Danh Lam Thắng Cảnh

Chùa Tây Phương – Chùa Cổ Thứ Hai Của Việt Nam

497 views

Chùa Tây Phương (hay còn gọi là Sùng Phúc Tự) là ngôi chùa mang giá trị nghệ thuật điêu khắc độc đáo với nhiều pho tượng Phật có giá trị, và là minh chứng của một nền văn hóa lâu đời.

Chùa Tây Phương nằm trên địa phận xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 40 km về phía Tây, theo Đại lộ Thăng Long, qua ngã tư Chùa Thầy, rẽ phải khoảng 5 km, sau đó rẽ trái 1 km nữa, là đến di tích.

Chùa Tây Phương

Chùa Tây Phương ở Hà Nội được xây dựng khoảng thể kỷ 8 và là chùa cổ thứ hai sau chùa Dâu ở Bắc Ninh. Truyền thuyết kể lại rằng, sự ra đời của ngôi chùa gắn liền với quá trình truyền bá Phật giáo vào Việt Nam. Muộn hơn vài thế kỷ, câu chuyện lại nghiêng sang một hướng khác, gắn với nhân vật Cao Biền – Tiết độ sứ thời nhà Đường (864 – 868) đã từng cai trị An Nam và đến đây xây dựng một kiến trúc tôn giáo, với ý đồ chặn long mạch xứ này.

Truyền thuyết vẫn là truyền thuyết, còn chứng tích vật chất liên quan tới ngôi chùa, đó là thời Mạc Phúc Nguyên (1547 – 1561). Đây chính là thời điểm để ngôi chùa có quy mô như hiện nay. Sau đó, Vua Lê Thần Tông, Chúa Tây Vương Trịnh Tạc, Vua Lê Hy Tông có tu sửa thêm, nhưng không nhiều.

Chùa Tây Phương nổi tiếng không chỉ ở sự cổ kính qua truyền thuyết và lịch sử, nó còn nổi tiếng ở cảnh quan mê hồn, bởi tọa lạc trên đỉnh núi Câu Lâu, đột khởi giữa vùng đồng bằng màu mỡ, với núi, non, sông, nước gắn liền với quan niệm phong thủy phương Đông. Tây Phương còn nổi tiếng ở bộ tượng thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng, có thể coi là Phật điện đông đúc nhất trong các ngôi chùa ở Việt Nam có giá trị tiêu biểu, xuất sắc về tượng gỗ, được công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2013.

Chùa Tây Phương hiện nay là một quần thể các đơn nguyên, bao gồm các hạng mục sau: Tam quan hạ, Tam quan thượng, Miếu Sơn Thần, Tiền đường, Trung đường, Thượng điện, Nhà tổ, Nhà Mẫu và Nhà khách.

Chùa Tây Phương

Từ Tam quan hạ phái đi lên 247 bậc đá ong mới đến Tam quan Thượng. Miếu Sơn Thần nằm ở bên trái chùa, tách biệt với khu chùa chính. Đây là đơn nguyên vừa đóng vai trò là nơi thờ thần núi, vừa là nhà thờ Đức Ông, có diện tích khiêm tốn với kiến trúc gỗ lợp ngói truyền thống. Chùa Chính là hạng mục chủ yếu của toàn bộ phúc hợp Tây Phương. Chùa nằm trên đỉnh núi Câu Lâu, có kết cấu kiến trúc chữ công (I), bao gồm các tòa Tiền đường, Trung đường và Thượng điện. Cả ba đều có kết cấu kiến trúc khung gỗ kiểu chồng diêm, hai tầng tám mái. Cả hai tầng mái đều theo kiểu “tàu đao lá mái”, giữa hai tầng là cổ diêm được bưng kín bởi những tấm ván đố. Tiền đường và Thượng điện 5 gian, 2 chái với 6 bộ vì nóc, còn Trung đường được thu ngắn chiều ngang, chỉ còn 3 gian 2 chái, 4 bộ vì kèo, nhưng lại có mái thượng điện cao vượt hẳn lên.

Phần cổ diêm ở Tiền đường và Thượng điện có kích thước giống nhau và có chiều cao 1m, còn ở Trung đường có kích thước lớn hơn, cao 1,40m. Do Cổ diêm cao hơn như thế, nên tuy mái của cả 3 tòa đều cao bằng nhau, nhưng mái trên của tòa giữa lại trội vượt hẳn lên, theo đó, nhìn tổng thể chùa, chúng ta thấy Trung đường cao hơn hẳn. Mặt trước tòa Tiền đường bưng cửa gỗ bức bàn ở 3 gian giữa, hai bên xây gạch chỉ không trát vôi vữa, là ngôn ngữ của mặt tường ngoài, tiêu biểu cho cả ba đơn nguyên.

Chùa chính Tây Phương còn rất nhiều sự đặc biệt về kết cấu khung gỗ, về tàu mái, bộ mái, cùng các mảng đề tài trang trí trên kiến trúc gỗ. Để cảm nhận được hết vẻ đẹp của ngôi chùa nói chung, kiến trúc ngôi chùa chính nói riêng, chắc chắn không một bài viết nào nói hết, mong du khách thập phương, những người hành hương đến tận nơi chiêm ngắm mới cảm nhận được hết vẻ đẹp của hạng mục này.

Ngoài Chùa Chính là đơn nguyên nổi bật, Tam quan hạ, Tam quan Thượng nêu trên, thì với Nhà Tổ, Nhà Mẫu, Nhà Khách cùng với các đơn nguyên ấy đã tạo nên vẻ uy nghi, quy mô to lớn của quần thể Tây Phương.

Chùa Tây Phương

Nhà TổNhà Mẫu làm theo kiểu 3 gian hai dĩ, kết cấu theo kiểu chữ “Nhị”(=). Phía bên ngoài thờ Tổ, phía bên trong thờ Mẫu. Các vì chính của Nhà Tổ được liên kết theo kiểu “vì kèo giá chiêng”. Ba gian giữa của Nhà Tổ được bưng cửa bức bàn, hai gian chái ở đầu hồi bưng bằng cửa ván đố. Trên bộ vì nóc và cốn, lại không theo kết cấu “vì kéo giá chiêng” mà thay bằng kết cấu “chồng rường”. Các con rường được cách điệu thành hoa, lá, đao mác. Tại bốn chiếc cốn ở đây, nghệ nhân chạm hình cây mai, tùng, cúc, trúc, được quyện trong đề tài mai điểu, trúc tước, cúc điệp, tùng lộc, có phong cách tương đồng với nghệ thuật Chùa Chính.

Nhà khách là hạng mục nằm ở sườn phải của Chùa Chính. Hạng mục này mới được phục dựng lại trong những năm gần đây, nhưng vẫn tuân thủ kiến trúc truyền thống và đồng điệu với phong cách kiến trúc của toàn bộ các đơn nguyên Tây Phương. Nhà khách gồm 7 gian, kết cấu theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ri, hai hồi dải thoải dần theo hình tay ngai. Các bộ vì kèo theo kiểu kèo kẻ, bào trơn đóng bén. Các vì bên trong được làm theo kiểu “giá chiêng kẻ ngồi”. Hai bộ vì kèo làm theo lối ván mê đố lụa với lối hoa văn giản lược.

Tại chùa có 72 pho tượng được tạc bằng gỗ mít sơn son thếp vàng. Hệ thống tượng ở chùa Tây Phương gồm bộ tượng Tam Thế Phật, bộ tượng Di-đà Tam Tôn, tượng Tuyết Sơn, Đức Phật Di lặc, tượng Văn Thù Bồ Tát, tượng Phổ Hiền Bồ Tát, tượng Bát Bộ Kim Cương và 16 pho tượng Tổ. Theo tài liệu để lại, phần lớn các tượng này đều có niên đại cuối thế kỷ XVIII. Một số khác được tạc vào giữa thế kỷ XIX.

Chùa Tây Phương

Ấn tượng không ai có thể quên là bức tượng tạc một người có tuổi, thân mình gầy gò, má hóp mắt sâu rất khác thường ngồi trong tư thế một chân xếp bằng một chân co, một tay đặt trên đầu, còn tay kia đặt vào lòng. Đó là tượng Đức Thế Tôn Tuyết Sơn. Tượng đạt đến cao độ của nghệ thuật siêu đẳng, thể hiện rõ một thân thể đau khổ sau sáu năm liền tu luyện trên núi Tuyết Sơn.

Nhưng du khách hành hương vãn cảnh chùa vẫn thích diện kiến 18 pho tượng các vị La Hán. Mười sáu vị, kẻ đứng người ngồi; vị ngước mặt lên trời hướng vào mây khói, người tì cằm nghếch môi cười, vị vẻ mặt trầm tư, đăm chiêu khắc khổ…

Những câu thơ sống động miêu tả “Các vị La Hán chùa Tây Phương” của nhà thơ Huy Cận được học từ hồi phổ thông giờ lại để mọi người chiêm nghiệm:

… Đây vị xương trần chân với tay
Cớ chi thiêu đốt tấm thân gầy
Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
Tự bấy ngồi y cho đến nay…

Năm 2014, chính phủ Việt Nam đã công nhận ngôi chùa này là Di tích Quốc gia đặc biệt về giá trị kiến trúc nghệ thuật.

