Di Sản

Nhà dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

311 views

Với kiến trúc nhà dòng Saint Paul, chúng ta tự hào rằng tại Sài Gòn năm 1864 đã có một công trình kiến trúc kiên cố đầu tiên lại do chính kiến trúc sư người Việt thiết kế và xây dựng.

Khi đi ngang ngôi nhà trắng tại số 4 Tôn Đức Thắng, quận 1 (trước là Cường Để) mọi người chỉ biết đây là một nữ tu viện. Tòa nhà này trước kia còn được gọi là “Nhà Trắng”, không phải vì sơn toàn màu trắng như tòa Bạch Ốc (White House) mà vì ngôi nhà này được xây dựng và làm chủ bởi những nữ tu dòng Saint Paul de Chartres (Thánh Phaolô thành Chartres) “trinh bạch từ linh hồn đến những chiếc áo dòng trắng toát”. Trước năm 1975, trong nhà dòng này có một trường tư thục với các lớp từ mẫu giáo tới tú tài với số lượng 1.600 học sinh (có ký túc xá cho học sinh nội trú).

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Kiến trúc ban đầu của Dòng Thánh Phao Lô Sài Gòn (1866)

Sau năm 1975, có một thời gian là trường sư phạm mầm non. Nếu ai có dịp vào đây sẽ choáng ngợp với không gian rộng rãi, khoáng đãng với kiến trúc ba khối nhà: cô nhi viện, nhà nữ tu ở và khu nhà nguyện. Khu nhà nguyện có thiết kế đặc biệt, nhìn từ trên cao xuống rất giống cây thánh giá, bên trong có thêm nhiều cột đỡ vững chãi, phía trước là một sân cỏ rộng với tượng thánh bổn mạng của dòng Phaolô.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Một thiết kế theo nhận định của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ: “Một giáo đường huy hoàng với đường nét thẩm mỹ lối Gothique. Các khu vòm hình liềm cung, đua nhau vượt lên tới 20 thước, không một chút chạm trổ hoa hòe… Làm cho khách tưởng nhớ đến giáo đường “Sainte Chapelle”… Cảm tưởng nhẹ nhàng vì sự thành công của vị kiến trúc sư làm cho ai vào đó cũng cảm thấy thoát tục”.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Kiến trúc sư “thầy Học”

Theo các tài liệu lịch sử truyền giáo, vào ngày 20-5-1860, các nữ tu dòng Thánh Phaolô gốc ở thành Chartres (Soeurs de Saint Paul de Chartres) từ Hong Kong đặt chân đến Sài Gòn. Họ cùng tạm định cư tại một căn nhà nhỏ vùng chợ cũ cùng các nữ tu dòng kín (đến Sài gòn năm 1861). Vào tháng 9-1862, mẹ bề trên dòng thánh Phaolô Benjamin khởi công xây cất nhà giám tỉnh tại khu đất Đường Thành (Rue de la Citadelle). Toàn bộ công trình này hoàn thành vào ngày 10-8-1864. Và trong bản thảo viết tay của mẹ Benjamin chỉ ghi lại tên kiến trúc sư là Thầy Học.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Không ảnh Dòng Thánh Phaolô năm 1929

Lúc ấy các bà phước chẳng biết kiến trúc sư “Thầy Học” là ai. Không biết trước đây đã có tài liệu nào xác minh Thầy Học là ai chưa. Riêng cụ Vương Hồng Sển trong quyển Sài Gòn năm xưa in năm 1958 cho biết: “Tương truyền nhà lầu cao lớn nơi đây là do ông Nguyễn Trường Tộ năm xưa đứng coi xây cất”. Vậy Thầy Học hay ông Nguyễn Trường Tộ là người thiết kế, xây cất tòa nhà này? Trong tạp chí Văn Đàn (số 4-1961, Sài Gòn) ông Phạm Đình Khiêm đã công bố nhiều tài liệu trong thư khố tu viện đã chứng minh Thầy Học chính là ông Nguyễn Trường Tộ.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ
Không ảnh Dòng Thánh Phaolô năm 1929

Trước hết, các soeur gọi ông Nguyễn Trường Tộ là Thầy Học vì ông đã từng làm thầy dạy học cho nhà chung. Cách gọi này đã được ghi một cách chính thức trong một tập tài liệu viết tay tên là La Création des Établisements des Soeurs de Saint Paul de Chartres en Extrême-Orient (Ký sự về việc thành lập các cơ sở dòng Nữ tu thánh Phaolô thành Chartres tại Viễn Đông) do mẹ Benjamin, người sáng lập “Nhà Trắng” soạn thảo.

“… Được khu đất tốt đẹp như vậy lại chán cảnh tạm bợ nhiều khi còn tốn kém hơn, bà bề trên bèn quyết định xây nhà vững chắc. Bà bàn tính công việc xây cất ấy với Đức cha Gauthier và cha Croc, các vị ấy đồng ý rằng khi trở về đàng ngoài, sẽ để Thầy Học ở lại điều khiển các công tác”.

Trong ký sự còn xác định: “Ông là một giáo hữu Đàng-Ngoài”. Điều này đã xác nhận thời gian sau khi thôi học, ông Nguyễn Trường Tộ mở trường dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ Hán trong nhà chung Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Tại đây, năm 1846 ông được giám mục người Pháp tên là Gauthier dạy học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu biết về các môn khoa học thường thức của phương Tây. Cuối năm 1858, ông đi cùng Giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn “phân sáp” (sáp nhập hai, ba gia đình Công giáo vào trong một làng không Công giáo, chứ không cho ở tập trung như trước). Đầu năm 1859, Giám mục Gauthier đưa ông sang Hương Cảng (Hong Kong) và Pháp. Trong tập Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ do con ông là Nguyễn Trường Cửu ghi chép giai đoạn ông Nguyễn Trường Tộ đi Pháp như sau: “Rồi sang nước đại Pháp, ở kinh thành Ba Lê, là kinh đô, đi du lịch xem chính trị, học hành, kỹ nghệ, phong tục nước đại Pháp. Khi nghe “lặng sáp” rồi (ý nói chấm dứt tình trạng phân sáp như nói ở trên – LVN) thì Đức cha Hậu lại đem ông Tộ và các cụ về nhà chung”.

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Vẫn theo ông Cửu thì chính mẹ bề trên phải thỏa thuận với Đức cha Hậu để xây cất Nhà Trắng. Câu hỏi đặt ra là tại sao mẹ Bejamin lại chọn Nguyễn Trường Tộ mà không chọn những kiến trúc sư Pháp vì chính Nguyễn Trường Tộ đã chứng minh được với mẹ bề trên và Đức cha là một người có khả năng về kiến trúc khi về nhà chung (Xã Đoài) đã “làm lại nhà hai tầng cho Cố giữ việc ở và nhà Tràng Latin ba tầng hình chữ thập gọi là “nhà tây” cho học trò Latin ở và học cùng làm nhà thờ Đức Bà riêng cho học trò, theo mẫu nhà thờ Đức Bà hiện ra thành Lộ Đức (Lourdes) đẹp lắm và ở ngoài xây tường cải hoa lộng, giống các sắc hoa tây nam rực rỡ xanh tươi vui mắt, rầy (bây giờ) hư rồi. Đoạn tậu vườn làm nhà ở phía bắc nhà chung, rồi vào Gia Định làm sở nhà bà phước cho các người nhà mụ Tây ở…”.

Theo tác giả Trương Bá Cần, trong các công trình do Nguyễn Trường Tộ xây cất ở Xã Đoài, nay chỉ còn lại nhà tràng Latin (tức tiểu chủng viện) ba tầng, hình chữ thập gọi là “nhà Tây”, chứ tòa giám mục và các nhà phụ thuộc đều đã bị bom Mỹ đánh sập.

