối mùa với âm hưởng chỉ còn trong ký ức :

Dạt dào tựa những âm xưa
Thiết tha ngân lên lời xưa

Lối đi xưa trong ký ức chàng mong mỏi rằng vẫn còn bóng hình người cũ, nhưng hình bóng cố nhân thì đã nhạt nhòa, vì tâm hồn non thơ nhạy cảm không thể nào cùng hiện rõ tất cả những hình bóng thân thương trong quá khứ. Nên chàng trai đã phải tự hỏi mình :

Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa?

Cảm xúc của một sự mất mát không gì có thể bù đắp, cảm xúc của một người phải đi xa mà không hẹn ngày trở lại :

Chờ hoài nhau trong mơ
Nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa

Giai điệu da diết, sâu lắng bao trùm toàn bộ ca khúc, tựa như muốn nói rằng, cảm xúc buồn nhớ này không có một tia hy vọng nào để thay đổi được. Thậm chí nỗi nhớ này lớn lao đến mức, chàng trai không tin rằng thời gian sẽ là một “liều thuốc tiên” có thể xóa nhòa tất cả :

Còn đâu mùa cũ êm vui
Nhớ thương biết bao giờ nguôi ?

Ta chợt khẽ rùng mình khi nhận ra bài ca này đúng như một lời từ biệt, không hẹn ngày tái ngộ, mà là từ biệt những gì chứ? Chính là những gì thân quen nhất mà ta hằng gắn bó. Không thể không đồng cảm với nhân vật của ca khúc!

Nhạc sĩ Cung Tiến từng chia sẻ: “Hoài Cảm là bài hát mà tôi viết ra trong tưởng tượng. Tưởng tượng ra là mình nhớ một người nào mình yêu mến thôi, chứ không có ý nghĩ sâu xa gì đằng sau cả. Ðó chỉ hoàn toàn là trí tưởng tượng trong âm nhạc cũng như trong lời ca. Lời ca bị ảnh hưởng từ những bài thơ mình học ở trường, như thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, những nhà thơ lãng mạn của Việt Nam hồi đó.

Hóa ra, sự già dặn trong nhạc phẩm đầu tay của ông chính là mượn từ các bậc tiền bối sáng danh như thế! Ông chỉ là người đồng cảm và tiếp nối khí chất đó thôi.

Rất nhiều người đã hát bài hát này. Ta gặp lại tài tử Phạm Ngọc Lân để bắt được cái cảm xúc chân thực của Hoài Cảm trong một mùa thu xưa, không có nhiều tô vẽ.

Còn khi nghe phần trình bày của ca sĩ Duy Trác, tiếng hát liêu trai cùng tiếng chuông điểm chầm chậm trong phần hòa âm lại càng gợi ta nhớ về những ngôi nhà thờ xưa cũ nơi Hà Thành, tạo nên một nét khác lạ đáng yêu cho ca khúc này.

Giọng ca Sĩ Phú ghi âm trước năm 1975 khiến ta ngỡ đây chính là tâm tư của anh, người ca sĩ đẹp trai gốc Bắc với bộ râu tài tử, nhưng lại sở hữu một chất giọng mượt mà mềm mại đến độ có thể làm tan chảy lòng người. Tiện đây, cũng xin lan man một chút về người ca sĩ “nghiệp dư” nhưng tài hoa nhất mực này.

Hoài Cảm - Cung Tiến - Sĩ Phú
Ca sĩ Sĩ Phú

Sĩ Phú vốn là một sĩ quan không quân chuyên nghiệp, nhưng có giọng hát thiên phú với chất giọng tình tứ, dù anh chưa qua một trường lớp âm nhạc nào.

Bên cạnh đó, phong cách trình diễn hào hoa bay bướm của anh đã thu hút được cảm tình của khán giả ngay từ đầu.

Tuy là một phi công chiến đấu nhưng theo các thông tin từ những người thân cận của anh, thì tính cách của anh dường như có phần rụt rè và không quyết đoán, điều này vừa hay lại làm cho các bản tình ca của anh thêm phần lôi cuốn.