Theo Thế Giới Di SảnChùa Nổi Tiếng

Nhớ lại Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi giờ đã thành dĩ vãng

2339 views

Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi xưa còn có tên là nghĩa trang của người Châu Âu (Cimetière Européen) hay nghĩa trang Massiges hoặc Đất thánh Tây theo cách gọi của người Sài Gòn. Nghĩa trang này được xây dựng vào năm 1859 ở bên mặt đông đường National nay là Hai Bà Trưng với tổng diện tích là 7,5 ha. Lúc đầu là nơi chôn cất các binh lình bộ binh, thủy thủ và sĩ quan Pháp trong cuộc chiếm đóng Sài Gòn. Ngay từ đầu lúc thành lập nó được hải quân Pháp quản lý.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Những người chiếm đóng đầu tiên được chôn ở đây gồm có đại úy thủy quân lục chiến Nicolas Barbe (chém đầu tại chùa Khải Tường vào 07 tháng 12 năm 1860), Trung tá Jean-Ernest Marchaisse (bị giết tại Tây-Ninh vào ngày 14 Tháng Sáu năm 1866) và đại úy Savin de Larclauze (cũng thiệt mạng tại Tây Ninh trên 07 tháng 6 năm 1868); nhà thám hiểm sông Cửu Long Captain L Doudart de Lagrée (qua đời ngày 12 tháng ba năm 1868 trong khi dẫn đầu một cuộc khảo sát địa lý và thăm dò của sông Mekong sang Lào và Trung Quốc) và Trung úy Francis Garnier (chết ngày 21 Tháng 12 năm 1873 tại Hà Nội). Lúc đó (năm 1895) nghĩa trang chứa 239 ngôi mộ quân sự.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Năm 1870 nghĩa trang được đổi tên là vườn của cha Ormoy tức là bác sĩ trưởng Lachuzeaux d’Ormoy (1863-1874) dùng ý tưởng đưa các bệnh nhân khó bảo nhất đến đây để chăm sóc các luông cỏ và vườn hoa, cuối thập niên 1860, dân thường bắt đầu được chân cất ở đây vì trong những năm đầu của thuộc địa bởi tỷ lệ tử vong cao do các bệnh nghiêm trọng đặc hữu như dịch tả, sốt rét, ký sinh trùng đường ruột và kiết lỵ. Một báo cáo năm 1889 ghi nhận rằng “Sự tồn tại trong thuộc địa của chúng ta về dịch bệnh khủng khiếp mà tất cả đã gây tổn thất cho sinh mạng chúng tôi hơn trên các chuyến đi biển”, điều thú vị, nghĩa trang của người Châu Âu có chứa một số lượng tương đối lớn các ngôi mộ với các tên người Đức, phản ánh ưu thế kinh doanh của thương gia Đức ở Sài Gòn, đặc biệt là trước năm 1870. Trong một góc của nghĩa trang này cũng có một nhóm các ngôi mộ thuộc về một nhóm thủy thủ người Nga bị thương, đã chạy trốn đến vịnh Cam Ranh vào năm 1894 sau thất trận trong trận Tsushima và sau đó đã chết trong bệnh viện quân sự ở Sài Gòn.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Vào khoảng năm 1870, một Nghĩa trang Việt Nam nhỏ (Cimetière Anamite hay Cimetière Indigène) được mở ngay tại phía bắc của nghĩa trang của người Châu Âu . Đường phân chia hai nghĩa trang này – là đường Hiền Vương sau này – được đặt tên ngắn gọn rue des Deux cimetières (đường hai nghĩa trang) trước khi nó trở thành rue Mayer vào cuối năm 1880, từ cuối thế kỷ 19, các tiêu chuẩn về vệ sinh được cải thiện và thuộc địa phát triển thịnh vượng, nghĩa trang của người Châu Âu đã trở thành nơi an nghỉ cuối cùng của sự lựa chọn cho các chính trị gia thuộc địa của Sài Gòn và các quản trị viên, trong số có kiến trúc sư Marie-Alfred Foulhoux (1840-1892) và thị trưởng thành phố Sài Gòn Paul Blanchy (1837-1901).
Ngày 14 Tháng 12 năm 1912, sự thay đổi quy định này của nghĩa trang của người Châu Âu thành một nơi chôn cất cho tầng lớp thượng lưu thuộc địa được nhắc trong một báo cáo quan trọng của tờ Courrier Saigonnais.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Số lượng ngày càng tăng của những ngôi mộ hoành tráng thuộc các chức sắc cao trong khi các ngôi mộ của nhiều người lính và thủy thủ bị bỏ phế cỏ mọc um tùm. Đã có những lời chỉ trích việc “không cữ kiêng” khai quật các ngôi mộ của người nghèo trong thời hạn bảy hay tám năm và di dời ở một nơi khác, có lẽ là để nhường chỗ cho những người giàu có và nổi tiếng.
Đầu thế kỷ 20, nghĩa trang được chia cắt thành những con đường nhỏ có trồng cây và kiểng do các nhân viên của thào cầm viên Sài Gòn. Nghĩa trang lúc này được bao bọc bởi bốn bức tường vôi cao 2m5 với cổng chính ở phía nam đường Legrand de la Liraye. Cổng chính này nằm đối diện trực tiếp cuối phía bắc của đường Bangkok, và sau năm 1920, khi đường Bangkok được đổi tên thành đường Massiges, nghĩa trang được biết đến với cái tên mới là nghĩa trang đường Massiges.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Năm 1880 nghĩa trang được chuyển cho văn phòng bảo tồn nghĩa trang thuộc một phần của văn phòng sở vệ sinh Sài Gòn có trụ sở số 67 đường Massiges (hiện nay là đường Mạc Đĩnh Chi)
Nhiều nhân vật nổi tiếng của thời kỳ thuộc địa sau đó đã được chôn cất ở đây, bao gồm cả sĩ quan hải quân Pháp Alain Penfentenyo de Kervéréguin (mất 12 tháng 2 năm 1946), nhà truyền giáo Grace Cadman (qua đời ngày 24 tháng 4 năm 1946) và nhà báo và chính trị gia Henri Chavigny de Lachevrotière (qua đời ngày 12 tháng 1 1951). Tuy nhiên, bởi tất cả các tài khoản, ngôi mộ ấn tượng nhất của thời gian này là lăng mộ lớn của Nguyễn Văn Thinh (qua đời ngày 10 tháng 11 năm 1946), Chủ tịch đầu tiên của thời tự trị Cộng hòa Nam Kỳ (République de Cochinchine Autonome, 01 tháng 6 1946- 8 Tháng 10 năm 1947).

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Vào tháng Ba năm 1955, đường Massiges được đổi tên thành đường Mạc Đĩnh Chi từ đó nghĩa trang này được mang tên nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, trong hai thập kỷ tiếp theo, thế hệ của các chính trị gia cao cấp, các nhà lãnh đạo quân sự và các thành viên nổi bật khác của xã hội miền Nam Việt Nam đã chôn tại đây cùng với một số lượng nhỏ của người nước ngoài nhưlàm việc cho bài Time và Newsweek như phóng viên François Sully (qua đời vào tháng Hai 1971).
Tuy nhiên, có lẽ người nổi tiếng nhất của thời kỳ này là Tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm và em trai của ông là giám đốc cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, người đã bị ám sát vào ngày 02 tháng mười một năm 1963, ngoài ra nơi đây còn có mộ của thống tướng Việt Nam Cộng Hòa Lê Văn Tỵ, mộ của chuẩn tướng Lưu Kim Cương chết trong trận Mậu Thân, mộ của hai học sinh một theo đạo Phật, một theo đạo Thiên chúa chết trong vụ xung đột giáo phái năm 1964.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Năm 1971, theo Arthur J Dommen (Tác giả cuốn Kinh nghiệm Đông Dương của Pháp và Mỹ: Chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản tại Campuchia, Lào và Việt Nam, 2001) vào thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu một phần bức tường phía tây bị sụp mà theo lời của một nhà tiên tri Cao Đài nói là ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về cái chết của ông Diệm và phải làm gì đó để giải thoát cho linh hồn ông Diệm, tuy nhiên, câu chuyện ma về nghĩa trang chỉ thực sự bắt đầu lan truyền rộng rãi sau năm 1983, khi chính quyền thành phố quyết định ngừng hoạt động nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi và chuyển đổi nó thành công viên Lê Văn Tám.

Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi

Sự giải tỏa nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi nằm trong một dự án lớn bao gồm việc giải tỏa nghĩa trang quân đội Pháp tại ngã tư Bảy Hiền và Lăng Pigneau de Béhaine gần sân bay Tân Sơn Nhất, cũng như các nghĩa trang cũ của Pháp ở Vũng Tàu. Những người có thân nhân chôn trong các nghĩa trang được hướng dẫn để sắp xếp cho việc cải táng trong vòng hai tháng. Còn lại nếu không có người nhận thì được hỏa táng và di dời nơi khác. Còn lại hài cốt của những người lính Pháp được đưa về Pháp chôn cất ở Fréjus, nơi một đài tưởng niệm được dựng nêu ra tôn vinh họ. Trong thời gian khai quật để di dời các ngôi mộ tại đây người ta đã phát hiện tấm bia mộ của tướng Barbe là tấm bia mộ của Phạm Đăng Hưng được khắc phía sau.
Công viên Lê Văn Tám thay thế cho Nghĩa trang Mạc Đình đã trở thành một nơi phổ biến cho hoạt động giải trí, vẫn còn nhiều người dân địa phương mê tín dị đoan người không muốn đến đó vì lịch sử trước đó.

@ Photos : Frederick P Fellers (Indianapolis, USA)

Lịch sữ hình thành của Nhà Thờ Đức Bà

736 views

Vị trí

Ban đầu, địa điểm xây cất được đề nghị ở 3 nơi:
– Trên nền Trường Thi cũ (nay là góc đường Lê Duẩn và Hai Bà Trưng, tức vị trí tòa Lãnh sự Pháp).
– Ở khu Kinh Lớn (tại vị trí nhà thờ cũ, nay thuộc đường Nguyễn Huệ).
– Vị trí hiện nay: số 1, Công Xã Paris, P. Bến Nghé, Q1

Nhà thờ Đức Bà

Lịch sử hình thành

Tháng 8 năm 1876, Thống đốc Nam kỳ Duperré đã tổ chức một kỳ thi vẽ đồ án thiết kế nhà thờ mới. Ngoài mục tiêu có chỗ thờ phụng, hành lễ cho tín đồ, việc xây dựng nhà thờ lớn cũng nằm trong mục đích phô trương đạo Công giáo và sự vĩ đại của nền văn minh nước Pháp trước người dân thuộc địa. Vượt qua 17 đồ án thiết kế khác, đồ án của kiến trúc sư J. Bourad với phong cách kiến trúc Roman cải biên pha trộn nét phong cách kiến trúc Gotich đã được chọn.
Thống đốc Nam kỳ Duperré cho đấu thầu việc xây dựng nhà thờ và cũng chính kiến trúc sư này là người trúng thầu và trực tiếp giám sát công trình.
Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên trước mặt Phó soái Nam Kỳ và đông đủ nhân vật cấp cao thời ấy. Nhà thờ được xây dựng trong 3 năm. Lễ Phục sinh, ngày 11 tháng 4 năm 1880, nghi thức cung hiến và khánh thành do cố đạo Colombert tổ chức trọng thể với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers. Hiện nay, trên bệ phía trên, bên trong cửa ra vào nhà thờ, có chiếc bảng cẩm thạch gắn trong hành lang (transept) ghi ngày khởi công, ngày khánh thành và tên vị công trình sư. Tất cả mọi chi phí xây dựng, trang trí nội thất đều do Soái phủ Nam Kỳ đài thọ, với số tiền 2.500.000 franc Pháp theo tỷ giá thời bấy giờ. Ban đầu, nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Nhà Nước vì nó do nhà nước Pháp bỏ tiền xây dựng và quản lý.
Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6 m và có 6 chuông đồng lớn nặng 28,85 tấn. Trên đỉnh tháp có đính một cây thánh giá cao 3,50 m, ngang 2 m, nặng 600 kg. Tổng thể chiều cao từ mặt đất lên đỉnh thánh giá là 60,50 m.