Dấu ấn kiến trúc tại Sài Gòn

Riêng Giám mục Gauthier thường gọi Nguyễn Trường Tộ bằng danh hiệu “kiến trúc sư”, mặc dù ông Tộ chưa một ngày học qua ngành kiến trúc như trong thư gửi Hội Truyền giáo nước ngoài ở Paris (đề ngày 1-1-1870), Giám mục Gauthier viết: “… Người ta quen gọi là kiến trúc sư vì ông ta (chỉ ông Tộ) đã xây ngôi nhà ba tầng của các nữ tu Sài Gòn, một nhà nguyện và một ngọn tháp cao nổi bật…” (dẫn lại theo Nguyễn Bá Cần). Có lẽ do thiên bẩm, óc quan sát, thực nghiệm khi được ra nước ngoài trước kia, ông có ở Hong Kong ít lâu và trong thời gian ngắn ngủi tại thuộc địa này của người Anh, ông đã thấy được cách thức và thể loại kiến trúc của châu Âu. Trước đó, ông đã được ngợi ca là một kiến trúc sư tài năng trong quyển II, trang 731 của tạp chí La Semaine religieuse (Paris, năm 1867):

Dòng Saint Paul và dấu ấn kiến trúc Nguyễn Trường Tộ

Người Đông phương ở trong phái ủy thì có hai ông quan và một người kiến trúc sư Công giáo, có trí nhớ lạ lùng, tài năng lỗi lạc và chính là người đã xây giáo đường của ta ở Sài Gòn”. Hai ông quan là Nguyễn Tăng Doãn và Trần Văn Đạo, còn người kiến trúc sư tài năng lỗi lạc ấy chính là ông Nguyễn Trường Tộ. Linh mục Le Mée (thừa sai Paris) trong một bức thư đăng trên tập san Missions Catholiques năm 1876 có nói về công việc ấy như sau: “Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc đã đem theo một nho sĩ Bắc Kỳ, tên là Lân (tức Nguyễn Trường Tộ). Với trí thông minh hiếm có, lại được gợi ý và được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và tận tụy của Giám mục Gauthier, nho sĩ Bắc Kỳ này, vì tình yêu Thiên Chúa, đã nhận đứng ra đốc suất công việc. Thời đó ở Sài Gòn chưa có một công trình nào làm kiểu mẫu. Với đề án của tu viện và nhà nguyện do nữ tu Benjamin cung cấp, ông ta đã phác họa được một họa đồ phối cảnh chung và thực hiện công trình nhờ sự cộng tác của các công nhân người Việt. Chính ông đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom công việc một cách rất cẩn thận và chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ cũng như chưa có nhà thầu…”.

Tác Giã : Lê Văn Nghĩa

Dinh Thượng Thơ: Giá trị không chỉ ở kiến trúc

243 views

Ngay khi phương án phá bỏ tòa nhà xưa, vốn có tên gọi “Dinh Thượng Thơ” được công bố ở một cuộc triển lãm vào cuối tháng 4.2018, nhiều ý kiến trên báo đài đã cảnh báo khả năng đánh mất một di sản quý mặc dầu tòa nhà chưa được xếp hạng di tích. Trên internet, hơn 7.000 người trong và ngoài nước đã nhanh chóng ký thỉnh nguyện thư online yêu cầu dừng việc phá bỏ.
Bài viết dưới đây tiếp tục đóng góp các tư liệu nghiên cứu mới về giá trị nhiều mặt của Dinh Thượng Thơ.

Giá trị ngay từ tên gọi Việt hóa

Có ý kiến cho rằng từ ngữ xưa “Dinh Thượng Thơ” có hơi hướm thực dân, đế quốc vì vậy không nên gọi (và từ đó không nên duy trì tòa nhà!). Nói như thế hoàn toàn “oan”, bởi tên gọi “Dinh Thượng Thơ” chính là từ dịch thuật Việt hóa của người Sài Gòn vào cuối thế kỷ 19. Nó dùng để chỉ một cơ quan chính quyền hoàn toàn còn mới mẻ với người Việt thông qua một từ ngữ dễ hiểu, dễ nhớ. Chúng tôi tìm thấy từ ngữ Việt hóa đó còn dấu tích trên Gia Định Báo – tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ra đời năm 1865. Thêm nữa, chúng được giải thích khá tường tận trong sách giáo khoa “Dư đồ thuyết lược” (Précis de Géographie, Kiến thức chính yếu về địa lý) của Trương Vĩnh Ký, in năm 1887.

Ngày 9.11.1864, cách đây 154 năm, Thống đốc Nam kỳ De La Grandière ký sắc lệnh thành lập cơ quan Direction de L’Intérieur. Đứng đầu cơ quan này là một Directeur, người đầu tiên giữ chức Directeur là ông Paulin Vial. Còn tòa nhà nơi đặt cơ quan được gọi là Hôtel de L’Intérieur. Ngày nay, chúng ta có thể dịch nhanh Direction de L’Intérieur là Bộ Nội vụ (cấp quốc gia) hay Nha Nội vụ (cấp khu vực) hoặc Sở Nội vụ (cấp tỉnh thành). Còn Directeur là giám đốc, và Hôtel de L’Intérieur là Dinh Nội vụ. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ 19, khi người Pháp thiết lập ở nước ta một cơ cấu kinh tế – chính trị hoàn toàn mới mẻ và xa lạ thì việc hiểu nghĩa và dịch thuật tên các cơ quan và chức vụ chính quyền mới, hoàn toàn không phải là chuyện dễ dàng.

Bản đồ Thành Gia Định 1935
Bản đồ Thành Gia Định đối chiếu với các đường phố ở trung tâm Sài Gòn được thiết kế sau 1864. Góc La Grandière – Catinat trong ô vuông xanh chính là địa điểm xây dựng Dinh Thượng Thơ và Dinh Xã Tây. Địa điểm này nằm trong khuôn viên pháo đài của cổng thành phía Nam (nguồn: Tạp chí Hội nghiên cứu Đông Dương – Sài Gòn 1935)

Trong bối cảnh đó, người Sài Gòn – có thể là Trương Vĩnh Ký, giáo sư trường Thông ngôn và Hậu bổ, đã dịch tên Direction de L’IntérieurHôtel de L’Intérieur là “Dinh Lại bộ Thượng Thơ”, gọi tắt là “Dinh Thượng Thơ”. Còn chức vụ Directeur người đứng đầu cơ quan này được dịch là “Quan Thượng Thơ”. Theo chúng tôi, cách dịch nêu trên vận dụng các tên gọi Việt Nam sẳn có, mang ý nghĩa gần giống để biểu đạt nội dung mới. Thật vậy, chữ “Dinh” trong tiếng Việt thế kỷ 19, thường dùng để chỉ cơ quan chính quyền, đồng thời cũng mang nghĩa là là trụ sở của cơ quan đó. Còn chữ “Lại bộ” hay Bộ Lại – từ Việt xưa có từ thời Lý Trần, để chỉ cơ quan trông coi về việc bổ nhiệm quan lại giúp Vua. Bộ Lại là một trong sáu bộ (lục bộ) của chính phủ trong thời phong kiến, bao gồm: Bộ Binh, Bộ Hộ, Bộ Hình, Bộ Công, Bộ Lại và Bộ Lễ. Từ đời nhà Lý cho đến nhà Nguyễn, chức vụ đứng đầu các Bộ đều được gọi là Thượng Thư (phát âm miền Nam là Thượng Thơ). Sau Cách mạng tháng Tám, trong tiếng Việt hiện đại mới xuất hiện chữ Bộ trưởng – thay cho Thượng Thơ.

Hai mươi ba năm sau, khi Liên bang Đông Dương được Pháp thành lập vào tháng 10 năm 1887, chính quyền Pháp vẫn duy trì cơ quan Direction de L’Intérieur với chức năng tương tự nhưng chức vụ Directeur được thay thế bằng chức vụ Secrétariat Général (Tổng thư ký – chức vụ thấp hơn Directeur). Theo sách Quan chế của Huỳnh Tịnh Của – in năm 1888, cơ quan Direction de L’Intérieur được dịch chính thức là “Thống Lý Nha Sở Nội bộ”, còn Secrétariat Général được dịch chính thức là Tá Lý hay Hiệp Lý.