Bên cạnh đời sống âm nhạc phong phú thì Sĩ Phú cũng là một người rất “đào hoa”, có những mối quan hệ sâu sắc với nhiều phụ nữ. Có lẽ ngoại hình đẹp trai lãng tử cùng với chất nghệ sĩ quá đậm đà nơi anh đã thu hút họ đến với anh; sau đó chất hiền lành và chút mềm yếu nơi anh làm cho họ không nguyện ý rời xa anh được nữa.

Tuy anh dường như đã “bỏ rơi” một số người phụ nữ trong đời, nhưng anh chưa bao giờ bỏ rơi ca hát; trước khi từ giã cõi đời vào tháng 7/2000, anh vẫn cùng bạn bè nghệ sĩ thực hiện CD cuối cùng trong cuộc đời ca hát của anh có tên là “Còn chút gì để nhớ”.

Trong buổi CD này ra mắt công chúng, anh đã hát bài hát đó khi ngồi trên xe lăn, như một lời giã biệt với những người hâm mộ giọng ca của anh.

Cung Tiến – nhạc sĩ sáng tác Hoài Cảm – không về được với Hà Nội mỗi mùa thu, đúng như dự cảm của ông từ buổi chia ly đất Bắc, nhưng Hoài Cảm của ông cũng giống như một con tàu luôn khởi hành đúng hẹn, cứ mỗi độ thu về lại đưa đón những tâm hồn nhạy cảm của những người con Hà Nội xa xứ về với cố hương. Và, biết đâu, đây mới chính là sứ mệnh thực sự của ca khúc bất hủ này!

Tác giã : Hoài Ân

Đài RFA phỏng vấn nhạc sĩ Cung Tiến

176 views

Phóng viên Mặc Lâm của đài radio RFA phỏng vấn nhạc sĩ Cung Tiến về những sáng tác và hoạt động âm nhạc của ông trong những thập niên qua ở hải ngoại.

Nhạc sĩ Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh năm 1938 tại Hà Nội. Thời kỳ trung học, Cung Tiến học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng Chung Quân và Thẩm Oánh. Trong khoảng thời gian 1957 đến 1963, Cung Tiến du học ở Australia ngành kinh tế và ông có tham dự các khóa về dương cầm, hòa âm, đối điểm, và phối cụ tại nhạc viện Sydney.

Trong những năm 1970 đến 1973, với một học bổng cao học của Hội đồng Anh (British Council) để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại đại học Cambridge, Anh, ông đã dự các lớp nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại tại đó.

Năm 1987, Cung Tiến viết nhạc tấu khúc Chinh phụ ngâm, soạn cho 21 nhạc khí tây phương, được trình diễn lần đầu vào năm 1988 tại San Jose với dàn nhạc thính phòng San Jose, và đã được giải thưởng Văn Học nghệ thuật quốc khánh 1988.

Vào đầu thập kỷ 1980 Cung Tiến phổ nhạc từ 12 bài thơ trong tù cải tạo của Thanh Tâm Tuyền mang tên Vang Vang Trời Vào Xuân, tập nhạc này được viết cho giọng hát và Piano và được trình bày lần đầu tiên tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào năm 1985.

Năm 1992, Cung Tiến soạn tập Ta Về, thơ Tô Thùy Yên, cho giọng hát, nói, ngâm và một đội nhạc cụ thính phòng. Năm 2003, Ông đã thực hiện một tác phẩm nhạc đương đại Lơ thơ tơ liễu buông mành dựa trên một điệu dân ca chèo cổ. Ông cũng là hội viên của diễn đàn nhạc sĩ sáng tác Hoa Kỳ.

Trong lãnh vực văn học, giữa thập niên 50 và 60, với bút hiệu Thạch Chương, Cung Tiến cũng đã từng đóng góp những sáng tác, nhận định và phê bình văn học, cũng như dịch thuật, cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan Điểm, và Văn.

Nhóm Sáng Tạo là nhóm nổi tiếng nhất xuất phát từ phong trào di cư. Hoạt động của họ là mở một con đường mới về ngôn ngữ hình ảnh cũng như về lý tưởng tự do. Tôi hợp tác với họ bằng những bài viết về triết học cũng như những nhận định âm nhạc lúc đó tôi đã đi du học. Thế hệ trẻ về sau lớp học trò của Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền chắc chắn là chịu nhiều ảnh hưởng của Sáng Tạo.