Nhà thờ Đức Bà

Trên vườn hoa trước nhà thờ, năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Bá Đa Lộc hoặc Giám mục Adran vì vị này làm Giám mục hiệu tòa Adran) dẫn hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long) để ca ngợi công lao của nước Pháp “bảo hộ”, “khai hóa” cho Việt Nam. Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc hình Giám mục Adran với phẩm phục giám mục, tay trái dẫn hoàng tử Cảnh. Tượng làm bằng đồng, được đúc tại Pháp, giới bình dân thời đó thường gọi là tượng “hai hình” để phân biệt với tượng “một hình”, là bức tượng của Đô đốc Hải quân Pháp Genouilly ở phía công trường Mê Linh (nay là cuối đường Hai Bà Trưng, gần bờ sông Sài Gòn). Năm 1945, tượng này bị phá bỏ, nhưng cái bệ đài bằng đá hoa cương đỏ thì vẫn còn tồn tại ở đó mà không có bất cứ một bức tượng nào đặt lên trên.

Nhà thờ Đức Bà Saigon

Năm 1958, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên (sau làm Giám mục giáo phận Phú Cường, giờ đã qua đời), cai quản Giáo xứ Sài Gòn thời ấy, đã đặt tạc một tượng Đức Mẹ Hòa Bình bằng loại đá cẩm thạch trắng Carrara của Ý. Tượng được tạc tại Pietrasanta cách Roma khoảng 500 km. Khi tượng hoàn tất thì được đưa xuống tàu Oyanox vào ngày 8 tháng 1 năm 1959 từ hải cảng Gênes chở tượng qua Việt Nam và tới Sài Gòn ngày 15 tháng 2 năm 1959. Sau đó, công ty Société d’Entreprises đã dựng tượng Đức Mẹ lên bệ đá vốn còn để trống kể từ năm 1945 trước nhà thờ. Tự tay linh mục viết câu kinh cầu nguyện “Xin Đức Mẹ cho Việt Nam được hòa bình” rồi đọc trước đông đảo quan khách có mặt hôm ấy. Ngày hôm sau, Hồng y Aganianian từ Roma qua Sài Gòn để chủ toạ lễ bế mạc Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc, đã làm phép bức tượng này vào buổi chiều ngày 17 tháng 2 năm 1959. Từ sự kiện này mà từ đó nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Đức Bà.
Ngày 5 tháng 12 năm 1959, Tòa Thánh đã cho phép làm lễ “xức dầu”, tôn phong Nhà thờ Chính tòa Sài Gòn lên hàng tiểu Vương cung thánh đường (basilique). Từ đó, tên gọi chính thức của thánh đường là Vương cung thánh đường Đức Bà Sài Gòn.
Năm 1960, Tòa Thánh thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam với ba tòa Tổng Giám mục tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Nhà thờ trở thành nhà thờ chinh tòa của vị Tổng giám mục Sài Gòn cho đến ngày nay.

Nhà thờ Đức Bà

Đặc điểm

– Tên chính: Vương cung thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội.
– Tôn giáo: Công giáo Rôma
– Chức năng : thuôc Giáo xứ chính tòa
– Kiến trúc Thiết kế: J. Bourad
– Khánh thành: 11 tháng 4, 1880
– Phong cách: Kiến trúc Roman và Gôtich

Trong quá trình xây dựng, toàn bộ vật liệu xây dựng từ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang. Mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Marseille để trần, không tô trát, (đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi), không bám bụi rêu. Một số ngói vỡ trong nhà thờ có in hàng chữ Guichard Carvin, Marseille St André France (có lẽ là nơi sản xuất loại ngói này), mảnh ngói khác lại có hàng chữ Wang-Tai Saigon. Có thể đây là mảnh ngói được sản xuất sau tại Sài Gòn dùng để thay thế những mảnh ngói vỡ trong thời gian Thế chiến thứ hai do những cuộc không kích của quân Đồng Minh. Toàn bộ thánh đường có 56 ô cửa kính màu do hãng Lorin của tỉnh Chartres (Pháp) sản xuất.
Móng của thánh đường được thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Và một điều rất đặc biệt là nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Sài Gòn – Gia Định lúc ấy và bây giờ.
Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người.
Nội thất thánh đường có hai hàng cột chính hình chữ nhật, mỗi bên sáu chiếc tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Ngay sau hàng cột chính là một hành lang và kế đó là nhiều nhà nguyện nhỏ với những bàn thờ nhỏ (hơn 20 bàn thờ) cùng các bệ thờ và tượng thánh nhỏ làm bằng đá trắng khá tinh xảo. Bàn thờ nơi Cung Thánh làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối có hình sáu vị thiên thần khắc thẳng vào khối đá đỡ lấy mặt bàn thờ, bệ chia làm ba ô, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc diễn tả thánh tích. Trên tường được trang trí nổi bật 56 cửa kính mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh Kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Tất cả các đường nét, gờ chỉ, hoa văn đều tuân thủ theo thức Roman và Gôtich, tôn nghiêm và trang nhã. Tuy nhiên, trong số 56 cửa kính này hiện chỉ còn bốn cửa là nguyên vẹn như xưa, còn các cửa kính màu khác đều đã được làm lại vào khoảng những năm 1949 để thay thế các cửa kính màu nguyên thủy của nhà thờ đã bị bể gần hết trong thế chiến thứ 2. Trên trán tường của cửa chính nhà thờ có hàng chữ Latinh:
DEO OPTIMO MAXIMO BEATIEQUE MARIA VIRGIN IMMACULATOE
Nghĩa là: Thiên Chúa tối cao đã ban cho Đức Trinh Nữ Maria được ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Nhà thờ Đức Bà

Còn trên trán tường của cửa vào bên phải có những hàng chữ bằng tiếng Hoa, thật ra đó là hai câu đối: “Nhà thờ Thiên Chúa đầy ân đức – Thánh mẫu vô nhiễm nguyên tội“. và hàng chữ nói tới năm khánh thành nhà thờ 1880. Nội thất thánh đường ban đêm được chiếu sáng bằng điện (không dùng đèn cầy) ngay từ khi khánh thành. Vào ban ngày, với thiết kế phối sáng tuyệt hảo, hài hòa với nội thất tạo nên trong nội thất thánh đường một ánh sáng êm dịu, tạo ra một cảm giác an lành và thánh thiện. Ngay phía trên cao phía cửa chính là “gác đàn” với cây đàn organ ống, một trong hai cây đàn cổ nhất Việt Nam hiện nay. Đàn này được các chuyên gia nước ngoài làm bằng tay, thiết kế riêng, để khi đàn âm thanh đủ cho cả nhà thờ nghe, không nhỏ mà cũng không ồn. Hiện nay, cây đàn này đã hoàn toàn hỏng do bị mối ăn phần gỗ bàn phím điều khiển bằng tay.
Lúc đầu nhà thờ không có tháp chuông. Đến năm 1895 thì được xây thêm 2 tháp chuông lớn. Có tất cả 6 chuông lớn (sol, la, si, đô, rê, mi), gồm sáu âm, nặng tổng cộng 28,85 tấn, đặt dưới hai lầu chuông. Bộ chuông này được chế tạo tại Pháp và mang qua Sài Gòn năm 1879. Trên mặt mỗi quả chuông đều có các họa tiết rất tinh xảo.
Ba quả chuông to nhất là chuông si , chuông la và đặc biệt là chuông sol là một trong những quả chuông lớn nhất thế giới. Chuông này chỉ ngân lên mỗi năm một lần vào đêm Giao thừa Âm lịch.
Các chuông đều được điều khiển bằng điện từ bên dưới. Riêng ba chiếc chuông lớn trước khi đánh đều được khởi động bằng cách đạp (vì quá nặng) cho lắc trước khi bật công tắc điện. Vào ngày thường, thánh đường chỉ cho đổ một chuông mi vào lúc 5 giờ sáng và đổ chuông re vào lúc 16g15. Vào ngày lễ và chủ nhật, nhà thờ thường cho đổ ba chuông theo hợp âm Mi, Re và Do ( đúng ra là hợp âm ba chuông Mi, Do và Sol, nhưng vì chuông Sol qua nặng nên thay thế bằng chuông Do). Vào đêm Giao thừa thì mới đổ cả 6 chuông. Tiếng chuông ngân xa tới 10 km theo đường chim bay.
Bộ máy đồng hồ trước vòm mái cách mặt đất chừng 15 m, giữa hai tháp chuông được chế tạo tại Thụy Sĩ năm 1887, hiệu R.A, cao khoảng 2,5 m, dài khoảng 3 m và ngang độ hơn 1 m, nặng hơn 1 tấn, đặt nằm trên bệ gạch. Dù thô sơ, cũ kỹ nhưng hoạt động khá chính xác. Để điều chỉnh đồng hồ, phía sau máy có một chiếc đồng hồ to cỡ đồng hồ reo trong gia đình. Chỉ cần theo dõi chiếc đồng hồ con này, có thể biết đồng hồ lớn chạy chậm, nhanh, đúng hay sai giờ. Mỗi tuần phải lên giây đồng hồ một lần và chiếc cần để lên giây đồng hồ giống như tay quay máy xe. Đồng hồ còn có hệ thống bao giờ bằng búa đánh vô các chuông của nhà thờ, tuy nhiên đã không còn hoạt động do dây cót quá cũ.