Nếu so từ ngữ “Thống Lý Nha Sở Nội bộ” với “Dinh Lại Bộ Thượng Thơ”, hay Dinh Thượng Thơ thì từ “Thống Lý Nha Sở Nội bộ” chuyên chở được đầy đủ chức năng kiêm quản nhiều sở ngành của Direction de L’Intérieur. Tuy nhiên, nó lại là từ ngữ hoàn toàn bằngchữ Hán – Việt nên khó hiểu, khó nhớ. Cũng tương tự như thế, các từ Tá Lý hay Hiệp Lý đều dịch nghĩa chính xác người đứng đầu cơ quan Direction de L’Intérieur, song vẫn là từ ngữ Hán – Việt. Không dễ dàng sử dụng như từ Thượng Thơ. Cần lưu ý vào cuối thế kỷ 19, trên đất Nam Kỳ các trường lớp Nho học không nhiều như ở miền Trung và miền Bắc, mặt khác chữ quốc ngữ còn phôi thai. Có lẽ chính vì thế, người dân Sài Gòn và Nam Kỳ quen dùng tên gọi Dinh Thượng Thơ hơn Dinh Thống Lý Nha Sở Nội bộ và còn lưu truyền đến ngày nay.

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Có thể nêu một thí dụ tương đồng trong trường hợp này. Đó là từ Dinh Xã Tây (dịch thuật từ Hôtel de Ville), được người Sài Gòn và Nam Kỳ dùng phổ biến để chỉ cơ quan chính quyền thành phố và trụ sở của nó, thay vì “Dinh Đốc lý” hay “Tòa Thị chính (quen dùng ở miền Bắc, miền Trung ). Sau năm 1954 mới có từ “Tòa Đô sảnh” thay thế.

Xét về mặt ngôn ngữ học và sử học, việc gọi tên một địa danh hay một kiến trúc theo tên gọi ban đầu phổ biến của nó là chuyện bình thường và nên làm. Để gọi tên tòa nhà 59 – 61 Lý Tự Trọng, một kiến trúc may mắn tồn tại xuyên ba thế kỷ, chỉ thay đổi chức năng từ sau năm 1945 trở đi, không thể không dùng tên gọi lịch sử vốn có là Dinh Thượng Thơ.

Tên gọi Dinh Thượng Thơ chính là dấu tích ngôn ngữ của thời kỳ giao thời giữa cận đại và hiện đại trong lịch sử Sài Gòn và Việt Nam. Đặc biệt, nó là một thí dụ tiêu biểu về việc phát triển chữ quốc ngữ trở thành ngôn ngữ hành chính và ngôn ngữ toàn xã hội. Vả lại, đâycòn là một thí dụ tiêu biểu trong việc dịch thuật các từ ngữ hành chính sao cho dể hiểu, dễ nhớ trong điều kiện dân trí cụ thể. Điều ấy xứng đáng là một kinh nghiệm quý báu cho công cuộc cải cách hành chính hiện tại.

Dấu tích thời kỳ người Việt thành lập Sài Gòn từ thế kỷ 17

Qua nghiên cứu các bản đồ cổ và sách sử, chúng tôi thấy nền đất Dinh Thượng Thơ là một trong những dấu tích quan trọng của Thành Gia Định và là dấu tích tiêu biểu của thời kỳ người Việt bắt đầu khai phá, thành lập Sài Gòn.

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, vào mùa Xuân năm 1790, chúa Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) cho xây Thành Gia Định tại vùng đất cao thuộc địa phận làng Tân Khai – một trong 40 ngôi làng đầu tiên của người Việt trên đất Sài Gòn. Vùng đất cao này khi người Pháp vào gọi là Plateau de la Citadelle – Đồi Thành lũy. Đó chính là khu đất trải rộng từ rạch Thị Nghè xuống đến đường Đồng Khởi ngày nay. Đỉnh đồi là khu vực Đài Truyền hình hiện giờ, chân đồi là khu vực Công viên Chi Lăng, bao gồm Dinh Thượng Thơ. Người Pháp gọi khu vực chân đồi tại đây là Dốc Catinat (Catinat là tên một trong những chiến thuyền tham gia đánh thành Gia Định).

Khu trung tâm hành chính Sài Gòn và Nam Kỳ
Khu trung tâm hành chính Sài Gòn và Nam Kỳ trên bản vẽ minh họa quy hoạch Sài Gòn 1900 (đang lưu giữ tại trụ sở UBND TP.HCM). Các cơ quan và kiến trúc tiêu biểu đều trong khoảng cách 5 – 15 phút đi bộ. Dinh Thượng Thơ là hai tòa nhà đánh số 1 và 2

Thành Gia Định là một tòa thành lớn, rộng khoảng 100 ha, xây dựng theo kiểu Việt Nam kết hợp với châu Âu (Vauban). Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết thành còn có tên gọi là thành Bát Quái (dân gian gọi là Thành Quy), hình dáng đường viền như hoa sen, có 8 cửa. Trong đó, hai cửa phía Nam mang tên Càn Nguyên và Ly Minh. Theo bản đồ phác họa Thành Bát Quái do người Pháp vẻ lại và chú giải bởi Trương Vĩnh Ký, cổng Càn Nguyên chính là ngả tư Đồng Khởi – Lý Tự Trọng hiện tại. Còn cổng Ly Minh là ngả ba Lê Thánh Tôn – Thái Văn Lung (tên xưa là Đồn Đất – nay là bệnh viện Nhi đồng 2). Con đường vốn có chạy dọc theo đường hào bên trong tường thành phía Nam cũ,được người Pháp sửa sang, chuyển thành đường phố – năm 1865 mang tên Gouverneur (vì có Dinh Soái phủ Sài Gòn đóng ở khu đất trường Trần Đại Nghĩa hiện tại). Đường này từ năm 1870, mang tên De La Grandière (đườngLý Tự Trọng ngày nay).

Vào tháng Giêng năm 1926, khi xây dựng nhà ở góc đường Catinat (Đồng Khởi) và De La Grandière (có thể là nền đất cao ốc 26 Lý Tự Trọng hiện giờ), người Pháp đã phát hiện một đoạn tường thành Bát Quái xây bằng đá ong Biên Hòa rất kiên cố.

Căn cứ vào các sử liệu nêu trên, có thể nói ô đất giáp ranh đường Đồng Khởi – Lý tự Trọng – Lê Thánh Tôn ngày nay chính là đất của pháo đài ở cổng thành phía Nam, mang tên Càn Nguyên của Thành Gia Định. Trên ô đất này, ngay từ những năm 1860, người Pháp đã quy hoạch làm đất xây dựng Dinh Thượng Thơ (bao gồm nhà làm việc ở mặt đường Lý Tự Trọng và văn phòng của giám đốc trên nền cao ốc 213 Đồng Khởi sau này) và sau đó là Dinh Xã Tây (trụ sở UBND TP.HCM). Nền đất của cả hai công trình kiến trúc quan trọng này ẩn chứa di tích không chỉ của Thành Gia Định mà còn của làng Tân Khai – chiếc nôi của người Việt trên đất Sài Gòn. Năm 2007, tại Hà Nội, di tích Hoàng Thành Thăng Long đã phát lộ trên nền đất xây dựng Nhà Quốc Hội. Nay mai, nếu có một cuộc thám sát khảo cổ tượng tự trên nền đất trong khuôn viên của hai tòa nhà thì có nhiều khả năng di tích Hoàng Thành Gia Định thế kỷ 18 và dấu tích người Việt khai phá Sài Gòn ở thế kỷ 17 sẽ phát lộ!

