Miền Bắc

Vì sao gọi “TRONG Nam, NGOÀI Bắc”, “VÔ (VÀO) Nam, RA Bắc”?

515 views

Cách gọi “trong Nam, ngoài Bắc”, “vô/vào Nam, ra Bắc” bắt nguồn từ danh xưng ĐÀNG TRONG / ĐÀNG NGOÀI vào thế kỷ 17 & 18.

Tiếng Việt chúng ta khi nói “TRONG” tức là trung tâm so với “NGOÀI”; bao giờ “TRONG” cũng có vai vế hơn (về mặt thực tiễn) so với “NGOÀI”. Ta nói “trong kinh thành, ngoài biên ải”, chớ không ai đi phân định “trong biên ải, ngoài kinh thành” hết.
Trong một số trường hợp, “TRONG” còn mang tính chất mật thiết hơn so với “NGOÀI”. Ta nói “trong nhà, ngoài lộ”, chớ không ai đi nói “trong lộ, ngoài nhà”.

Cái thuở nước Việt chưa phân chia hai miền (chúa Nguyễn, chúa Trịnh) mà Thăng Long còn làm kinh đô chung, người ở trong kinh kỳ khi ngó ra chốn mù khơi như Bình Định gọi là ngó ra NGOÀI biên ải.
Đến thời phân tranh Trịnh – Nguyễn, lấy ranh giới nơi sông Gianh (Quảng Bình) mà phân chia đất nước. Nói “Nam hà” 南 河 để chỉ lãnh thổ từ phía Nam sông Gianh trở vô, “Bắc hà” 北 河 để chỉ lãnh thổ từ phía Bắc sông Gianh trở ra. Nhưng, danh xưng chính thức thì không gọi Nam hà / Bắc hà, mà gọi là: ĐÀNG TRONG / ĐÀNG NGOÀI.
Lạ không, lẽ ra phải gọi toàn lãnh thổ phía bắc sông Gianh là “Đàng Trong” bởi nó có kinh đô Thăng Long; còn toàn lãnh thổ phía nam sông Gianh lẽ ra phải gọi là “Đàng Ngoài” (bởi nằm quá xa ngoài biên cương luôn, vượt qua Phú Yên, vượt tới Cà Mau mịt mù) mới phải chớ?
Nhưng, hoàn toàn ngược lại!
Cõi phía nam được gọi là “Đàng TRONG”, còn cõi phía bắc dầu có kinh kỳ Thăng Long đi nữa nhưng lại trở thành “Đàng NGOÀI”.

“ĐÀNG” (Đàng Trong, Đàng Ngoài) nghĩa là gì? “Đàng” = “đường”, nhưng “đường” ở đây không phải là “con đường” (Nếu tưởng như vậy, không lẽ “Đàng Trong” nghĩa là… trong con đường, “Đàng Ngoài” là… ngoài con đường? Nghe xong, khỏi hiểu luôn)
Trong Hán tự (nên nhớ trước khi có chữ Quốc ngữ, tiền nhân chúng ta xài Hán tự), “đường” có nhiều nghĩa. Ở đây, “đường” được viết 塘 , nghĩa là “con đê” (đê sông 河 塘 ; đê biển 海 塘)! Cách gọi này có liên quan tới Đào Duy Từ (1572- 1634), ông là người nghĩ ra cách xây lũy phòng thủ cho chúa Nguyễn (“Lũy Trường Dục”, còn gọi là “Lũy Thầy”). Hệ thống lũy này nhìn như con đê.
Lực lượng của chúa Nguyễn đóng phía trong con đê, thành thử gọi “Đàng (đường) Trong”, nằm về phía Nam. Còn lực lượng chúa Trịnh ở phía ngoài con đê, thành thử gọi “Đàng (đường) Ngoài”, nằm về phía Bắc.

Trong gần hai thế kỷ (thế kỷ 17, 18), cõi phía Nam sông Gianh liên tục được mở rộng và trải dài tới Cà Mau là cõi có kinh tế phồn thịnh hơn, có văn hóa cởi mở hơn so với cõi phía bắc sông Gianh.
Giáo sư Li Tana ở Đại học Quốc gia Úc khi nghiên cứu về Đàng Trong, bà đánh giá công trạng của Chúa Nguyễn Hoàng tương đương với công trạng của Ngô Quyền. Nếu Ngô Quyền, vào thế kỷ 10, đã mở đầu nền tự chủ lâu dài cho một nước Việt với lãnh thổ khoanh lại ở miền Bắc & phía bắc miền Trung, thì Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng), vào thế kỷ 17, đã mở ra một thời kỳ mới cho nước Việt với lãnh thổ mở rộng cho tới tận Cà Mau. Nói rõ hơn nữa, Đàng Trong của các Chúa Nguyễn trở thành một TRUNG TÂM phát triển mới, một sinh lực mới cho nước Việt.
Tương lai nước Việt được nhìn thấy trên vầng trán của xứ Đàng Trong…