Hai trong số các truyện ngắn ông dịch và xuất bản ở Việt Nam là cuốn Hồi ký viết dưới hầm của Dostoievsky và cuốn Một ngày trong đời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn.

Mặc Lâm: Là một người yêu thích âm nhạc và có những nhạc phẩm nổi tiếng rất sớm như: Hoài Cảm, Thu Vàng, Hương Xưa…lý do nào khiến ông trở thành một chuyên gia kinh tế học và ông có cho rằng kinh tế và âm nhạc là hai lĩnh vực khó hòa hợp lẫn nhau hay không?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Câu hỏi này nó có hai phần một phần là tại sao tôi trở thành chuyên gia kinh tế học và một phần là giữa âm nhạc và kinh tế có hòa hợp với nhau hay không. Tôi được học bỗng kinh tế học vì âm nhạc không phải là ngành mà ngoại quốc cho chính phủ VNCH hồi đó. Sự thực thì âm nhạc và kinh tế không phải là khó hòa hợp vì cả hai đều là nghệ thuật cả. Kinh tế học không phải là một khoa học mà là một nghệ thuật giữa kẻ mua người bán, giữa người sản xuất và người tiêu dùng, cho nên nếu không hòa hợp được thì cũng không thể xung khắc lẫn nhau.

Mặc Lâm: Ông đã từng công tác với nhóm Sáng Tạo rất sớm qua bút hiệu Thạch Chương bằng những bài viết và dịch thuật, ông có nhận xét gì về hoạt động cũng như ảnh hưởng của nhóm này?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Nhóm Sáng Tạo là nhóm nổi tiếng nhất xuất phát từ phong trào di cư. Hoạt động của họ là mở một con đường mới về ngôn ngữ hình ảnh cũng như về lý tưởng tự do. Tôi hợp tác với họ bằng những bài viết về triết học cũng như những nhận định âm nhạc lúc đó tôi đã đi du học. Thế hệ trẻ về sau lớp học trò của Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền chắc chắn là chịu nhiều ảnh hưởng của Sáng Tạo.

Mặc Lâm: Được biết Thanh Tâm Tuyền là bạn thân của ông, xin ông cho biết một vài kỷ niệm đối với tài thơ này nhân kỷ niệm một năm ngày mất của thi sĩ.

Nhạc sĩ Cung Tiến: Tôi quen Thanh Tâm Tuyền năm 1956 khi tôi theo học năm cuối cùng của trung học tại Chu Văn An, lúc ấy Thanh Tâm Tuyền mới vào nam theo làn sóng di cư của sinh viên. Đây là ca khúc đầu tiên của chúng tôi viết từ năm 1953 lúc đó tôi mới 14 tuổi lúc tôi mới học đệ lục nó là công an khúc hoàn toàn trữ tình của một học sinh ảnh hưởng thơ mới lãng mạn của Huy Cận, Xuân Diệu ….Riêng với tôi nó là đứa con đầu lòng vẫn còn được thính giả yêu thích tôi vẫn thích vì nó giản dị và là một thời học trò của mình.
Hành trang du học của tôi chỉ có mấy quyển sách, trong đó có hai quyển Tôi Không Còn Cô Độc của Thanh Tâm Tuyền và Tháng Giêng Cỏ Non của Mai Thảo. Cho tới khi tôi về nước vào năm 1963 tôi mới gặp lại Thanh Tâm Tuyền và chúng tôi có những quan hệ thân thiết hơn.

Mặc Lâm: Thưa ông có phải văn chương cực kỳ lạ lẫm của Thanh Tâm Tuyền đã khiến ông phổ nhạc hai bài ĐêmLệ Đá Xanh hay vì lý do dễ hiểu hơn vì nhà thơ là bạn thân của ông?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Tôi thấy bài thơ rất buồn và rất độc đáo. Bài thơ này tôi phổ ở Sydney năm 1957 với mục đích gửi tặng Phạm Đình Chương. Mãi sau này tôi mới phổ bản Đêm của Thanh Tâm Tuyền trong tập thơ Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy.