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Dấu tích mở đầu lịch sử hành chính đô thị và hành chính quốc gia hiện đại

Từ 1861 – 1879, thực dân Pháp thiết lập chính quyền quân quản ở Sài Gòn và sau đó là trên toàn Nam Kỳ, người Việt gọi là “Soái phủ”. Đứng đầu Soái phủ là đô đốc thống đốc (Amiraux Gouverneur, người Việt lúc ấy dịch là Quan Khâm Mạng), một tướng hải quân chỉ huy về cả quân sự và hành chính. Trong gần 4 năm đầu tiên (1861 – 1864), chính quyền quân quản chưa có bộ máy riêng về hành chính dân sự. Đến ngày 9.11.1864, Thống đốc Nam Kỳ De La Grandière ra quyết định thành lập Direction de l’ Interieur (Bộ Nội vụ), viết tắt là DI – hai chữ này còn nguyên trên cửa sắt ở cổng 61 Lý Tự Trọng hiện tại. Cơ quan DI là tổ chức đầu tiên chuyên về hành chính dân sự, có nhiệm vụ quản trị Sài Gòn và các vùng mới chiếm đóng – tách biệt khỏi các hoạt động quân sự. Cơ quan DI bao gồm Secrétariat General (có thể dịch là ban tổng thư ký hay chánh văn phòng) và nhiều Bureax (có thể dịch là sở hay ban hoặc phòng).

Theo sách La Cochinchine en 1878 giới thiệu Nam Kỳ nhân Triển lảm Thế giới ở Paris 1878, DI có một ban tổng thư ký và bốn Bureau (phòng, ban). Theo sách Quan chế của Huỳnh Tịnh Của vào năm 1888, DI vẫn giữ nguyên bộ máy như trên nhưng có thêm Bureau thứ 5 Bureau. Căn cứ vào nội dung công việc của các Bureau thì DI không chỉ phụ trách về bổ nhiệm quan chức các địa phương mà còn kiêm quản một loạt các lĩnh vực dân sự rộng khắp khác. Đó là quản trị ngân sách, tài chính, xây dựng, giao thông, bưu điện, canh nông, thương mại, kỹ nghệ, giáo dục, tôn giáo, cảnh sát và mật vụ và kể cả xử án. Gia Định Báo trực thuộc Bureau thứ ba – bộ phận quản lý các việc liên quan kinh doanh, giáo dục, y tế, hộ tịch, họa đồ, nhà in v.v..

Có thể hình dung công việc của DI là công việc của một chính phủ thực thụ bao gồm nhiều bộ chuyên ngành, hay một cơ quan liên bộ quản trị mọi mặt Nam Kỳ (trừ quân sự). Như vậy, DI là cơ quan ra đời để quản trị hành chính một vùng lảnh thổ rất lớn với Sài Gòn là thủ phủ. Do vậy, tuy chức vụ của người đứng đầu DI chỉ gọi là Directeur (giám đốc) nhưng quyền hạn rất lớn, hầu như chỉ sau thống đốc. Đến năm 1887, chức vụ Directeur của DI được bãi bỏ nhưng cơ quan DI vẫn được duy trì trực thuộc thẳng thống đốc Nam Kỳ. Đây cũng là thời điểm hoàn thành tòa nhà hình chữ U như kiến trúc còn tồn tại đến bây giờ.

Ngày 13.12.1880, Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers ra nghị định thành lập khu Sài Gòn – Chợ Lớn bao gồm hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, đặt dưới quyền của DI. Tuy nhiên đến năm 1888, toàn quyền Đông Dương lại cho hai thành phố tách ra. Như vậy, từ 1864 đến 1888, ngoài việc điều hành toàn Nam Kỳ, DI còn là cơ quan hành chính điều hành trực tiếp Sài Gòn – Chợ Lớn trong 24 năm. Nói cách khác, DI là “tòa thị chính”, ủy ban hành chính đầu tiên của đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn!

Trong hai thập niên cuối cùng của thế kỷ 19, Thống đốc Nam Kỳ lần lượt thành lập và tách các Sở chuyên môn về tài chính, công chính, học chính, thương chính… ra khỏi cơ quan DI. Dần dần, DI chuyển hóa một sở chuyên môn chuyên về nhân sự và công tác văn phòng đặt dưới quyền Nha Tổng thư ký của Thống đốc Nam Kỳ.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trước khi Pháp xâm lược trở lại, Ủy ban hành chính Nam bộ và một số cơ quan trực thuộc đã đóng trụ sở ở Dinh Thống đốc Nam Kỳ (Bảo tàng TP.HCM hiện tại). Nhưng sau khi quân đội Anh vào đóng tại Dinh Thống đốc, các cơ quan này chuyển qua Dinh Xã Tây và Dinh Thượng Thơ.

Từ 1945 – 1955, tòa nhà Dinh Thượng Thơ, có lúc là Dinh Thủ hiến Nam Việt, và rồi Tòa đại biểu chính phủ tại Nam Việt của Quốc gia Việt Nam – Bảo Đại. Từ tháng 10.1955 – 4/1975, Dinh Thượng Thơ chuyển thành trụ sở của Bộ Kinh tế. Nơi đây cũng là trụ sở tuần báo Chấn Hưng Kinh Tế trực thuộc Bộ Kinh tế. Sau tháng 4.1975 đến nay, tòa nhà không còn là trụ sở của các cơ quan trung ương mà chuyển về cho UBND TP.HCM, lần lượt làm trụ sở của nhiều cơ quan quản lý kinh tế.

Đến nay, xuyên qua ba thế kỷ, tòa nhà Dinh Thượng Thơ chỉ thực hiện chức năng là công thự hành chính ở cấp trung ương cũng như địa phương. Có lẽ hiện giờ, ngoài trụ sở UBND TP.HCM và Tòa án TP.HCM, trên địa bàn thành phố, rất hiếm có một công thự nào không những kiến trúc còn nguyên vẹn như thuở ban đầu mà chức năng sử dụng cũng không thay đổi như tòa nhà Dinh Thượng Thơ. Bản thân tòa nhà rất xứng đáng được coi là di tích lịch sử, là cột mốc vàng – mở đầu lịch sử quản trị hành chính đô thị cũng như quản trị hành chính quốc gia của Việt Nam trong thời kỳ hiện đại!

Di sản kiến trúc công thự đẹp và hiệu quả

Khi mới ra đời, 1864, cũng như nhiều cơ quan chính quyền lúc ấy trụ sở của DI chỉ là một số ngôi nhà nhỏ tạm thời. Tuy nhiên khu đất đặt trụ sở của DI đã nằm trong quy hoạch từ rất sớm. Theo các tài liệu hiện có, tòa nhà Dinh Thượng Thơ hình chữ U như kiến trúc đang hiện hữu, được xây dựng trong khoảng 1875 -1881. Trên bản đồ Sài Gòn 1882, hiện lưu tại Thư viện Quốc gia Pháp, chúng tôi thấy đã có hình vẻ tòa nhà hình chữ U này. Như vậy, có thể coi thời điểm 1881 hoặc 1882 là năm hoàn thành tòa nhà.

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Dinh Thượng Thơ do kiến trúc sư Marie-Afred Foulhoux (1840 – 1892) thiết kế. Ông cũng là tác giả thiết kế các công thự đồ sộ chung quanh tòa nhà này, như tòa Pháp Đình (1885), Dinh Thống đốc Nam Kỳ 1890), Bưu điện (1891). Hơn thế nữa ông còn là Giám đốc Sở Công chánh Nam Kỳ, sau đó được bổ nhiệm làm Kiến trúc sư trưởng của thành phố.

Do vậy, tòa nhà Dinh Thượng Thơ và các công trình kể trên của Foulhoux, mang phong cách dinh thự Pháp thế kỷ 19 nhưng vẫn có đường nét sáng tạo, kết hợp với thực tế xứ nhiệt đới. Thiết kế cổng vào tòa nhà chính, các cột trang trí tầng lầu, cổng ngoài sân và cửa đúc bằng gang, hàng rào sắt đều thể hiện tính sang trọng, quý phái. Tuy nhiên, tòa nhà có sân rộng, nhiều vòm cửa và cửa sổ lớn, tường rào không xây kín, tạo ra cảm giác thân thiện.