Cách gọi ĐÀNG TRONG / ĐÀNG NGOÀI, dễ thấy đây là “hệ qui chiếu” được nhìn từ tọa độ của phía Nam. Và, danh xưng này được ghi chép vào trong sử sách cái rụp – bởi sức ảnh hưởng tự thân của nền kinh tế, xã hội của cõi phía Nam sông Gianh.
Thực tiễn phát triển của mỗi miền (Nam phát triển hơn Bắc) đã ghi dấu ấn rõ rành vào trong ngôn ngữ, thể hiện qua danh xưng: cõi phía Nam mới là “Đàng TRONG”, cõi phía Bắc chỉ là “Đàng NGOÀI” thôi.
(mở ngoặc: người ngoài Bắc hiện nay xin đừng “sân si”, “tự ái” gì ráo, bởi đó là thực tiễn lịch sử trong thế kỷ 17, 18; ngay như tôi là… người gốc Bắc, mà tôi cũng ưng tôn trọng cách gọi “Đàng Trong” đầy hãnh diện, nói cho cùng, có ích lợi chung cho toàn nước Việt)
Dòng sử Việt dù đã đi qua thời kỳ định cõi riêng biệt giữa chúa Nguyễn với chúa Trịnh nhưng dấu ấn lịch sử vẫn còn lưu lại trong lời ăn tiếng nói của người Việt cho tới hiện nay – gọi “TRONG Nam, NGOÀI Bắc” là bởi vậy đó đa!
Và, tới đây chúng ta dễ dàng hiểu vì sao gọi “VÔ (vào) Nam”, mà không gọi “ra Nam”. Bởi vì Nam là “TRONG” (Đàng Trong), nên người Việt mình khi nói “vô (vào)” tức là vô (vào) bên trong, chớ không ai đi nói “ra bên trong” hết.
Cũng vậy, gọi “RA Bắc”, bởi vì miền Bắc là “NGOÀI” (Đàng Ngoài) nên khi ta nói “ra” tức là ra bên ngoài, ra phía ngoài, chớ không ai đi nói “vô (vào) bên ngoài” hết.

Từ thuở tự do nơi đất mới
Càng thương càng quý xứ Đàng Trong
”…

Ngay cả hiện nay, dù miền Nam không còn như trước kia, nhưng luồng di dân từ NGOÀI Bắc kéo VÔ Nam để định cư, kiếm sống vẫn tiếp diễn hết năm này qua năm khác (còn số người từ TRONG Nam đi RA Bắc để định cư ? ít hơn hẳn, đìu hiu, không thấm tháp gì ráo).
Ta nói, ở miền Nam, “đất lành chim đậu”.
Còn ở những nơi đất không lành thì… đất chọi chết chim.

Tác giã : Nguyễn Chương

Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967 (phần 1)

638 views

Ngay trong những năm chiến tranh tàn khóc ở Việt Nam, nhà báo Mỹ Lee Lockwood đã ghi nhận lại một loạt ảnh quý giá về miền Bắc Việt Nam năm 1967. Những bức ảnh lưu lại cho những thế hệ mai sau sự tàn phá, chết chóc mà chịu ảnh hưởng nhiều nhất vẫn là người dân.

Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Cầu phao ở ngoại ô thành phố Nam Định
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Vât dụng thu được từ các phi công Mỹ bị bắt giữ
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Giấy tờ tùy thân của một phi công Mỹ bị bắt tại miền Bắc Việt Nam
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Những hố bom ngập nước tại Nam Định
Một khu nhà bị hủy diệt do bom Mỹ ở Phủ Lý, tỉnh Nam Hà (Hà Nam ngày nay)
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Chân dung phi công Mỹ William A. Robinson bị miền Bắc Việt Nam bắt sống
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Chân dung phi công Mỹ Arthur N. Black bị miền Bắc Việt Nam bắt sống
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Một phi công Mỹ – Trung úy Joseph Crecca – cho gà Tây ăn trong trại giam ở Hà Nội
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Trâu được buộc trong hầm tránh bom ở nông thôn miền Bắc, 1967
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Dân quân diễn tập trên đống đổ nát vì bom
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Dân quân Hà Nội diễn tập cứu thương khi bị không kích
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Bên trong một ngôi chùa tại Hà Nội sau cuộc không kích
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Chùa Phúc Lâm ở Hà Nội đổ nát do trúng bom
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Dân quân khiêng các thùng gỗ ra khỏi nhà máy xe đạp bị ném bom gần Hà Nội
Những bức ảnh màu cực hiếm về miền Bắc Việt Nam năm 1967
Những tượng Phật còn lại của ngôi chùa sau trận bom

Vài hình ảnh quý và hiếm về cuộc di cư của người miền bắc sau Hiệp định Genève 1954

383 views

Ký ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Genève, sau 75 ngày đàm phán, đã chấm dứt Chiến tranh Đông Dương và sự hiện diện của quân đội Pháp trên bán đảo Đông Dương. Hiệp định cũng công nhận nền độc lập của Lào và Campuchia và chia Việt Nam thành hai quốc gia, ở vĩ tuyến 17: phía Bắc tập hợp lại các lực lượng của Quân đội Nhân dân Việt Nam, tức là Việt Minh; phía Nam, Quân đội Liên hiệp Pháp (bao gồm cả Quân đội Quốc gia Việt Nam).
Sau khi Hiệp định Genève được tuyên bố, trên 1 triệu người dân từ miền Bắc được sự trợ giúp cũng như ảnh hưởng tuyên truyền của Mỹ đã di cư vào Nam.
Hàng ngàn người tị nạn đã đổ về cảng Hải Phòng và đã được đưa lên những chiếc tàu của chính quyền Pháp đặc biệt phái đến để đưa họ về miền Nam.
Những người tị nạn được đưa đến hai địa điểm theo ý muốn của họ ở Tourane (Nha Trang) hoặc ở Sài Gòn; ở đó, các trung tâm tiếp nhận sẽ chăm sóc “tái định cư” cho họ nhanh nhất có thể, đưa họ trở lại làm việc và tìm cho họ một mái nhà.