Mặc Lâm: Bên cạnh Thanh Tâm Tuyền là một nhà thơ khác trong nhóm Sáng Tạo cũng được ông quan tâm đó là nhà thơ Tô Thùy Yên, Với thi phẩm Ta Về ông đã sáng tác nhiều loại hình âm nhạc cho tác phẩm này, xin ông cho biết vài chi tiết về việc này.

Nhạc sĩ Cung Tiến: Tập thơ Ta Về của Tô Thùy Yên lọt ra khỏi trại cải tạo và Mai Thảo đưa cho tôi xem vài bài trước khi Tô Thùy Yên định cư tại Mỹ. Tôi đã soạn cho bài thơ này trở thành những giọng ngâm, hát, nói với những nhạc cụ tây phương phụ đệm.

Mặc Lâm: Thưa ông, từ nhạc phẩm đầu tay là bản Hoài Cảm được sáng tác năm 1953 cho đến nay đã có bao thăng trầm trong đời sống riêng cũng như của toàn dân tộc, ông có nhận xét gì về nhạc phẩm này và điều gì vẫn còn in đậm trong lòng ông cho tới bây giờ sau khi nhạc phẩm này ra đời?

Nhạc sĩ Cung Tiến: Đây là ca khúc đầu tiên của chúng tôi viết từ năm 1953 lúc đó tôi mới 14 tuổi lúc tôi mới học đệ lục nó là ca khúc hoàn toàn trữ tình của một học sinh ảnh hưởng thơ mới lãng mạn của Huy Cận, Xuân Diệu ….Riêng với tôi nó là đứa con đầu lòng vẫn còn được thính giả yêu thích tôi vẫn thích vì nó giản dị và là một thời học trò của mình.

Mặc Lâm: Cảm ơn Nhạc sĩ Cung Tiến.

Vài dòng về tiểu sử của nhạc sĩ Cung Tiến

196 views

Trong lịch sử tân nhạc Việt, dường như không có một nhạc sĩ nào nổi tiếng ngay với sáng tác đầu tay, ở tuổi niên thiếu, khi chỉ mới 14, 15 tuổi, như trường hợp Cung Tiến. Có dễ chính vì thế mà, có người không ngần ngại gọi hiện tượng Cung Tiến là thiên tài của bộ môn nghệ thuật này.

Nhạc sĩ Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh ngày: 27-11-1938 tại Hà Nội, học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng là Thẩm Oánh và Chung Quân tại hai trường Trung học Chu Văn An và Nguyễn Trải.

Với hai sáng tác đầu tay bất hủ Thu vàngHoài cảm viết từ khi mới lên 13-14 tuổi, nhạc sĩ Cung Tiến được nhiều người ca tụng là thần đồng âm nhạc dù ông xuất thân từ một gia đình không ai có năng khiếu âm nhạc.

Cụ thân sinh tôi là một nhà thơ, một nhà cách mạng. Ông theo Việt Nam Quốc dân Đảng, không có ai dính vào âm nhạc nhất là âm nhạc mới, không có ai cả,” nhạc sĩ Cung Tiến nói với đài VOA.

Tuy nhiên, bản thân ông đã bắt đầu sinh hoạt văn nghệ thời còn là học sinh tiểu học, đi học hát trong nhà thờ, hát trong các ca đoàn Công giáo và được giao điều khiển ban hợp ca của các trường khi lên tới trung học.

Thời trung học có tổ chức những đại hội học sinh toàn thành. Hồi kỷ niệm thành lập Việt Nam Cộng hòa năm thứ hai của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm thì có đại nhạc hội học sinh toàn thành của các trường trung học Việt Nam như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Trưng Vương, Petrus Ký, Marie Curie, thành lập Ban Hợp ca và tôi điều khiển ban hợp ca đó, vào năm 1956,” nhạc sĩ Cung Tiến tâm sự.

Từ nhỏ, ông từng học thổi sáo, biết chơi đàn mandoline, đàn guitar cổ điển trước khi làm quen với đàn piano lúc qua Úc du học về nghành kinh tế Trong khoảng thời gian 1957 tới 1963.