Nhà thờ Đức Bà

Mặt trước thánh đường là một công viên với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá. Trung tâm của công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa bình (hay Nữ vương Hòa bình). Tượng do nhà điêu khắc G. Ciocchetti thực hiện năm 1959. Tên của tác giả được khắc ở trên tà áo dưới chân, phía bên trái của bức tượng. Bức tượng cao 4,6 m, nặng 8 tấn, bằng đá cẩm thạch trắng của Ý, được tạc với chủ đích để nhìn từ xa nên không đánh bóng, vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt vẫn còn những vết điêu khắc thô. Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu, trên trái địa cầu có đính cây thánh giá, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời như đang cầu nguyện cho Việt Nam và cho thế giới được hoà bình. Chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn (mà hiện nay, đầu con rắn đã bị bể mất cái hàm trên). Trên bệ đá, phía trước bức tượng, người ta có gắn một tấm bảng đồng với hàng chữ Latinh:
REGINA PACIS – ORA PRO NOBIS – XVII. II. MCMLIX
Nghĩa là: NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH – CẦU CHO CHÚNG TÔI – 17.02.1959
Phía dưới bệ đá, người ta đã khoét một cái hốc chỗ giáp với chân tượng Đức Mẹ, trong đó có một chiếc hộp bằng bạc, chứa những lời kinh cầu nguyện cho hoà bình của Việt Nam và thế giới. Những lời cầu nguyện đó được viết lên trên những lá mỏng bằng những chất liệu khác nhau như bằng vàng, bạc, thiếc, nhôm, giấy, da và đồng, được gởi tới từ nhiều miền của Việt Nam, kể cả từ một số vùng ngoài miền Bắc.

Ngô Viết Thụ, Nhà kiến trúc sư cha đẻ của Dinh Độc Lập ở Sài Gòn

809 views

Ngô Viết Thụ không chỉ đơn giản là một kiến trúc sư thiết kế những công trình để lại dấu ấn sâu sắc mà ông còn là một họa sĩ, nhà điêu khắc,… Những công trình kiến trúc của ông là sự tổng hòa giữa nét đẹp Á Đông và nét cổ điển của kiến trúc phương Tây.

Ngô Viết Thụ (1926- 2000) là một kiến trúc sư nổi tiếng, những công trình của ông là sự kết hợp giữa triết lý Á Đông và phong cách kiến trúc cổ điển châu Âu.
Ông am hiểu sâu sắc về phong thủy, kín đáo vận dụng khéo léo hiểu biết trong mỗi tác phẩm kiến trúc của mình, chỉ ai có kiến thức trong lĩnh vực này mới nhận ra. Đối với ông vận dụng phong thuỷ trong kiến trúc là để chiêm nghiệm xem thực hư ra sao, vì nó là lĩnh vực không dễ dàng nói bằng lời.
Ngô Viết Thụ sinh ra ở Thừa Thiên Huế, ông có một tuổi thơ nhọc nhằn, túng thiếu, ở với ông ngoại và may mắn được ông kèm cặp chữ Hán. Năm 1948, học xong Trường Cao đẳng kỹ thuật Đà Lạt, được gia đình vợ giúp sang du học ở Pháp. Năm 1950, Ngô Viết Thụ thi đậu vào Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris. 5 năm sau ông bảo vệ đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư xuất sắc D.P.L.G, được hưởng suất học bổng ba năm nghiên cứu và sáng tác tại khu biệt thự Madicis của Viện Hàn lâm Pháp tại La Mã. Tại đây, ông đã dự thi thiết kế công trình Ngôi thánh đường trên Địa Trung Hải có sức chứa 40 ngàn tín đồ. Đồ án được lọt vào vòng trong, bao gồm 10 tác phẩm xuất sắc nhất. Vòng cuối, tác phẩm của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đoạt Giải thưởng Lớn Roma về kiến trúc (Premier Grand Prix de Roma).

Ngô Viết Thụ - Rome 1955
Bản thiết kế giúp ông dành được giải thưởng lớn khi còn học bên nước ngoài

Ông là thành viên Hội Kiến trúc Sư Pháp SADG (Société des Architectes Diplômés par le Gouvernement) từ 1955 và thành viên Kiến trúc sư Đoàn Việt Nam từ năm 1958. Năm 1962, ông là người châu Á đầu tiên trở thành Viện sĩ Danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (H.F. A.I.A.) đồng lúc với một số kiến trúc sư danh tiếng cùng thời như J.H. Van den Broek, Arne Jacobsen, Steen Eiler Rasmussen, Hector Mestre, Amancio Williams, Hernan Larrain-Errazuriz, Emilio Duhart H., Jerzy Hryniewiecki và John B. Parkin. Sau năm 1975, Ông là cố vấn Ban Chấp hành Hội Kiến trúc sư Việt Nam, và cũng là cố vấn Ban Chấp hành Hội Kiến trúc sư TP HCM các nhiệm kỳ I, II, III, và IV. Ông là thành viên tổ chuyên gia tư vấn kiến trúc cho Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong thời gian đương nhiệm.

Ngô Viết Thụ - Bút Tích
Bút tích và chữ ký của KTS Ngô Viết Thụ

Năm 1960, KTS Ngô Viết Thụ về Sài Gòn làm việc theo lời mời của Tổng thống Ngô Đình Diệm ở tuổi 30. Về Việt Nam, con đường kiến trúc rộng mở đối với ông, nhiều công trình xây dựng của ông lưu dấu ấn đầy giá trị về kỹ thuật lẫn mỹ thuật.

Dinh Độc Lập – Công trình biểu tượng của Sài Gòn

Đây là công trình đầu tay của ông khi vừa tốt nghiệp ở phương Tây trở về, tuy nhiên, nhìn tổng thể, ông không cứng nhắc theo phong cách kiến trúc hiện đại phương Tây mà có sự kết hợp nhuần nhuyễn với kiến trúc Á Đông, đặc biệt là kiến trúc truyền thống Việt Nam. Kiến trúc Định dạng hình chữ T, là một trong bộ ba kết hợp thành tên của KTS- THU bao gồm Dinh Độc Lập- Chợ Đà Lạt- Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh.

Dinh Độc Lập
Dinh Độc Lập – Mặt tiền
Dinh Độc Lập - Phía thân
Dinh Độc Lập – Phía thân chữ T

Khi thiết kế Dinh Ðộc Lập, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ muốn tìm một ý nghĩa văn hóa cho công trình, nên mọi sự xếp đặt từ bên trong nội thất cho đến tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho triết lý cổ truyền, nghi lễ Phương đông và cá tính của dân tộc. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật kiến trúc hiện đại với kiến trúc truyền thống Phương Ðông. Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ CÁT ( 吉 ) có nghĩa là tốt lành, may mắn; Tâm của Dinh là vị trí phòng Trình quốc thư; Lầu thượng là Tứ phương vô sự lầu hình chữ KHẨU ( 口 ) để đề cao giáo dục và tự do ngôn luận. Hình chữ KHẨU ( 口 ) có cột cờ chính giữa sổ dọc tạo thành hình chữ TRUNG ( 中 ) như nhắc nhở muốn có dân chủ thì phải trung kiên. Nét gạch ngang được tạo bởi mái hiên lầu tứ phương, bao lơn danh dự và mái hiên lối vào tiền sảnh tạo thành hình chữ TAM ( 三 ), theo quan niệm dân chủ hữu tam viết nhân, viết minh, viết võ, ý mong muốn một đất nước hưng thịnh thì phải có những con người hội đủ 3 yếu tố Nhân, Minh, Võ. Ba nét gạch ngang này được nối liền nét sổ dọc tạo thành hình chữ VƯƠNG ( 王 ), trên có kỳ đài làm thành nét chấm tạo thành hình chữ CHỦ ( 主 ) tượng trưng cho chủ quyền đất nước. Mặt trước của dinh thự, toàn bộ bao lơn lầu 2 và lầu 3 kết hợp với mái hiên lối vào chính cùng 2 cột bọc gỗ phía dưới mái hiên tạo thành hình chữ HƯNG ( 興 ) ý cầu chúc cho nước nhà được hưng thịnh mãi.

Hinh The Dinh Độc Lập
Dinh Độc Lập - Bức rèm hoa đá đặc sắc
Dinh Độc Lập – Bên trong với bức rèm hoa đá đặc sắc

Loạt ảnh khó quên về Sài Gòn 1965 của Gary Mathews (Phần 1)

337 views

Chúng ta hảy cùng khám phá loạt hình ảnh quý hiếm và khó quên về Sài Gòn vào năm 1965 do cựu binh Mỹ Gary Mathews thực hiện để nhận thấy vẽ  đẹp của Sài Gòn thời bấy giờ:

Gary Mathews - Saigon - Chợ Bà Chiểu 0
Khu vực chợ Bà Chiểu
Gary Mathews - Saigon - Chợ Bà Chiểu 1
Chợ Bà Chiểu, ngôi chợ nổi tiếng của Sài Gòn
Gary Mathews - Saigon - Chùa Phước Viên
Chùa Phước Viên ở Ngã tư Hàng Xanh
Gary Mathews - Saigon - Dinh Độc Lập 1965
Có rất ít sự khác biệt giữa hình ảnh của Dinh Độc Lập năm 1965 và ngày nay
Gary Mathews - Saigon - Đường Hai Bà Trưng
Xe bò kéo trên đường Hai Bà Trưng
Gary Mathews - Saigon - Lăng Ông Bà Chiểu
Lăng Ông Bà Chiểu khi đó chưa có rào cao bao quanh như bây giờ
Gary Mathews - Saigon - Ngã 3 Nguyễn Văn Thinh
Khung cảnh ở khu vực ngã 3 Nguyễn Văn Thinh – Phan Văn Đạt
Gary Mathews - Saigon - Ngã ba Nguyễn Văn Thinh - Phan Văn Đạt
Ngã ba Nguyễn Văn Thinh – Phan Văn Đạt
Gary Mathews - Saigon - Nữ sinh trường nữ học Lê Văn Duyệt
Nữ sinh trường nữ học Lê Văn Duyệt đi qua di tích thành Gia Định ở góc đường Lê Văn Duyệt – Chi Lăng
Gary Mathews - Saigon - Quảng trường Lam Sơn
Quảng trường Lam Sơn và nhà hát lớn, vào thời điểm năm 1965 được gọi là Nhà văn hóa
Gary Mathews - Saigon - Sở Công ty Điện lực
Đường Hai Bà Trưng phía trước trụ sở Công ty Điện lực
Gary Mathews - Saigon - Tòa Đô chính
Tòa Đô chính (UBND Thành phố HCM ngày nay) với tấm bảng yêu cầu “bỏ giấy vụn vào giỏ này” ở bãi cỏ phía trước
Gary Mathews - Saigon - Trụ sở Bộ tư lệnh Hải quân
Trụ sở Bộ tư lệnh Hải quân của chính quyền Sài Gòn

Nhịp sống trên đường Catinat thời Pháp thuộc

546 views

Sinh hoạt của đường Catinat vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX được tác giả Nguyễn Liên Phong miêu tả sinh động trong Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca xuất bản tại Sài Gòn năm 1906:

Nhứt là đường Ca-ti-na,
Hai bên lầu các, phố nhà phân minh
Bực thềm lót đá sạch tinh
Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều
Máy may mấy chỗ quá nhiều,
Các tiệm tủ ghế dập dều (sic) phô trương
Đồ sành, đồ cẩn, đồ đương
Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi
… Nhà in, nhà thuộc, nhà chà,
Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son (xoong) ~
… Phong lưu cách điệu ai bằng
Đường đi trơn láng, đền giăng sáng lòa
Thứ năm, thứ bảy, thứ ba
Với đêm chúa nhựt hát nhà hát Tây…

Vào thời kỳ này, đường Catinat là bộ mặt sinh hoạt của cả Sài Gòn, thành phố thuộc địa đầu tiên ở vùng Viễn Đông với sự hiện diện của khoảng 3.000 người Pháp, hơn 3/4 trong số này là sĩ quan và viên chức. Lính Pháp ở trong các bungalow (loại nhà gỗ có hiên rộng) nằm khuất trong những vườn cây xanh. Để tiết kiệm chi phí và tìm sự đông vui hai, ba anh chung nhau tiền mướn một chỗ ở, có sự giúp việc của một anh bồi (boy) bản xứ, đi chợ, giặt giũ, nấu ăn… Sinh hoạt dân sự trên đường Catinat cũng được những người Pháp đương thời miêu tả đúng như Nguyễn Liên Phong. Hai bên đường, các thợ may, thợ đóng giầy người Hoa hoạt động khá đông, sau đó đến các cửa hiệu tạp hóa, nơi du khách có thể tìm thấy thức ăn khô, mũ nón hay yên cương… Từ ngày 24-2-1897, đoạn đường Catinat từ phía sau nhà thờ Đức Bà đến tháp nước (nay là Hồ Con Rùa) mang một tên mới là đường Blancsubé. Về sau nữa, khi thành phố được mở rộng hơn, con đường được tiếp tục nối dài đến đường Mayer (sau là Hiền Vương, nay là Võ Thị Sáu) và khúc cuối này có tên là đường Garcerie.

Đường Catinat

Tiêu biểu cho sinh hoạt trên đường Catinat vào thời kỳ đầu Pháp thuộc là nhiều cơ sở dịch vụ thương mại được thành lập từ rất sớm. Sớm nhất có thể không đâu hơn Hãng Denis Frère mọc lên ở đầu đường, phía bờ sông, nay là khu vực của Grand Hotel, đối diện với Nhà hàng Majestic phía bên kia đường. Sau Denis Frère là hiệu thuốc Tây đầu tiên của cả Sài Gòn nằm ở góc Catinat và Bonard (Lê Lợi), khai trương năm 1865, chủ nhân là Lourdeau, sau làm Xã trưởng Sài Gòn (1870). Ít lâu sau, hiệu thuốc được giao lại cho Holbé, tiến sĩ dược khoa, một nhân vật khá nổi tiếng của đất Sài Gòn xưa, từng làm Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Sài Gòn, Phó Chủ tịch Hội đồng quản hạt Nam kỳ (Conseil colonial de la Cochinchine). Holbé từng điều chế ra một loai biệt dược có tên “Gouttes Holbé” dành cho những tay nghiện á phiện cai nghiện. Về sau, nhà thuốc Tây về tay Renoux, rồi Solirène và mang tên vị chủ nhân này trong một thời gian dài, trước khi bị thay thế bởi nhà hàng Givral còn hoạt động đến ngày nay.

Những bức ảnh đen trắng quý giá về Đà Lạt thời Pháp thuộc (Phần 1)

433 views

Đà Lạt nổi tiếng với vẻ đẹp thơ mộng và quyến rũ e ấp giữa bạt ngàn rừng thông xanh mướt.
Hãy cùng chúng tôi khám phá những bức ảnh đen trắng quý giá do những nhiếp ảnh gia Pháp và một số nhiếp ảnh khác ghi nhận lại và lưu giữ đến ngày hôm nay.

Đà Lạt - Villa 1925-1930
Đà Lạt – Villa 1925-1930

Đà Lạt - Thác Pongour
Đà Lạt – Thác Pongour (1925-1930)

Đà Lạt - Thác Liên Khương
Đà Lạt – Thác Liên Khương (1930)

Đà Lạt - Thác Gougah
Đà Lạt – Thác Gougah (1925-1930)

Đà Lạt - Thác Cam Ly
Đà Lạt – Thác Cam Ly (1925-1930)

Đà Lạt - Phụ nữ bản địa 1925
Đà Lạt – Phụ nữ bản địa 1925

Đà Lạt - Lang Bian Plateau 1925
Đà Lạt – Người bản xứ và xe hơi chụp ở Lang Bian năm 1925

Đà Lạt - Hotel Palace 1930
Đà Lạt – Hotel Palace 1930

Đà Lạt - Hồ Xuân Hương
Đà Lạt – Hồ Xuân Hương (1925-1930)

Đà Lạt - Environ 1925-1930
Đà Lạt (1925-1930)

Đà Lạt - 1925-1930
Đà Lạt – 1925-1930

Nhớ về Thương xá TAX !

532 views

Thương xá Tax có một lịch sử lâu đời và được bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ 19, là một phần của Sài Gòn xưa hoa lệ. Tòa nhà cùng với những công trình kiến trúc thời Pháp thuộc khác như Chợ Bến Thành, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Thành phố, Nhà hát lớn thành phố, Dinh toàn quyền (nay là Hội trường Thống Nhất), Dinh Xã Tây (này là Ủy ban nhân dân thành phố) góp phần tạo nên một “Hòn ngọc Viễn Đông”, một “Ville de Sai Gon” tao nhã và sôi động bậc nhất Châu Á thời bấy giờ.
Thương xá Tax ngày ấy được mang tên Les Grands Magazins Charner (GMC) được xây dựng theo phong cách kiến trúc Pháp với những nét chấm phá mang đậm đường nét văn hóa Á Đông. Les Grands Magazins Charner tọa lạc tại vị trí đẹp nhất của trung tâm Sài Gòn, kinh doanh các mặt hàng bazar sang trọng được nhập khẩu chủ yếu từ Anh, Pháp và các nước phương tây nhằm phục vụ cho giới thượng lưu Sài thành và các đại điền chủ Lục tỉnh Nam kỳ vào thời kỳ đó.
Cùng với việc kinh doanh tại GMC rất hưng thịnh, để tận dụng tối đa công năng và hiệu quả sử dụng tòa nhà, người chủ GMC đã quyết định đập bỏ tháp đồng hồ và xây thêm một tầng nữa, đồng thời chữ GMC được đặt trên nóc tòa nhà, quan khách có thể nhìn thấy từ rất xa.

Thương xá TAX

Đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, tòa nhà GMC được Hội Mậu Dịch đổi tên thành Thương xá Tax, mặt bằng được chia nhỏ và cho các tiểu thương thuê vị trí để buôn bán. Vào thời kỳ này, việc mua bán vẫn rất nhộn nhịp, hàng hóa không khác mấy so với trước, đồng thời các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới bắt đầu được du nhập nhiều hơn vào Việt Nam.
Sau ngày 30/4/1975 tòa nhà Thương xá Tax được giao lại cho UBNDTP, Tòa nhà không còn là địa điểm kinh doanh sầm uất; mặt bằng thỉnh thoảng được tận dụng làm không gian trưng bày các mặt hàng, máy móc công nghiệp do các đơn vị quốc doanh của thành phố sản xuất.
Đúng ngày Quốc tế Thiếu nhi 01/6/1978, một lần nữa Thương xá Tax được đổi tên thành Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi Thành phố, với đội ngũ mậu dịch viên khăn quàng đỏ, đánh dấu sự náo nhiệt trở lại của tòa nhà tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh sau một thời gian trầm lắng.
Đến năm 1981, trên cơ sở sáp nhập Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi và các quầy hàng chuyên doanh trong tòa nhà trước đó, UBNDTP quyết định thành lập Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Thành phố trực thuộc Sở Thương Nghiệp để nâng tầm hoạt động, đáp ứng việc phục vụ rộng rãi nhu cầu người tiêu dùng và tòa nhà là một trong những cửa hàng lớn nhất Việt Nam thời bấy giờ.
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử cùng biến động của thành phố, tòa nhà vẫn tiếp tục tồn tại một cách bền vững và lặng lẽ. Tuy nhiên, dấu ấn thời gian ngày một in hằn trên từng cây cột và từng mảng tường… bản thân tòa nhà cần được đầu tư sửa chữa một cách tổng thể.
Những năm cuối thập niên 90 của Thế kỷ 20, tòa nhà một lần nữa được cải tạo và chuẩn bị cho giai đoạn buôn bán tấp nập, thịnh vượng mới. Thời điểm này, tòa nhà trở thành một trung tâm giao dịch thực sự, hàng hóa tại đây vô cùng phong phú, từ hàng may mặc, mỹ nghệ đến những mặt hàng xa xỉ đều xuất hiện. Việc giao thương với người Nga rất được chú trọng nên thời kỳ này tòa nhà còn có một tên gọi khác là “chợ Nga”.

Thương xá TAX

Ngày 18/10/1997, Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Thành phố được đổi tên thành Công ty Bán lẻ Tổng hợp Sài Gòn, trực thuộc Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA).
Ngày 19/01/1998, dòng chữ THƯƠNG XÁ TAX chính thức được đặt trên nóc tòa nhà thay thế dòng chữ Cửa Hàng Bách Hóa Tổng Hợp Thành Phố, đánh đấu sự trở lại của một thương hiệu đã tồn tại và ăn sâu vào nếp nghĩ của người Saigon xưa.
Bước vào thời kỳ đổi mới, trước sự cạnh tranh từ các trung tâm thương mại do người nước ngoài đầu tư và quản lý, một lần nữa áp lực cạnh tranh đã buộc Thương xá Tax phải tự làm mới mình.
Ngày 26/4/2003, một Trung tâm Thương mại hiện đại mang tên THƯƠNG XÁ TAX được khánh thành.
Tòa nhà với câu chuyện hơn “100 năm lịch sử” đã và đang là một trung tâm thương mại sầm uất, lâu đời nhất tại Việt Nam; một địa điểm tham quan du lịch nổi tiếng của Thành Phố Hồ Chí Minh, kết nối với những di tích vang bóng một thời như: Bưu điện Trung tâm Thành phố, Nhà thờ Đức Bà, Nhà hát lớn Thành phố, Chợ Bến Thành, Dinh Độc lập và các Bảo tàng đã và đang cùng nhau góp phần quảng bá hình ảnh và con người Việt Nam nói chung và Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng đến với bạn bè thế giới.