Trên sân tòa nhà, hiện có một cây hoa bồ cạp vàng, ở cuối tòa nhà phía giáp đường Đồng Khởi có một cây đa lâu năm. Cả hai cây này đều làm tăng vẻ đẹp cho tòa nhà. Được biết dưới tòa nhà có tầng hầm chưa được khảo sát đầy đủ. Nếu có được bản vẻ gốc kiến trúc của tòa nhà và một cuộc khảo sát toàn diện, hẳn chúng ta còn tìm được nhiều điều thú vị khác ở kiến trúc Dinh Thượng Thơ.

Mặt khác, khi đối chiếu kiến trúc tòa nhà và lịch sử hành chính cũng như cách thức tổ chức cơ quan hành chính của người Pháp trên đất Sài Gòn và Nam Kỳ, chúng ta có thể nhận thấy Dinh Thượng Thơ là một thí dụ tiêu biểu cho việc sử dụng công thự một cách hiệu quả và tiết kiệm. Thật vậy, ngay từ đầu, Dinh Thượng Thơ là một cơ quan hành chính đa năng, kiêm quản nhiều bộ phận chuyên môn khác nhau, đặt cạnh nhau để hỗ trợ cho nhau và tạo ra sự thuận tiện cho người dân tiếp xúc. Theo Gia Định Báo (tòa soạn đặt trong Dinh Thượng Thơ từ 1865 – 1885), ngoài việc liên hệ các Bureaux, nơi đây còn là nơi hội họp Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (một dạng hội đồng nhân dân cấp miền), bán đấu giá tài sản công và kể cả là nơi đến đặt mua báo và giao dịch quảng cáo!

Trong thực tế, quy mô tòa nhà Dinh Thượng Thơ chỉ ở mức vừa phải để phục vụ một dân số vừa phải (dưới 300.000 dân). Khi các tỉnh thành phát triển, dân số gia tăng, nhu cầu quản trị gia tăng thì Dinh Thượng Thơ không kiêm quản nữa. Các sở chuyên môn được dời đi theo quy hoạch đã định trước. Và do vậy, chính quyền đã không cần phải mở rộng hay xây mới tòa nhà Dinh Thượng Thơ, qua đó không làm lảng phí ngân sách, đồng thời không làm hỏng đi thiết kế hoàn hảo của chính tòa nhà và quy hoạch tổng thể cả khu vực!

Di sản quy hoạch trung tâm và cảnh quan hoàn hảo

Theo các bản vẻ thiết kế đô thị và bản đồ minh họa quy hoạch 1860, 1880 và 1900 mà chúng tôi được tham khảo tại Thư viện quốc gia Pháp, nơi xây dựng tòa nhà làm trụ sở cho Dinh Thượng Thơ, nằm trong tổng thể thiết kế quy hoạch khu trung tâm chính quyền Nam Kỳ và Sài Gòn.

Khu trung tâm này là ô chữ nhật, bao gồm các đường phố ngày nay là Nguyễn Đình Chiểu (Bắc), Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Tây), Lê Thánh Tôn (Nam) và Nguyễn Bĩnh Khiêm (Đông). Trong đó, đại lộ Gouvernement – Chính phủ (về sau, đổi là Norodom, nay là Lê Duẩn) và đường Impériale – Đế chế (về sau đổi là Nationale, nay là Hai Bà Trưng) là hai con đường trung tâm giao nhau thẳng góc, giống như kiểu thiết kế đô thị phổ biến ở Pháp vào thế kỷ 18. Thực tế khu này chính là nền đất của Thành Quy và Thành Phụng của nhà Nguyễn, hay nói cách khác người Pháp đã kế thừa và tận dụng ngay quy hoạch của Việt Nam sẳn có.

Dinh Thượng Thơ - Bureaux du secrétariat du gouvernement cochinchine

Trong khu này, góc Đông Bắc, chủ yếu dành cho các cơ quan quân sự vì giáp giới với rạch Thị Nghè (thông ra sông Sài Gòn) và thủy xưởng Ba Son. Đối xứng với nó là góc Tây Nam – nơi đặt các cơ quan chỉ huy đầu nảo và các sở chuyên môn hành chính. Các cơ quan đó được bố trí kế cận nhau, bao gồm lần lượt như sau:

  • Soái Phủ (khu Taberd, nay là trường Trần Đại Nghĩa, ba mặt đường).
  • Sở Học chánh (ba mặt đường, nay là Vincom Center, Sở Giáo dục và các biệt thự kế cận), nằm bên cạnh công viên Pages (công viên Chi Lăng).
  • Sở Đo đạc (góc Đồng Khởi – Lý Tự Trọng, đối diện Dinh Thượng Thơ).
  • Bộ/ Sở Nội vụ (Dinh Thượng Thơ, 59 – 61 Lý Tự Trọng).
  • Sở Công Chánh (63 Lý Tự Trọng, nay là trụ sở Sở Giao thông – Vận Tải và Sở Tài nguyên – Môi trường).
  • Sở Hiến binh (38 Lý Tự Trọng, nay là doanh trại quân đội).
  • Dinh Thống đốc Nam Kỳ (lúc đầu là Bảo tàng Nông nghiệp, nay là Bảo tàng TP.HCM).
  • Pháp đình (Tòa án TP.HCM).
  • Khám lớn (nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp).
  • Dinh Chính phủ (về sau thành Dinh Toàn quyền Đông Dương, còn gọi là Dinh Norodom, nay là Dinh Thống Nhất).
  • Nhà thờ Nhà nước (Nhà thờ Đức Bà ngày nay).
  • Sở Bưu Điện (Bưu điện trung tâm ngày nay).
  • Sở Tài chính và Sở Thu thuế (hai tòa nhà đối diện nhau, nay là Sở Văn hóa – Thể thao và cao ốc Metrolitan, cao ốc Bảo Việt).

Đặc biệt, bản đồ minh họa quy hoạch 1880 cho thấy có một vườn cây phía sau Dinh Thượng Thơ, đó chính là đất để dành làm Tòa Thị chính thành phố (Dinh Xã Tây được xây dựng từ 1898 đến 1909).

Thêm nữa, Dinh Thượng Thơ không chỉ là một kiến trúc đẹp gắn với quy hoạch trung tâm chính quyền hoàn hảo mà còn góp phần làm nên cảnh quan đẹp của góc đường Đồng Khởi – Lý Tự Trọng. Điều này biểu hiện ở các điểm như sau:

  • Tòa nhà thấp tầng, hài hòa với công viên Chi Lăng (trước 1955 là công viên Pages) làm thành một không gian thoáng rộng, dấu mốc kết thúc con dốc Catinat.
  • Hàng rào bằng tường gạch, hài hòa hợp cùng cây xanh dọc đường Catinat (sau 1955 là Tự Do, nay là Đồng Khởi).
  • Là một phần không thể thiếu của đường Lý Tự Trọng (tên nguyên thủy là đường Thống Đốc), khởi đầu khi xưa từ ngả tư Nguyễn Trung Trực đến bệnh viện Nhi Đồng 2 (bệnh viện Grall thời Pháp) có hai hàng cây cao cân đối, nhà cửa ven đường có chiều cao bị khống chế thấp hơn hai hàng cây. Đó là con đường tiêu biểu cho cách thiết kế quy hoạch một thành phố – vườn (Garden City) hay thành phố trong vườn (City in Gardens), theo cách nói hiện đại, đã áp dụng cho Sài Gòn từ hơn 150 năm trước.
  • Hiện tại, đường Lý Tự Trọng từ ngả tư Đồng Khởi đổ lên Thái Văn Lung đã xây dựng nhiều tòa cao ốc hiện đại, vượt quá các hàng cây xưa. Chỉ còn đoạn đường trải dài từ Thư viện Khoa học tổng hợp (Khám lớn Sài Gòn xưa) và mặt hông Pháp đình Tòa án, kéo đến Dinh Thượng Thơ là đoạn đường giữ được nét đẹp xưa, hài hòa cây xanh với kiến trúc. Quả thật, đoạn đường này cùng với Dinh Thượng Thơ, Dinh Thống đốc, Tòa án, đang trở thành “hàng quý hiếm” độc đáo khi mà ở thời điểm thế kỷ 21, trung tâm thành phố đã không thoát khỏi cơn lốc biến đổi trở thành rừng nhà cao tầng.