Trong những năm từ 1970 tới 1973, khi Cung Tiến nhận được một học bổng cao học về kinh tế, của British Council để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại Ðại Học Cambridge, Anh quốc; ông cũng đã ghi tên tham dự các lớp về nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại…

Các bản nhạc đầu tay của ông đã đi sâu vào lòng người hâm mộ như Thu Vàng, Hoài Cảm, hoàn toàn xuất phát từ trí tưởng tượng, không dính líu đến đời thật của ông. Cung Tiến sáng tác rất ít và phần lớn các tác phẩm của ông đều viết sau 1954, trừ hai bài nêu trên ông viết năm 1953 khi mới 14-15 tuổi. Tuy nhiên, các ca khúc này lại thường được xếp vào dòng nhạc tiền chiến bởi chúng có cùng phong cách trữ tình lãng mạn… Sau này, phần lớn những nhạc phẩm của nhạc sĩ Cung Tiến là những bài thơ được ông thổi vào giai điệu du dương.

Viết lời ca khi hồi còn trẻ. Sau này mình không có hứng, không có dịp để viết lời ca thường nữa. Phần lớn tôi phổ thơ của Vũ Hoàng Chương, Thanh Tâm Tuyền. Thanh Tâm Tuyền tôi phổ nhiều lắm. Ngoài tập 10 bài thơ viết trong tù cải tạo, tôi còn phổ những bản trước khi ông vào tù, khi còn ở Sài Gòn như bản Lệ đá xanh, Đêm…,” ông giải thích.

Cung Tiến chưa hề về Việt Nam và từ khi sang Mỹ ông không viết bản nhạc nào về Việt Nam ngoài Hoàng Hạc Lâu, phổ thơ của Vũ Hoàng Chương dịch bài thơ của Thôi Hiệu đời Đường, tác phẩm duy nhất của ông có “dính líu” với Việt Nam sau ngày miền Nam Việt Nam sụp đổ năm 1975.

Sau khi đậu Tú tài hai, nhạc sĩ Cung Tiến được học bổng Colombo sang Úc học về môn kinh tế trong khoảng thời gian từ 1957 đến 1965. Dịp này, ông tham dự các lớp học về âm nhạc phương Tây tại Viện Âm nhạc Sydney.

Từ năm 1970 đến 1973, ông được học bổng của Hội đồng Anh (Bristish Council) để nghiên cứu về kinh tế tại trường đại học Cambridge. Trong thời gian đó, ông trau dồi thêm về âm nhạc bằng cách tham dự các lớp về nhạc học, lịch sử âm nhạc và nhạc lý hiện đại. Cho nên về sau này, phong cách sáng tác của ông khác hẳn những bản nhạc thời học sinh mà ông gọi là “nhạc phổ thông”. Thay vào đó là những tác phẩm mà ông gọi là “ca khúc nghệ thuật.”

Ra hải ngoại Cung Tiến viết nhạc tấu khúc Chinh Phụ Ngâm năm 1987, soạn cho 21 nhạc khí, trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3 năm 1988, tại San Jose, California, với dàn nhạc thính phòng San Jose, và đã được giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Quốc Khánh 1988…

Về sau tôi sáng tác nhiều tác phẩm khác được chơi ở bên Mỹ rất nhiều, nhất là tập tổ khúc (Suite) Chinh Phụ Ngâm. Tổ khúc giống như một symphonie nhưng nhỏ hơn, viết cho dàn nhạc đại hòa tấu. Dựa vào những tình tứ, tình cảm trong tập thơ đó, tôi viết thành một tổ khúc ba phần. Không phải tôi phổ nhạc. Không phải tôi phổ thơ Chinh Phụ Ngâm. Tôi dựa vào tình tiết, cảnh tượng trong Chinh Phụ Ngâm mà viết thành một tổ khúc cho dàn nhạc đại hòa tấu,” ông chia sẻ.