Theo Thương Xá Tax website

Vườn Bách Thảo Sài Gòn vào giữa thế kỷ XIX

549 views

Thảo Cầm Viên Sài Gòn (tên gọi tắt: Thảo Cầm Viên) – tên ban đầu: Vườn Bách Thảo, dân Sài Gòn quen gọi Sở thú – là nơi bảo tồn động thực vật có tuổi thọ đứng hàng thứ 8 trên thế giới.
Ngày 23 tháng 3 năm 1864, Đề đốc De La Grandière ký nghị định cho phép xây dựng Vườn Bách Thảo tại Sài Gòn. Thời gian sau, vườn được nới rộng trên 12 ha vùng đất hoang ở phía đông bắc rạch Thị Nghè, Pháp gọi là Arroyo d’Avalanche.
Sau nhiều năm chấn chỉnh tổ chức và mở mang, Thảo Cầm Viên lại được tu sửa, tái thiết và đổi tên, vào năm 1956, là Thảo Cầm Viên Sài Gòn.


C’est l’une des premières mesures de la puissance coloniale: en 1863, l’amiral de La Grandière signa, le 23 mars 1864, le décret autorisant la création d’un jardin botanique au cœur de Saigon. Appelé affectueusement par les saigonnaïs “Sở thú” (zoo), Vườn Bách Thảo (jardin botanique) est classé 8ème des zoos les plus anciens du monde.
Après quelques années d’existence, sa superficie fut étendue et les 12 ha de terres inexploitées et inhabitées de l’arroyo d’Avalanche voisin ont été intégrées dans le jardin. En 1956, il fut de nouveau rénové et prît finalement le nom que l’on connaît actuellement: Thảo Cầm Viên Sài Gòn.

Nhà Đấu Xảo Hà Nội vào thế kỷ XIX

770 views

Nhà Đấu Xảo Hà Nội, Hà Nội năm 1902.
Đấu Xảo là khu triển lãm – hội chợ cũ của Hà Nội, do kiến trúc sư Adolphe Bussy thiết kế. Hình được chụp vào một ngày lễ đánh dấu khai mạc hội chợ. Hội chợ được khánh thành ngày 16 tháng 11 năm 1902 và kéo dài đến ngày 15 hay 16 tháng 2 năm 1903, do Toàn quyền Paul Bert chủ trì. Sau hội chợ, tòa nhà chính trở thành Bảo tàng Maurice Long – Viện bảo tàng kinh tế đầu tiên và lớn nhất của Đông Dương.
Trong Thế chiến lần thứ 2, tòa nhà bị bom Mỹ phá hủy. Di tích còn lại là hai bức tượng sư tử bằng đồng nay đặt tại rạp xiếc Hà Nội trong khu vực công viên Thống Nhất.


Le Palais d’Expositions de Hanoi en 1902. Il fut dessiné par l’architecte Adolphe Bussy. La photo fut d’un jour de festivités marquant l’inauguration de l’Exposition. L’Exposition de Hanoi dura quatre mois, du 16 novembre 1902 au 15 ou 16 février 1903 et voulue par le Gouverneur général Paul Doumer. Après l’Exposition, le Palais Central devînt le Musée Maurice Long – le premier et le plus grand Musée d’Economie de l’Asie du Sud-Est.
Pendant la Seconde Guerre Mondiale, le monument fut détruit par les bombardements américains. Les seuls vestiges qui subsistent jusqu’à nos jours sont deux lions en bronze que l’on peut voir dans l’enceinte du cirque de Hanoi, situé dans le Parc de la Réunification (parc Thống Nhất).


The Hanoi Exhibition Center in 1902. The site of the fair, the Palais d’expositions, was designed by the architect Adolphe Bussy. The picture was taking a day of festivities marking the inauguration of the Exhibition. The Hanoi Exhibition was held between November 16, 1902 and February 15 or 16,1903 and wanted by the Governor General Paul Doumer. After the Exhibition, the site of the fair became the Museum Maurice Long – the first and largest Economy museum in Southeast Asia.
During World War II, the monument was destroyed by American bombing. The only vestiges that remain nowaday are two bronze lions that can be seen inside the circus Hanoi, located in the Park of Reunification (Thống Nhất).

Nhà Đấu Xảo Hà Nội 1902

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn cuối thế kỷ XIX

219 views

Nhà thờ chính tòa Đức Bà Saigon năm 1882, hai năm sau khi được khánh thành (ngày 11 tháng 4 năm 1880 do cố đạo Colombert tổ chức với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers).


Cathédrale Notre-Dame de Saïgon en 1882, deux ans après son inauguration, le 11 avril 1880 par Mgr Isidore Colombert, en présence du gouverneur de Cochinchine de Le Myre de Vilers.


Notre-Dame Cathedral Basilica of Saigon in 1882, two years after its opening on 11 April 1880 by Bishop Isidore Colombert, in presence of the Governor of Cochinchina Charles Le Myre de Vilers.

Những giờ Việt văn – Du Yên

280 views

Lên trung học, năm 1963, tôi được vào Trường Nữ Trung Học Gia Long.

I. Đôi dòng lịch sử:

Trường được khởi công xây cất từ năm 1913 và khánh thành vào năm 1915. Lớp học đầu tiên khai giảng có 42 nữ sinh, phần nhiều cư ngụ ở vùng Sài Gòn. Trường có nhiều cấp lớp, từ lớp mẫu giáo đến những lớp cao hơn. Áo dài màu tím được chọn làm đồng phục cho nữ sinh, cho nên trường được gọi là “Trường Nữ Sinh Áo Tím”.
Năm 1918, một tòa nhà thứ hai được xây song song với tòa nhà thứ nhất. Từng dưới của tòa nhà mới này được dùng làm nơi nội trú cho các nữ sinh ở xa nhà. Phía sau là một ngôi nhà trệt trong đó có bệnh xá, phòng giặt và nhà bếp. Các lớp nữ công gia chánh cũng được giảng dạy ở nơi này.
Tôi nhớ Má tôi thường hay kể chuyện Dì Hai tôi, lúc thiếu thời Dì cũng là học sinh của Trường Nữ Sinh Áo Tím. Dì Hai tôi là chị cả trong các anh chị em của Má tôi. Nhà Ông Bà Ngoại tôi ở làng An Nhơn, quận Gò Vắp, cách Sài Gòn lối 9 cây số. Thời đó đường sá chưa được mở mang, giao thông không dễ dàng nên Dì phải ở nội trú. Các học sinh nội trú phải sắm sửa rất nhiều, các vật dụng cá nhân như áo quần đồng phục mặc lúc ở lớp học, đồng phục mát mặc lúc ở khu cư xá, khăn trải giường, khăn mặt, … mỗi thứ trên mười bộ; ngoài ra học sinh nội trú phải đóng tiền ăn ở rất tốn kém.
Vào tháng 9 năm 1922, lớp đầu tiên của bậc Trung Học Ðệ Nhất Cấp được khai giảng. Học sinh bắt đầu học Pháp văn từ cấp lớp căn bản. Pháp ngữ là ngôn ngữ chính thức được dùng trong việc giảng dạy các lớp bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp. Nữ sinh chỉ được dùng Pháp ngữ để đàm thoại trong trường. Tiếng Việt chỉ được dạy mỗi tuần hai giờ trong giờ Việt văn.
Trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến, trường bị hư hại nhiều nên vị Hiệu Trưởng đương nhiệm phải kêu gọi các vị hảo tâm đóng góp tài chánh để sửa sang trường.
Vào năm 1949, trường lại được nới rộng hơn. Một tòa nhà hai từng được xây trên đường Bà Huyện Thanh Quan, nối liền hai tòa nhà sẵn có để đáp ứng sĩ số nữ sinh theo học ngày một gia tăng.
Kể từ năm 1952, chương trình giảng huấn được thay đổi: chương trình Pháp được đổi dần dần qua chương trình Việt, Pháp và Anh ngữ là những ngoại ngữ được giảng dạy và là môn học bắt buộc cho các nữ sinh.

Trường Nữ Gia Long

Năm 1953, đồng phục áo dài tím được thay thế bằng chiếc áo dài trắng và tiếng Việt được chọn làm ngôn ngữ giảng dạy chính thức. Sau đó trường được đổi tên là Trường Nữ Trung Học Gia Long, lấy niên hiệu của vị vua đầu tiên triều Nguyễn. Có lẽ ở thời điểm này, trường bãi bỏ các cấp lớp thấp và chỉ giảng dạy chương trình trung học.
Ngoài trường Gia Long, đô thành Sài Gòn còn một trường nữ trung học khác là trường Trưng Vương. Không rõ thông lệ bắt đầu từ hồi nào và bãi bỏ vào năm nào, mà khi tôi còn là học sinh bậc tiểu học, mỗi năm vào dịp lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng, đô thành Sài Gòn có tổ chức diễn hành xe hoa của các hội đoàn, các trường học, và các cơ sở thương mại.
Dẫn đầu đoàn xe hoa diễn hành là một đám rước, gồm hai hàng quân lính chỉnh tề, mặc trang phục thời nước Nam lập quốc, cầm cờ nhiều màu tung bay phất phới. Tiếp đến là hai con voi lớn mình phủ khăn màu sặc sỡ, chở trên lưng hai nữ tướng trong trang phục thời cổ: áo dài màu vàng, đầu vấn khăn vành, dáng điệu trông rất oai nghiêm. Đó là hai nữ sinh của trường Gia Long và Trưng Vương đóng vai hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị.
Năm đó Má tôi dẫn mấy chị em tôi đi xem diễn hành. Lúc đó tôi học lớp ba hay lớp nhì chi đó, tôi vẫn còn thấp bé, đứng chưa quá hàng rào cản dọc theo lộ trình diễn hành. Tôi bám lên hàng rào nhón chân nhìn đám rước, chiêm ngưỡng Bà Trưng Trắc ngồi trên lưng voi cao ngất ngưởng mà lòng nao nao kính phục. Trang sử Việt oai hùng học được ở trường đang diễn ra trước mắt tôi, cảm xúc bồi hồi không sao tả được. Yêu mến Bà Trưng Trắc, tôi thương luôn cả trường Gia Long dù chỉ thương qua tên gọi, vì tôi đâu đã thấy trường ra sao. Từ đó, tôi luôn nhủ lòng cố gắng chăm học để được trúng tuyển vào trường Gia Long.