Giữ lại tòa nhà Dinh Thượng Thơ và cảnh quan xung quanh nó không chỉ vì lưu giữ các giá trị lịch sử – văn hóa mà còn lưu giữ giá trị cảnh quan – môi trường vô giá của một đô thị kết hợp văn minh Âu – Á, đã từng được coi là Hòn ngọc Viễn Đông!

Tác giã : Phúc Tiến (đăng trên trang báo mạng Người Đô Thị)

Chùa Tây Phương – Chùa Cổ Thứ Hai Của Việt Nam

570 views

Chùa Tây Phương (hay còn gọi là Sùng Phúc Tự) là ngôi chùa mang giá trị nghệ thuật điêu khắc độc đáo với nhiều pho tượng Phật có giá trị, và là minh chứng của một nền văn hóa lâu đời.

Chùa Tây Phương nằm trên địa phận xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 40 km về phía Tây, theo Đại lộ Thăng Long, qua ngã tư Chùa Thầy, rẽ phải khoảng 5 km, sau đó rẽ trái 1 km nữa, là đến di tích.

Chùa Tây Phương

Chùa Tây Phương ở Hà Nội được xây dựng khoảng thể kỷ 8 và là chùa cổ thứ hai sau chùa Dâu ở Bắc Ninh. Truyền thuyết kể lại rằng, sự ra đời của ngôi chùa gắn liền với quá trình truyền bá Phật giáo vào Việt Nam. Muộn hơn vài thế kỷ, câu chuyện lại nghiêng sang một hướng khác, gắn với nhân vật Cao Biền – Tiết độ sứ thời nhà Đường (864 – 868) đã từng cai trị An Nam và đến đây xây dựng một kiến trúc tôn giáo, với ý đồ chặn long mạch xứ này.

Truyền thuyết vẫn là truyền thuyết, còn chứng tích vật chất liên quan tới ngôi chùa, đó là thời Mạc Phúc Nguyên (1547 – 1561). Đây chính là thời điểm để ngôi chùa có quy mô như hiện nay. Sau đó, Vua Lê Thần Tông, Chúa Tây Vương Trịnh Tạc, Vua Lê Hy Tông có tu sửa thêm, nhưng không nhiều.

Chùa Tây Phương nổi tiếng không chỉ ở sự cổ kính qua truyền thuyết và lịch sử, nó còn nổi tiếng ở cảnh quan mê hồn, bởi tọa lạc trên đỉnh núi Câu Lâu, đột khởi giữa vùng đồng bằng màu mỡ, với núi, non, sông, nước gắn liền với quan niệm phong thủy phương Đông. Tây Phương còn nổi tiếng ở bộ tượng thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng, có thể coi là Phật điện đông đúc nhất trong các ngôi chùa ở Việt Nam có giá trị tiêu biểu, xuất sắc về tượng gỗ, được công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2013.

Chùa Tây Phương hiện nay là một quần thể các đơn nguyên, bao gồm các hạng mục sau: Tam quan hạ, Tam quan thượng, Miếu Sơn Thần, Tiền đường, Trung đường, Thượng điện, Nhà tổ, Nhà Mẫu và Nhà khách.

Chùa Tây Phương

Từ Tam quan hạ phái đi lên 247 bậc đá ong mới đến Tam quan Thượng. Miếu Sơn Thần nằm ở bên trái chùa, tách biệt với khu chùa chính. Đây là đơn nguyên vừa đóng vai trò là nơi thờ thần núi, vừa là nhà thờ Đức Ông, có diện tích khiêm tốn với kiến trúc gỗ lợp ngói truyền thống. Chùa Chính là hạng mục chủ yếu của toàn bộ phúc hợp Tây Phương. Chùa nằm trên đỉnh núi Câu Lâu, có kết cấu kiến trúc chữ công (I), bao gồm các tòa Tiền đường, Trung đường và Thượng điện. Cả ba đều có kết cấu kiến trúc khung gỗ kiểu chồng diêm, hai tầng tám mái. Cả hai tầng mái đều theo kiểu “tàu đao lá mái”, giữa hai tầng là cổ diêm được bưng kín bởi những tấm ván đố. Tiền đường và Thượng điện 5 gian, 2 chái với 6 bộ vì nóc, còn Trung đường được thu ngắn chiều ngang, chỉ còn 3 gian 2 chái, 4 bộ vì kèo, nhưng lại có mái thượng điện cao vượt hẳn lên.

Phần cổ diêm ở Tiền đường và Thượng điện có kích thước giống nhau và có chiều cao 1m, còn ở Trung đường có kích thước lớn hơn, cao 1,40m. Do Cổ diêm cao hơn như thế, nên tuy mái của cả 3 tòa đều cao bằng nhau, nhưng mái trên của tòa giữa lại trội vượt hẳn lên, theo đó, nhìn tổng thể chùa, chúng ta thấy Trung đường cao hơn hẳn. Mặt trước tòa Tiền đường bưng cửa gỗ bức bàn ở 3 gian giữa, hai bên xây gạch chỉ không trát vôi vữa, là ngôn ngữ của mặt tường ngoài, tiêu biểu cho cả ba đơn nguyên.

Chùa chính Tây Phương còn rất nhiều sự đặc biệt về kết cấu khung gỗ, về tàu mái, bộ mái, cùng các mảng đề tài trang trí trên kiến trúc gỗ. Để cảm nhận được hết vẻ đẹp của ngôi chùa nói chung, kiến trúc ngôi chùa chính nói riêng, chắc chắn không một bài viết nào nói hết, mong du khách thập phương, những người hành hương đến tận nơi chiêm ngắm mới cảm nhận được hết vẻ đẹp của hạng mục này.

Ngoài Chùa Chính là đơn nguyên nổi bật, Tam quan hạ, Tam quan Thượng nêu trên, thì với Nhà Tổ, Nhà Mẫu, Nhà Khách cùng với các đơn nguyên ấy đã tạo nên vẻ uy nghi, quy mô to lớn của quần thể Tây Phương.

Chùa Tây Phương

Nhà TổNhà Mẫu làm theo kiểu 3 gian hai dĩ, kết cấu theo kiểu chữ “Nhị”(=). Phía bên ngoài thờ Tổ, phía bên trong thờ Mẫu. Các vì chính của Nhà Tổ được liên kết theo kiểu “vì kèo giá chiêng”. Ba gian giữa của Nhà Tổ được bưng cửa bức bàn, hai gian chái ở đầu hồi bưng bằng cửa ván đố. Trên bộ vì nóc và cốn, lại không theo kết cấu “vì kéo giá chiêng” mà thay bằng kết cấu “chồng rường”. Các con rường được cách điệu thành hoa, lá, đao mác. Tại bốn chiếc cốn ở đây, nghệ nhân chạm hình cây mai, tùng, cúc, trúc, được quyện trong đề tài mai điểu, trúc tước, cúc điệp, tùng lộc, có phong cách tương đồng với nghệ thuật Chùa Chính.

Nhà khách là hạng mục nằm ở sườn phải của Chùa Chính. Hạng mục này mới được phục dựng lại trong những năm gần đây, nhưng vẫn tuân thủ kiến trúc truyền thống và đồng điệu với phong cách kiến trúc của toàn bộ các đơn nguyên Tây Phương. Nhà khách gồm 7 gian, kết cấu theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ri, hai hồi dải thoải dần theo hình tay ngai. Các bộ vì kèo theo kiểu kèo kẻ, bào trơn đóng bén. Các vì bên trong được làm theo kiểu “giá chiêng kẻ ngồi”. Hai bộ vì kèo làm theo lối ván mê đố lụa với lối hoa văn giản lược.