Theo dõi sinh hoạt sáng tác của Cung Tiến, kể từ sau biến cố 30 tháng 4, 1975, ở hải ngoại, người ta được biết, ông dành nhiều thì giờ hơn cho việc sáng tác – Từ phổ nhạc thơ, cho tới những công trình nghiên cứu dân ca Việt, nghiên cứu hình thái đặc thù của truyền thống Quan Họ Bắc Ninh, v.v…

Bên cạnh lãnh vực âm nhạc, Cung Tiến cũng đóng góp nhiều cho lãnh vực văn học thuộc giai đoạn 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam. Với bút hiệu Thạch Chương, ông từng cộng tác với các tạp chí Sáng Tạo, Quan Ðiểm, và Văn. Hai trong số những bản dịch thơ văn của Cung Tiến dưới bút hiệu Thạch Chương, được nhiều người biết tới thời trước 1975 ở Saigon là Hồi Ký Viết Dưới Hầm của Dostoievsky, và cuốn Một Ngày Trong Ðời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn.

Nhạc sĩ Cung Tiến cũng từng là một viên chức cao cấp của Việt Nam Cộng hòa. Ông là một trong ba Tổng Giám đốc trụ cột của Bộ Kế hoạch trước năm 1975.

1953: Sáng tác hai nhạc phẩm bất hủ Thu VàngHoài Cảm từ lúc còn rất trẻ.

1957-1963: Du học ở Úc Châu ngành Kinh tế, đồng thời học thêm về dương cầm, hòa âm, đối điểm, phối cụ tại Nhạc viện Sydney.

1964-1970: Viết nhận định, phê bình văn học, dịch thuật cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn với bút hiệu Thạch Chương.

Dịch giả hai tác phẩm nổi tiếng của văn hào Nga: Hồi Ký Viết Dưới Hầm của F. M. Dostoevsky và Một ngày trong đời Ivan Denisovitch truyện của A. Solzhenitsyn.

1970-1973: Nhận học bổng cao học của British Council để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại Cambridge, Anh Quốc và tốt nghiệp kinh tế học tại đó; đồng thời dự các lớp nhạc sử, nhạc học và nhạc lý.

1975: Định cư tại Hoa Kỳ, làm việc trong Bộ An Ninh Kinh Tế Tiểu Bang Minnesota.

Đầu thập niên 80: phổ nhạc Vang Vang Trời Vào Xuân từ thơ viết trong tù của Thanh Tâm Tuyền, trình bày lần đầu tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn năm 1985.

1987: Sáng tác tấu khúc Chinh Phụ Ngâm, soạn cho 21 nhạc khí, trình diễn lần đầu tại San Jose, California, ngày 27-3-1988; trình diễn lần sau tại Minnesota ngày 11-11-1989.

1992: Phổ nhạc bài thơ Ta Về của Tô Thùy Yên, gồm hát, dẫn đọc, ngâm với đội nhạc cụ thính phòng.

1993: Nhận tài trợ của The Saint Paul Companies để nghiên cứu nhạc Quan họ Bắc Ninh, các thể loại dân ca Việt Nam và soạn Tổ Khúc Bắc Ninh cho dàn nhạc giao hưởng.

1997: Soạn bản hợp ca cho ca đoàn Dale Warland Singers (Minnesota), nổi tiếng quốc tế, nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập ca đoàn.

1999: Đêm nhạc Cung Tiến tại rạp Ebel Theater, Santa Ana, California, do dàn nhạc thính phòng của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ tổ chức (ngày 4 tháng 12).

2003: Sáng tác nhạc đương đại Lơ Thơ Tơ Liễu Buông Mành dựa trên điệu dân ca Quan họ.

2010: Đêm nhạc “Vết Chim Bay” do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) tổ chức (ngày 10 tháng 7) tại rạp La Mirada Theater, Nam California – với một số nhạc phẩm tiêu biểu của Cung Tiến cùng dàn nhạc giao hưởng của Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ. Hai tuyển tập Vang Vang Trời Vào XuânHoàng Hạc Lâu cũng được ra mắt 2 hôm trước đó.