II. Ngôi trường thân yêu:

Năm đầu tiên tôi vào trường thì trường đã được tu bổ khá khang trang. Trường nằm trên một khu vực rất rộng giới hạn bởi bốn con đường lớn thuộc quận Ba đô thành Sài Gòn. Cổng chính trên đường Phan Thanh Giản, cổng sau rất ít khi được mở, vì trổ ra đường Ngô Thời Nhiệm hơi vắng vẻ. Cổng bên trái (nếu nhìn từ đường Phan Thanh Giản vào) trổ ra đường Đoàn Thị Điểm. Tôi không tìm ra tài liệu ghi vào năm nào thì dãy nhà trệt trên đường Đoàn Thị Điểm được xây. Cổng bên phải nằm sát đường Bà Huyện Thanh Quan, bên kia đường là chùa Xá Lợi.
Chỉ có cổng Bà Huyện Thanh Quan là nơi tụ tập nhiều hàng quà vặt. Đây là nơi học trò con gái chúng tôi chiếu cố tận tình nhất. Cổng trường chỉ mở khoảng vài mươi phút trước giờ học, mà thường thì trước đó nhiều giờ, các nữ sinh đồng phục áo trắng đã bu nghẹt các gánh hàng bên đường, lao xao ồn ào như hội chợ, và xả rác ngay trước cổng chùa trang nghiêm thanh tịnh.
Sơ đồ của trường giống như một cổ thành: văn phòng và các lớp học là những dãy nhà chạy dọc theo bốn con đường như đã kể trên, chính giữa là một khuôn viên rất đẹp, thảm cỏ xanh hai bên ngăn chia bởi con đường tráng nhựa đi từ cổng Phan Thanh Giản đến cổng Ngô Thời Nhiệm. Hai bên đường là hai hàng cây có bóng mát, tôi không nhớ là loại cây gì. Giờ ra chơi, chúng tôi đi lên đi xuống dạo trên con đường này mà tưởng tượng như đang dạo chơi trên đường phố Tự Do hay Nguyễn Huệ vậy.
Con đường này cũng chuyên chở một kỷ niệm khó quên trong đời tôi. Mỗi năm khi niên học chấm dứt, vào độ tháng Năm, trường hay tổ chức lễ phát thưởng cho học sinh xuất sắc. Năm nào Má tôi cũng cùng tôi đến trường dự lễ phát thưởng. Hai má con tôi thủng thẳng đi bộ trên con đường nhựa này, nắng nhẹ trời trong rất êm ả. Cuối đường là các hàng ghế xếp sẵn dành cho giáo sư, phụ huynh và học sinh. Tiếp sau dãy ghế là sân khấu ngoài trời, nơi trình diễn phần văn nghệ giúp vui. Phần văn nghệ rất đặc sắc gồm các màn như múa trống cơm, múa quạt, hoạt cảnh Ông Ninh Ông Nang, đơn ca, hợp ca, … do học sinh của trường trình diễn. Tôi thấy Má tôi rất vui và rất thích phần văn nghệ; có lẽ đây là những giây phút giải trí thoải mái hiếm có trong cuộc đời buồn tẻ của Má tôi. Bảy năm trung học, bảy lần tôi đến trường nhận phần thưởng, nhưng đáng quý nhất là bảy dịp tôi được cùng Má tôi đi bộ trên con đường tráng nhựa của trường.
Dãy nhà trên đường Phan Thanh Giản gồm có phòng cô Hiệu Trưởng, phòng họp giáo sư, phòng cô Giám Học, phòng cô Giám Thị và các phòng nhân viên, phòng kế toán. Các lớp học nằm ở từng trệt sát tiếp với các văn phòng, và ở từng hai.
Ba dãy nhà còn lại là lớp học: dãy nhà Đoàn Thị Điểm chỉ là từng trệt, còn dãy nhà Bà Huyện Thanh Quan có hai từng và dãy nhà Ngô Thời Nhiệm có ba từng.
Trường được mở mang thêm, thư viện được xây vào năm 1965 phía sau dãy nhà Ngô Thời Nhiệm, phòng thí nghiệm Vật lý và Hóa học được xây vào năm 1966, và hồ bơi năm 1968.
Cây cảnh ở sân trong thì có cây điệp (bông vàng, cho trái dài màu đen), mấy khóm trắc bá diệp mà học trò chúng tôi gọi là cây “lá thuộc bài”, rất cần thiết cho đời học trò chúng tôi!
Về sau bác làm vườn có trồng thêm một cây phượng vĩ con con, mọc cũng khá nhanh. Khi tôi rời trường thì cây cũng đã có tàn rộng, trổ bông đỏ rực vào mỗi tháng Năm.
Ngoài cây phượng vĩ con con trồng sau này ở sân trong, sân sau cổng Đoàn Thị Điểm có một cây phượng vĩ rất già, không biết được trồng từ bao giờ, mà khi tôi vào trường cây đã cao lắm, tàn rất rộng. Suốt bảy năm trung học, tôi đã chứng kiến bảy mùa hoa nở. Màu hoa đỏ rực đua chen với màu trắng của tà áo nữ sinh, tung bay như trăm ngàn cánh bướm, là một hình ảnh không thể quên được.
Nghe đâu sau khi tôi rời trường lâu lắm, cây phượng này bị sét đánh ngã sau một trận dông bão. May mà bác làm vườn đã trồng cây phượng con ở sân trong trước khi cây già bị ngã. Nếu không, sân trường thiếu cây phượng vĩ thì đời học trò chúng tôi sẽ quạnh hiu biết bao!
Sân sau cổng Đoàn Thị Điểm còn có hàng cây dây giun, leo chằng chịt trên hàng rào cổng, bông sắc đỏ, sắc trắng rất vui mắt. Cổng nhà Ông Nội tôi ở Bến Tre cũng có trồng cây này, cành lá sum sê rất đẹp. Sở dĩ tôi nhớ rất rõ hình dạng và màu sắc cây này là vì cổng trường và cổng nhà Ông Nội tôi là hai nơi tôi yêu mến nhất trong thời hoa niên, và cả hai nơi đều có cây dây giun.
Dãy nhà Bà Huyện Thanh Quan thì không có sân sau, vì nằm sát lề đường. Dãy nhà Ngô Thời Nhiệm thì chỉ có vài cây kiểng quanh bệnh xá và thư viện.

III. Chương trình giảng huấn:

Năm đầu trung học lúc đó là lớp đệ Thất, rồi tiếp tục đệ Lục, Ngũ, Tứ là xong Trung Học Đệ Nhất Cấp. Sau đó là Trung Học Đệ Nhị Cấp gồm đệ Tam, Nhị, Nhất. Tóm lại các lớp trung học đếm ngược từ số lớn tới số nhỏ. Về sau, chương trình học đổi cách chia lớp theo phương cách của Âu Mỹ mà đếm tới: lớp 6 (tương đương với đệ Thất), rồi lớp 7, 8, 9, 10, 11, và lớp 12 là tương đương với lớp đệ Nhất khi xưa.
Vì số phòng học giới hạn nên ba cấp lớp đầu học buổi chiều. Các cấp cao hơn học buổi sáng. Tôi còn nhớ lúc tôi vào trường, mỗi cấp lớp có tất cả 14 lớp: đệ Thất 1 cho tới đệ Thất 14, phân nửa số lớp theo sinh ngữ chính Anh văn, phân nửa còn lại theo sinh ngữ chính Pháp văn (tôi chọn sinh ngữ chính Pháp văn, vào học lớp đệ Thất 8). Các cấp đệ Lục và đệ Ngũ cũng được phân chia như trên. Tổng cộng buổi chiều có tất cả 42 lớp. Trung bình sĩ số mỗi lớp là 60 học sinh, như vậy chỉ riêng buổi chiều đã có tất cả khoảng 2,500 học sinh.
Năm đệ Thất, môn Việt văn, chúng tôi học Văn chương bình dân (hay Văn chương truyền khẩu) gồm ca dao và tục ngữ trong phần văn vần. Về văn xuôi, chúng tôi học vài bài của các tác giả trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn.
Năm đệ Lục, chúng tôi học thể thơ Đường luật, thất ngôn hay ngũ ngôn, các bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan, và truyện dài Bích Câu Kỳ Ngộ.
Năm đệ Ngũ, chúng tôi tiếp tục học thơ Đường luật thất ngôn bát cú, các bài thơ viết bằng chữ Nôm của vua Lê Thánh Tông và các vị thi nhân trong hội Tao Đàn do vua lập ra. Về truyện dài, văn vần chúng tôi học tác phẩm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu; về văn xuôi chúng tôi học các tác phẩm của các văn sĩ trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn như Hồn Bướm Mơ Tiên, Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng, Đoạn Tuyệt và Lạnh Lùng của Nhất Linh.
Lên năm đệ Tứ, chúng tôi được học buổi sáng; điều này đã là một niềm hãnh diện cho chúng tôi rồi (vì được học cùng buổi với các chị lớn, nên tự nhiên cảm thấy mình lớn hơn, chững chạc hơn), lại thêm được học tác phẩm nổi tiếng Đoạn Trường Tân Thanh (gọi tắt là Truyện Kiều) của Nguyễn Du.
Năm đệ Tam chúng tôi chọn ban: ban A chủ về khoa học thực nghiệm, ban B nghiêng về Toán, và ban C chuyên về Việt văn và Triết học.
Sự thay đổi lớn đối với tôi khi lên đệ Tam là tôi không còn chung lớp chung thầy với tất cả các bạn học trong suốt bốn năm đệ Nhất Cấp. Một số bạn vì chọn ban khác với ban tôi chọn nên sang lớp khác học, buồn lắm! Nhưng bù lại, tôi được làm quen với các bạn mới cùng trường và các bạn từ các trường tư thục ở ngoài vào.
Sự thay đổi thứ nhì cũng khá quan trọng đối với tôi là giờ Việt văn giảm đi khá nhiều vì tôi chọn ban Toán. Tôi vốn ưa thích Toán, Vật lý, Hóa học, mà đồng thời cũng thích Việt văn, nên tôi rất bối rối khi phải chọn ban. Sau cùng tôi chọn ban Toán, và đành “hy sinh” một số giờ Việt văn. Cái gì càng hiếm thì càng quý: trong hai năm đệ Tam và đệ Nhị, dù đau ốm cảm cúm mà nhằm ngày có giờ Việt văn, tôi cũng cố lò dò tới trường, không nghĩ tới việc lây bệnh cho các bạn tôi, thiệt là bậy!
Tôi không nhớ hết năm đệ Tam học các thể loại nào, chỉ nhớ rõ về thể song thất lục bát và tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, do nữ sĩ Đoàn Thị Điểm dịch ra chữ Nôm từ nguyên bản Hán văn của tác giả Đặng Trần Côn. Tác phẩm này là một bài ngâm, kể tâm sự một chinh phụ có chồng đi chinh chiến miền xa.
Năm đệ Nhị là năm chuẩn bị thi Tú tài phần I và là năm cuối cùng học Việt văn (lên đệ Nhất không học Việt văn nữa mà học Triết học Tây phương), nên chương trình Việt văn khá nặng. Chúng tôi học thể thơ hát nói, các tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Trần Tế Xương, cùng sơ lược một vài tác phẩm của các thi sĩ thuộc phái thơ mới như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Thế Lữ, Xuân Diệu, v.v…
Ngày tựu học năm đệ Nhất, tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn, vui ít buồn nhiều: vui vì tôi vừa qua xong một kỳ thi và ít nhất có mảnh bằng “Tú đơn”[2] giắt túi; buồn vì xong năm nay tôi phải rời trường, nơi chứa đầy ắp những kỷ niệm êm đềm thời hoa niên với thầy cô bạn bè.
Lớp đệ Nhất ban Toán chúng tôi không học môn Việt văn, mà những giờ Việt văn được thay bằng những giờ Triết học Tây phương. Tôi nghĩ học sinh mười bảy tuổi như chúng tôi mà phải gặm nhấm triết lý của các bậc đại triết gia trong lịch sử nhân loại thì không còn gì đáng thương hơn! Cho đến bây giờ, tôi không còn nhớ một chút gì về mớ triết lý nhức đầu tôi học được trong năm đệ Nhất, trong khi thơ văn Việt đã theo ấp ủ và tưới mát tâm hồn tôi trong suốt thời gian tôi rời trường, trưởng thành và nên người.
Ôi, đời có những giờ Việt văn là một đời hạnh phúc!