Tại chùa có 72 pho tượng được tạc bằng gỗ mít sơn son thếp vàng. Hệ thống tượng ở chùa Tây Phương gồm bộ tượng Tam Thế Phật, bộ tượng Di-đà Tam Tôn, tượng Tuyết Sơn, Đức Phật Di lặc, tượng Văn Thù Bồ Tát, tượng Phổ Hiền Bồ Tát, tượng Bát Bộ Kim Cương và 16 pho tượng Tổ. Theo tài liệu để lại, phần lớn các tượng này đều có niên đại cuối thế kỷ XVIII. Một số khác được tạc vào giữa thế kỷ XIX.

Chùa Tây Phương

Ấn tượng không ai có thể quên là bức tượng tạc một người có tuổi, thân mình gầy gò, má hóp mắt sâu rất khác thường ngồi trong tư thế một chân xếp bằng một chân co, một tay đặt trên đầu, còn tay kia đặt vào lòng. Đó là tượng Đức Thế Tôn Tuyết Sơn. Tượng đạt đến cao độ của nghệ thuật siêu đẳng, thể hiện rõ một thân thể đau khổ sau sáu năm liền tu luyện trên núi Tuyết Sơn.

Nhưng du khách hành hương vãn cảnh chùa vẫn thích diện kiến 18 pho tượng các vị La Hán. Mười sáu vị, kẻ đứng người ngồi; vị ngước mặt lên trời hướng vào mây khói, người tì cằm nghếch môi cười, vị vẻ mặt trầm tư, đăm chiêu khắc khổ…

Những câu thơ sống động miêu tả “Các vị La Hán chùa Tây Phương” của nhà thơ Huy Cận được học từ hồi phổ thông giờ lại để mọi người chiêm nghiệm:

… Đây vị xương trần chân với tay
Cớ chi thiêu đốt tấm thân gầy
Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
Tự bấy ngồi y cho đến nay…

Năm 2014, chính phủ Việt Nam đã công nhận ngôi chùa này là Di tích Quốc gia đặc biệt về giá trị kiến trúc nghệ thuật.

Theo Thế Giới Di SảnChùa Nổi Tiếng

Việt Nam mời chuyên gia nước ngoài giúp bảo tồn di sản kiến trúc (Dinh Thượng Thơ)

275 views

Một trong những công trình kiến trúc từ thời Pháp ở Sài Gòn suýt nữa đã bị khai tử là Dinh Thượng Thơ, hiện là trụ sở của Sở Thông tin – Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh. Thay vì phá bỏ tòa nhà này, chính quyền thành phố Sài Gòn cuối cùng đã quyết định bảo tồn và đang kêu gọi sự đóng góp của các chuyên gia nước ngoài.

Dinh Thượng Thơ, nằm tại số 59-61 đường Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, quận 1, là công trình có lịch sử lâu đời của Sài Gòn, nhưng tòa nhà này lại chưa được đưa vào danh mục kiểm kê di tích lịch sử văn hóa.

Công trình do người Pháp xây dựng từ những năm đầu của thời kỳ thuộc địa, hoàn thành vào năm 1864, với chức năng là Nha Giám đốc Nội vụ để điều hành trực tiếp toàn bộ các vấn đề dân sự, tư pháp và tài chính của thuộc địa. Người dân thời đó gọi tòa nhà này là Dinh Thượng Thơ.

Năm 2018, hàng ngàn người đã ký tên vào kiến nghị yêu cầu chính quyền thành phố không phá bỏ tòa nhà Dinh Thượng Thơ khi nâng cấp trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh. Cuối cùng, chính quyền thành phố đã quyết định không phá bỏ Dinh Thượng Thơ và vào tháng 9/2019, Sở Quy hoạch – Kiến trúc đã đề nghị mời chuyên gia nước ngoài hỗ trợ giải pháp kỹ thuật trong việc bảo tồn công trình kiến trúc này.

Theo báo chí trong nước ngày 11/12/2019, chính quyền địa phương vừa quyết định tòa nhà Dinh Thượng Thơ sẽ được tu sửa thành nhà truyền thống Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh.

Trả lời RFI Việt ngữ tại Thư viện Francois Mitterand, Paris, nhân dịp ghé qua Pháp giữa tháng 9/2019, ông Phúc Tiến, nhà nghiên cứu về lịch sử Sài Gòn, tác giả hai cuốn sách “Saigon – Hai đầu thế kỷ” (xuất bản năm 2017) và “Sài Gòn không phải ngày hôm qua” (xuất bản năm 2016), nêu suy nghĩ của ông về đề xuất nói trên của Sở Quy hoạch – kiến trúc :

Đây là một đề xuất rất tốt. Cho đến nay, việc trùng tu di sản, các đền chùa, các công trình theo kiến trúc cổ truyền của Việt Nam thông thường là do các chuyên gia Việt Nam làm. Còn các công trình mang dấu ấn của phương Tây, đặc biệt là của Pháp, thì chúng ta phải có sự trợ giúp của các chuyên gia nước ngoài.
Nếu tôi nhớ không lầm thì cách đây 20 năm, khi diễn ra thượng đỉnh khối Pháp ngữ ở Hà Nội, nước Pháp, lúc đó dưới thời tổng thống Jacques Chirac, đã tài trợ cho việc trùng tu Nhà hát lớn, một “báu vật” của Hà Nội cũng như của Việt Nam, một tòa nhà rất đẹp. Kiến trúc sư thực hiện việc trùng tu này là Hồ Thiệu Trị, một Việt kiều ở Pháp.
Mỹ Sơn, nơi đã được xếp là di sản của thế giới, với kiến trúc Champa, thì cũng đã có các chuyên gia Ba Lan đóng góp ngay từ đầu. Cũng như là Huế và Hội An, ngoài các chuyên gia Việt Nam, đều có các chuyên gia của UNESCO và của các nước khác giúp sức. Kinh nghiệm của nước ngoài trong việc trùng tu các tòa nhà phương Tây là rất cần thiết.

Trùng Tu Dinh Thượng Thơ
Dinh Thượng Thơ

Như vậy thì trong việc bảo tồn những công trình như Dinh Thượng Thư, các chuyên gia nước ngoài, đặc biệt là Pháp, có thể giúp được gì cho chính quyền của thành phố Sài Gòn? Về điểm này, nhà nghiên cứu Phúc Tiến nêu ý kiến :

«Điều đầu tiên, nhiều tòa nhà ở thành phố này là do Pháp thiết kế và xây dựng trước đây, hồ sơ xây dựng chắc là còn được lưu trữ ở Pháp. Kế đến, những tòa nhà này có kiểu kiến trúc đồng dạng với những tòa nhà ở chính quốc hoặc ở các thuộc địa Pháp, đặc biệt là các xứ nhiệt đới. Để trùng tu một tòa nhà trở lại bản gốc của nó, cũng như hiểu được công năng của nó, thì nên tìm đến những tác giả đầu tiên của nó.
Về việc trùng tu thì ở Việt Nam cũng đang có sự tranh luận. Cũng có nhiều lo âu là trùng tu, làm mới thế nào mà bây giờ nó không còn đẹp như ngày xưa, thậm chí sơn son, thếp vàng, làm cho nó ngược lại với nguyên bản hoặc làm cho nó kệch cỡm…. Cho nên cần có những kinh nghiệm.
Ngoài ra, trùng tu ở đây không có nghĩa chỉ là sơn phết hay khôi phục dáng vẻ cũ của nó, mà còn phải nghĩ đến việc trang trí nội thất, sử dụng lại chức năng của tòa nhà, bổ sung những chức năng mới. Chứ nếu chỉ trùng tu để lại làm trụ sở hành chính thì rất là uổng. Mời chuyên gia đến là để có thêm ý kiến làm cho phong phú hơn và tôi nghĩ là nước Pháp có nhiều kinh nghiệm.
Ở Paris tuần này, tôi đã có dự Ngày di sản châu Âu, đến Tòa Thị Chính của Paris. Tôi thấy Tòa Thị Chính không mang ý nghĩa chỉ là dinh thự hành chính, mà là một dinh thự văn hóa, từ phòng tiếp tân, từng cái sảnh, từng pho tượng của tòa nhà này.
Nếu phía Pháp có thể chuyển giao các tài liệu, kinh nghiệm, cũng như công nghệ để trùng tu thì rất là tốt. Nếu Việt Nam tổ chức đầu thầu, mời gọi thì sẽ nhiều chuyên gia châu Âu khác đến, chứ không chỉ có Pháp.”