Tổng hợp và theo Hà Vũ (VOA)

Tiểu Sử Nhạc sĩ Phạm Đình Chương

1014 views

Phạm Đình Chương (1929 – 1991) là một nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc Việt từ 1950 trở đi. Riêng về lãnh vực sáng tác, ông được coi như một tên tuổi lớn của tân nhạc Việt Nam. Ngoài ra ông còn là một ca sĩ của ban hợp ca Thăng Long với biệt hiệu là Hoài Bắc.

Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, cả hai thân sinh ra ông đều chơi nhạc cổ truyền. Thân phụ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.

Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.
Ông được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn vẫn là tự học. Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng các anh em Phạm Đình Viêm, Phạm Thị Quang Thái và Phạm Thị Băng Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV.

Phạm Đình Chương và ban hợp ca Thăng Long
Phạm Đình Chương và ban hợp ca Thăng Long

Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947, khi 18 tuổi, với tác phẩm đầu tay là ca khúc Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng. Năm 1951 ông và gia đình chuyển vào miền Nam. Với các anh em Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng ông thành lập ban hợp ca Thăng Long danh tiếng. Trong thập niên 50, ông đã viết những tác phẩm thành công và để đời như Ly Rượu Mừng, Xuân Tha Hương, Thủa Ban Đầu, Tiếng Dân Chài v.v.. Đáng kể nhất là trường ca bất hủ Hội Trùng Dương mà ông viết về đất nước Việt Nam hoa gấm, qua ba bài ca nói về sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long. Theo như lời ông đã nói với gia đình, trường ca này đã phải tốn mất 4 năm để hoàn tất.

Một sáng tác lãng mạn và để đời thứ hai trong thập niên 50 đã gắn liền vào tên tuổi Phạm Đình Chương, đó là ca khúc bất hủ phổ thơ Đinh Hùng nhan đề Mộng Dưới Hoa. Riêng nói về Mộng Dưới Hoa, ca khúc này đã theo năm tháng để trở thành một trong những bài tình ca được ưa chuộng và hát nhiều nhất của nhạc Việt. Qua khía cạnh chuyên môn, nhất là về lãnh vực nhạc phổ từ thơ, ta cứ đọc phần phê bình và ca ngợi của nhạc sĩ Vũ Thành sau đây. Nhạc sĩ Vũ Thành viết: “Tác phẩm thành công nhất của Phạm Đình Chương, theo tôi, là Mộng Dưới Hoa, thơ Đinh Hùng phổ nhạc. Nét đặc thù của tác phẩm này là hơi nhạc tuy rất Việt Nam, mà lại được viết theo âm giai tây phương, chứ không cần đến ngũ cung như hầu hết các sáng tác có âm hưởng thuần túy Việt Nam khác. Ngoài ra, Mộng Dưới Hoa còn đặc biệt ở điểm rất cân đối và được cấu tạo như cung cách một bản nhạc “mẫu” trong các sách giáo khoa về sáng tác. Mộng Dưới Hoa còn đáng được coi là một kỳ công vì phổ nhạc vào thơ Việt Nam là một việc cực khó. Người phổ nhạc chẳng những phải lệ thuộc vào số chữ mà còn phải lựa cung bậc cho đúng luật bằng trắc của bài thơ, không như trường hợp phổ nhạc thơ Pháp hay thơ Anh, chỉ cần theo đúng số chữ mà thôi. Vì vậy, thường thường các bài thơ Việt Nam được phổ nhạc đều viết theo thể tự do, không gò bó, thì mới theo sát được [âm] bằng trắc của từng chữ. Làm theo thể mẫu hết sức cân đối mà vẫn giữ đúng được bằng trắc của từng chữ, ta phải ngả nón trước Phạm Đình Chương.

Bìa bản nhạc Xóm Đêm

Trong thập niên 60, ông đã sáng tác một loạt ca khúc phổ thơ rất thành công và được yêu chuộng như Nửa Hồn Thương Đau, Ngợi Ca Tình YêuĐêm Màu Hồng (thơ Thanh Tâm Tuyền), Khi Cuộc Tình Đã Chết (Du Tử Lê), Người Đi Qua Đời Tôi (Trần Dạ Từ) và nổi bật nhất là ca khúc Đôi Mắt Người Sơn Tây (Quang Dũng). Từ đó, Phạm Đình Chương thường được cho là một trong những nhạc sĩ phổ thơ hay nhất. Giai đoạn này cũng là lúc ông lập ra phòng trà tên gọi Đêm Màu Hồng và với ban hợp ca Thăng Long, đã biến nơi này thành chỗ hội tụ của các văn nghệ sĩ đương thời.