(Trích từ Tiếng Nước Tôi của Du Yên, 2009)

Một thoáng nhớ lại Trường Nữ Gia Long Saigon

697 views

Trường nữ Gia Long (trường nữ sinh Áo Tím) là một trường trung học phổ thông công lập ở Saigon. Được thành lập từ năm 1913, cho đến hiện tại, trường lấy tên Nguyễn Thị Minh Khai, sau 1975, là một trong những trường phổ thông lâu đời nhất của nền giáo dục Việt Nam.

Thời Pháp thuộc
Khoảng đầu thế kỷ 20, nền giáo dục còn mang tính chất Nho giáo ở Việt Nam ít chú trọng đến giáo dục nữ giới. Đến năm 1908, Nghị viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ Lê Văn Trung cùng vợ của Tổng Đốc Phương đề nghị chính quyền thực dân Pháp thành lập một ngôi trường đa cấp dành cho nữ. Đề nghị được chấp nhận nhưng mãi đến 1913 ngôi trường mới được khởi công trên một khu đất rộng đường Legrand de la Liraye, Sài Gòn (nay thuộc đường Điện Biên Phủ, Thành phố Hồ Chí Minh), việc khởi công chậm này là vì không có kinh phí.
Năm 1915, trường được xây dựng xong và cũng trong năm ấy trường khai giảng khóa đầu tiên; toàn quyền Đông Dương khi đó là ông Ernest Nestor Roume và Thống đốc Courbeil là người cắt băng khánh thành và tuyên bố khai giảng. Khóa đầu tiên trường tuyển 42 nữ sinh, đồng phục khi này là áo dài tím, tượng trưng cho sự tinh khiết của phụ nữ Việt Nam,[2] nên trường còn có tên là Trường Nữ sinh Áo Tím. Tất cả nữ sinh trường đều cư ngụ ở Sài Gòn và vùng lân cận, mãi về sau mới có cư xá dành cho nữ sinh đến từ các thành phố, vùng khác. Trường đào tạo thành nhiều cấp: Đồng ấu (Enfantin), Cao đẳng (Supérieur). Năm cuối Sơ học (CEP), học sinh phải thi lấy Chứng chỉ Căn bản Giáo dục sau khi tốt nghiệp những lớp cao cấp.
Năm 1918, vì số lượng học sinh gia tăng, trường xây dựng thâm một tòa nhà thứ hai song song với tòa nhà cũ. Tòa nhà mới có nhiều chức năng: tầng dưới dùng làm cư xá cho các học sinh xa nhà, phía sau là bệnh xá, phòng giặt và nhà bếp trong một ngôi nhà trệt. Đây đồng thời cũng là nơi giảng dạy các môn nữ công gia chánh và thêu thùa.
Đến tháng 9 năm 1922, toàn quyền Albert Sarraut khai giảng lớp đầu tiên của bậc Trung học Ðệ nhất Cấp. Một phiến đá bằng cẩm thạch khắc chữ COLLÈGE DES JEUNES FILLES INDIGÈNES (Trường Của Những Thiếu Nữ Bản Xứ) được dựng lên trước cổng trường, tuy nhiên trường vẫn được biết đến nhiều hơn với cái tên Trường Nữ Sinh Áo Tím. Hiệu trưởng đầu tiên là một cô giáo người Pháp tên là Lagrange. Để được vào học, học sinh phải vượt qua khóa thi căn bản giáo dục và kỳ thi tuyển vào trường. Thời gian này tiếng Pháp được dạy từ cấp lớp căn bản, là ngôn ngữ chính thức dùng trong việc giảng dạy các lớp bậc trung học đệ nhất cấp, trong trường nữ sinh chỉ được dùng tiếng Pháp để giao tiếp; còn tiếng Việt chỉ được dạy mỗi tuần 2 tiếng trong giờ Việt Văn.
Tuy trường khi này do người Pháp quản lý nhưng phong trào đấu tranh chống thực dân trong học sinh vẫn âm ỉ; trong thập niên 1920, ít nhất đã hai lần nữ sinh trường xuống đường: một lần vào khoảng đầu năm 1920 nhân khi một giáo viên người Pháp yêu cầu học sinh người Việt phải nhường ghế ở hàng đầu cho học sinh người Pháp ngồi, và vào năm 1926 để tang cho Phan Châu Trinh. Đến hè năm 1940, quân đội Nhật chiếm đóng cơ sở trường rồi sau đó đến quân đội Anh, trường dời về trường tiểu học Ðồ Chiểu tại vùng Tân Ðịnh; cũng trong những năm 1940, trường đổi tên: Collège Gia Long, rồi Lycée Gia Long.
Năm 1947, khi được người Anh trao trả, trường bị hư hại nhiều đến nỗi vị hiệu trưởng lâm thời phải vận động quyên góp tài chính để tu sửa trường. Năm 1949, trường lại được mở rộng: một tòa nhà hai tầng được xây mới ở đường Bà Huyện Thanh Quan để đáp ứng số lượng học sinh ngày càng tăng. Cũng trong năm 1949, nữ sinh trường cùng với nam sinh trường Petrus Ký tổ chức bãi khóa kỷ niệm ngày Nam Kỳ Khởi Nghĩa dẫn đến việc trường bị nhà cầm quyền cho đóng cửa.

Thời Quốc gia Việt Nam
Đến năm 1950, sau một cuộc đấu tranh dài hơi có sự góp sức của đông đảo học sinh các trường khác ở khắp vùng Sài Gòn-Gia Định (trong số ấy có nhiều học sinh đã hy sinh, như Trần Văn Ơn của trường Petrus Ký  trường được mở cửa lại và đánh dấu một sự kiện lớn: lần đầu tiên hiệu trưởng là người Việt đồng thời cũng là một cựu nữ sinh của trường: cô Nguyễn Thị Châu. Đến 1952, chương trình giáo dục Việt dần thay thế chương trình giáo dục Pháp; nữ sinh phải học cả hai ngoại ngữ là Anh-Pháp song song. Kỳ thi tuyển vào trường rất khó và được đem so sánh với kỳ thi vào trường dành cho nam là Lycée Petrus Ký với số học sinh tham dự đến từ khắp nơi trong miền Nam: Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa, Tân An… (một cuộc tuyển sinh vào hệ trung học trường vào khoảng năm 1971 được ghi nhận như sau: có tổng cộng 8000 học sinh ghi danh và thi tuyển nhưng chỉ có 819 đậu.) Năm 1953, đồng phục trường đổi từ áo dài tím sang áo dài trắng với phù hiệu của trường là đóa mai vàng khâu lên trên áo, đồng thời sau đó chương trình giáo dục bằng tiếng Pháp của trường cũng được đổi sang tiếng Việt và tên trường đổi thành tên tiếng Việt Trường Nữ Trung học Gia Long.

Thời Việt Nam Cộng hòa
Suốt những năm sau đó, trường vẫn tiếp tục phát triển: 1965, xây thêm thư viện; 1964 trường bỏ nội trú, sửa các phòng ở thành phòng học; số lượng lớp của trường chừng 55 lớp học từ đệ Tứ đến đệ Nhất (tường đương lớp 9 đến lớp 12 bây giờ) học buổi sáng; 45 lớp từ đệ Thất đến đệ Ngũ (tương đương lớp 6 đến lớp 8 bây giờ) học buổi chiều với tổng cộng 3000 học sinh.

Sau năm 1975
Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, trường được chính quyền mới đổi tên thành Trường Phổ thông cấp 2-3 Nguyễn Thị Minh Khai. Niên khóa 1978-1979, Trường giải thể cấp 2, thu nhận nữ sinh lẫn nam sinh, đổi tên thành Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai tới bây giờ.
Năm 2003, trường được đưa vào danh mục của 55 công trình đề nghị điều tra xác lập di tích kiến trúc cổ của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh

Danh sách hiệu trưởng

Năm học Hiệu trưởng
1914-1920 Cô Lagrange
1920-1922 Cô Lorenzi
1922-1926 Cô Pascalini
1926-1942 Cô Saint Marty
1942-1945 Cô Fourgeront
1945-1947 Cô Malleret
1950-1952 Cô Nguyễn Thị Châu
1952-1963 Cô Huỳnh Hữu Hội
1963-1964 Cô Nguyễn Thu Ba
1964-1965 Cô Trần Thị Khuê
1965-1969 Cô Trần Thị Tỵ
1969-1975 Cô Phạm Văn Tất

(Theo Wikipedia)

Hồ Gươm năm 1948

337 views

Hồ Gươm, Hà Nội tháng 07 năm 1948


Le lac Hoan Kiem ou lac de l’Epée,
(Hanoi, Juillet 1948)


Hoan Kiem Lake, meaning “Lake of the Returned Sword” or “Lake of the Restored Sword”, also known as Hồ Gươm (Sword Lake),


(Hanoi, July 1948)