Là một trong những quốc gia có rất nhiều kinh nghiệm trong việc bảo tồn di sản kiến trúc, nước Ý cũng rất quan tâm đến mối tương quan giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế tại thành phố Sài Gòn. Đây cũng là chủ đề của cuộc hội thảo do tổng lãnh sự Ý tổ chức trong hai ngày 10 và 11/09 tại Sài Gòn. Cụ thể, hội thảo tập trung vào vấn đề kỹ thuật kiến trúc và kinh doanh bảo tồn di sản, nhằm trao đổi kinh nghiệm của các chuyên gia quốc tế và trong nước.
Là một trong những người trình bày tham luận tại hội thảo, nhà nghiên cứu Phúc Tiến trình bày những vấn đề cụ thể được nêu lên tại hội nghị này :

«Đây là lần đầu tiên có một cuộc hội thảo do một cơ quan ngoại giao của một nước châu Âu đứng ra tổ chức. Ban tổ chức người Ý bao gồm tổng lãnh sự Ý và công ty SCE, một tập đoàn lớn về thiết kế, quy hoạch ở Milan, và nhiều công ty Ý khác.
Bản thân công ty SCE có một sáng kiến rất là hay : Trước cuộc hội thảo đó, họ đã cùng với tòa tổng lãnh sự Ý tổ chức cho sinh viên của hai trường Đại học Kiến trúc và Đại học Văn Lang, ngành kiến trúc, chia ra làm nhiều đội tham gia cuộc thi « Thiết kế khu phố di sản trong thành phố thông minh ».
Chúng tôi rất là mừng khi thấy các em sinh viên đã rất phấn khởi, và đã đưa ra những đề xuất rất là hay. Ví dụ như đề án tạo một dải lụa là một cây cầu cho người đi bộ, bắc từ bên phía bờ Thủ Thiêm sang đến đối diện công trường Mê Linh, chỗ tượng Trần Hưng Đạo, sau đó đi theo con đường Mạc Thị Bưởi đến đường Nguyễn Huệ, tạo ra một con đường như là dải lụa đào trên không.
Các bạn còn đề xuất là biến đường Nguyễn Huệ, hiện giờ là phố đi bộ vào cuối tuần, khôi phục lại dòng kênh ở đây. Thời xưa, trước khi Pháp vào, đại lộ Nguyễn Huệ là Kênh Chợ Vải. Các bạn đề nghị khơi lại dòng kênh đó, để trở lại con kênh lịch sử, tạo ra một cảnh quan ngoạn mục, một con kênh uốn lượn ngay giữa lòng thành phố. Như thế nó sẽ làm gia tăng giá trị của những công trình dọc theo con đường đó.
»

Theo lời ông Phúc Tiến, hiện là giám đốc công ty Hợp Điểm, các ý kiến tại hội thảo còn nêu bật một điều : di sản không phải là một thứ để trang trí, mà có thể sinh lợi, hay nói cách khác phải làm phát triển cái gọi là kinh tế di sản, một khái niệm còn rất mới ở Việt Nam :

«Việc trùng tu di sản thì không nên chỉ được nhìn ở góc độ kỹ thuật, thiết kế, công nghệ, nhưng điều rất quan trọng là hãy nhìn nó ở góc độ kinh tế di sản. Đó là ngành kinh tế liên kết rất nhiều ngành. Nếu người ta nhìn di sản như là một nguồn tài nguyên, không những làm giàu về văn hóa, mà còn làm giàu về kinh tế, thì cách đối xử với di sản sẽ thay đổi rất là lớn.
Ví dụ, họ có đề cập đến trường hợp Roma, Milan, Florence, nơi mà những công trình kiến trúc tiêu biểu của nước Ý từ mười mấy thế kỷ vẫn được giữ gìn tốt, đem lại không những nguồn lợi về du lịch, mà còn là nguồn lợi kích thích các ngành như là xây dựng, kiến trúc, thiết kế, nội thất, kể cả đào tạo. Không chỉ có nhà nước, mà những tổ chức NGO (phi chính phủ), cũng như các doanh nghiệp đều có trách nhiệm làm việc đó.
Thứ hai, khi mọi người đã nhất trí đây là công trình có giá trị di sản rồi, thì cần có những cuộc thi, đấu thầu những dự án, biến nó thành những dự án kinh doanh, nhưng tôi muốn nhấn mạnh là (đấu thầu) phải minh bạch.
Trong cách làm của người Ý, nếu muốn có được nguồn vốn để trùng tu các di sản, thì phải có một cuộc vận động. Thí dụ công ty SCE đang lập một dự án trùng tu Dinh Gia Long, hiện giờ là Viện Bảo tàng Thành phố, không chỉ trùng tu dinh này, mà còn mở rộng toàn bộ khu này thành một khu phố di sản.
Chúng ta có Tòa án, một tòa nhà rất đẹp, được trùng tu gần xong rồi. Dọc con đường Lý Tự Trọng có thư viện, đi lên nữa là Dinh Thượng Thơ. Đường Lý Tự Trọng thì chạy song song với đường Lê Thánh Tôn. Khu đó có thể trở thành một khu phố đi bộ, có hai công viên : Bạch Tùng Dương và Chi Lăng, rồi lại nối kết với khu chợ Bến Thành và đường Đồng Khởi (Catinat), đường Nguyễn Huệ.
Bản thân khu đất chung quanh Dinh Gia Long nếu trở thành một khu phố đi bộ, một khu phố di sản, thì người ta sẽ khống chế, không cho xây các nhà cao tầng, phá tan cảnh quan vốn dĩ rất đẹp của nó. Nếu có sự đồng thuận, dự án này sẽ đem lại một nguồn lợi rất lớn, không chỉ về văn hóa, về kinh tế, mà còn thúc đẩy những ý tưởng sáng tạo.
Ví dụ các bạn tham gia cuộc thi có đề nghị công viên Bạch Tùng Diệp sẽ là không gian co-working về sáng tạo, nơi mà các bạn trẻ khởi nghiệp có thể đến đó cùng làm việc với những trang thiết bị hiện đại, rồi từ đó ra những ý tưởng mới. Cũng như viện bảo tàng không chỉ là một viện bảo tàng, mà ở đó cũng sẽ có gallery, quán cà phê, tiệm sách, không gian để nói chuyện. Người ta có thể đi bộ từ thư viện, qua tòa án, rồi đến Dinh Thượng Thơ để thưởng ngoạn một lịch sử.
Chính người Pháp ngay từ những năm 1860 đã thiết kế khu đó là khu hành chánh. Bây giờ nếu khu hành chánh đó trở thành khu di sản thì rất là hay. Con đường Lý Tự Trọng vào thời Pháp có tên là De La Grandière, tên một đề đốc người Pháp, nhưng trước đó nó có tên là đường Chính Phủ. Như vậy, con đường đó không phải là con đường thương mại, bây giờ nếu được chuyển thành con đường di sản, kết hợp lịch sử văn hóa, hành chánh, thương mại và sáng tạo, thì rất là tuyệt vời.
Tất nhiên, những ý tưởng cụ thể này rất cần sự tham gia của nhiều người. Tôi cho rằng, nếu có một cuộc đấu thầu, những công ty thắng thầu phải là những công ty có kinh nghiệm và có nhiều ý tưởng sáng tạo nhất, đồng thời phải biết huy động được nguồn vốn. Những công ty địa ốc sẽ sẵn sàng nhảy vào trong cuộc chơi này, bởi vì họ biết là sẽ có những cơ hội kinh doanh. Nhưng không thể chỉ nhìn đến kinh doanh đơn thuần, mà phải tính đến lợi ích chung của xã hội.
»

Tác giã : Thanh Phương (RFI)