Thái Thanh hát Hội Trùng Dương

Sau biến cố 1975, Phạm Đình Chương vượt biên sang định cư tại California, Hoa Kỳ vào năm 1979. Ông định cư tại quận Cam cùng gia đình từ đó. Tại khoảng thời gian sống tại Hoa Kỳ, ông đã viết một số ca khúc cuối cùng, gồm những tác phẩm phổ thơ như Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn, Quê Hương Là Người Đó, Khi Tôi Chết Hãy Đem Tôi Ra Biển (phổ thơ Du Tử Lê), Hạt Bụi Nào Bay Qua (Thái Tú Hạp) v.v.. Ngoài ra, ông đã hoạt động rất thành công qua những buổi trình diễn tại các cộng đồng người Việt trên toàn thế giới.

Vào mùa hè năm 1991, ông lâm bệnh và qua đời vào ngày 22 tháng 8 năm 1991 tại quận Cam, California, hưởng dương được 62 tuổi. Theo như gia đình ông kể lại, sau khi người anh của ông là nghệ sĩ lão thành Hoài Trung qua đời tám năm sau đó, vào một buổi sáng nắng ấm năm 1998 tại miền nam Cali, gia đình ông đã đem cốt của hai ông và rải ngoài biển, như trong một ca khúc ông viết trong thời gian cuối cùng, nhan đề “Khi Tôi Chết, Hãy Đem Tôi Ra Biển”, phổ từ thơ của thi sĩ Du Tử Lê.

Danh sách các tác phẩm do nhạc sĩ Phạm Đình Chương viết gồm có :

01 – Anh đi chiến dịch (1962)
02 – Bài ca tuổi trẻ (1950)
03 – Bài ngợi ca tình yêu (thơ Thanh Tâm Tuyền)
04 – Bên trời phiêu lãng (thơ Hoàng Ngọc Ẩn)
05 – Buồn đêm mưa (thơ Huy Cận)
06 – Cho một thành phố mất tên (thơ Hoàng Ngọc Ẩn)
07 – Dạ tâm khúc (thơ Thanh Tâm Tuyền)
08 – Đất lành
09 – Đêm cuối cùng
10 – Đêm màu hồng (thơ Thanh Tâm Tuyền)
11 – Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê)
12 – Đến trường
13 – Định mệnh buồn – Phạm Thành
14 – Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng)
15 – Đón xuân
16 – Đợi chờ (viết với Nhật Bằng)
17 – Được mùa
18 – Hạt bụi nào bay qua (thơ Thái Tú Hạp)
19 – Heo may tình cũ (thơ Cao Tiêu)
20 – Hò leo núi
21 – Trường ca Hội Trùng Dương
22 – Khi cuộc tình đã chết (thơ Du Tử Lê)
23 – Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển (thơ Du Tử Lê)
24 – Khúc giao duyên
25 – Kiếp Cuội già
26 – Lá thư mùa xuân
27 – Lá thư người chiến sĩ
28 – Ly rượu mừng
29 – Mắt buồn (thơ Lưu Trọng Lư)
30 – Mầu kỷ niệm (ý thơ Nguyên Sa)
31 – Mỗi độ xuân về
32 – Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng)
33 – Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn)
34 – Mười thương
35 – Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ)
36 – Nhớ bạn tri âm
37 – Nửa hồn thương đau (ý thơ Thanh Tâm Tuyền)
38 – Quê hương là người đó (thơ Du Tử Lê)
39 – Ra đi khi trời vừa sáng (lời Phạm Duy)
40 – Sáng rừng
41 – Ta ở trời tây (thơ Kim Tuấn)
42 – Thằng Cuội
43 – Thuở ban đầu
44 – Tiếng dân chài
45 – Trăng Mường Luông
46 – Trăng rừng
47 – Xóm đêm
48 – Xuân tha hương

Nguồn từ : phamdinhchuong.com