Thái Thanh

Những giai thoại quanh ca khúc nhắc tên danh ca Thái Thanh

370 views

Một ca sỹ được nhắc tên trong một ca khúc là điều hiếm hoi. Nhưng với giọng ca vượt thời gian của Thái Thanh, dường như điều đó đã thành ngoại lệ khi nhạc sỹ Anh Bằng đã nhắc tới chị trong một ca khúc có tên Giọt buồn không tên sáng tác năm 1971. Khi đó, Thái Thanh còn đang ở đỉnh cao của âm nhạc.

Nhạc sỹ Anh Bằng nổi tiếng với nhiều ca khúc như Nỗi lòng người đi, Bài thơ đan áo, Anh biết em đi chẳng trở về, Ai bảo em là giai nhân, Chuyện tình Lan và Điệp…. Nhưng khi sáng tác ca khúc Giọt buồn không tên, nhạc sỹ Anh Bằng đã ký tên là Tô Giang. Ít ai biết Tô Giang chính là bút danh khi Anh Bằng sáng tác thơ. Vì thế đã có một thời, người ta đi tìm nhạc sỹ Tô Giang mà không hề biết đó chính là Anh Bằng. Mãi sau này, khi nhạc sỹ – ca sỹ Duy Khánh xuất bản tuyển tập mới ghi rõ tác giả của ca khúc Giọt buồn không tên là nhạc Anh Bằng – Lời Tô Giang. Và sau này, nhiều chương trình nhạc khi giới thiệu ca khúc Giọt buồn không tên chỉ ghi là tác giả Anh Bằng.

Những giai thoại có tên Thái Thanh - Nhạc sĩ Anh Bằng
Nhạc sĩ Anh Bằng

Ca khúc Giọt Buồn Không Tên có một từ rất nhiều người hát sai. Đó là từ có liên quan đến Thái Thanh: “Phòng trà nghỉ chân nghe Thái Thanh ca Biệt Ly…”. Trước đây đã có người khẳng định câu hát đó phải là “Phòng trà Mỹ Trân” và lập luận rằng phòng trà thì tên Mỹ Trân nghe hay, và gắn với kỷ niệm một thời của Sài Gòn. Cũng có người đã đi tìm hiểu tư liệu và sau đó khẳng định Sài Gòn thời đó (những năm 70 thập kỷ trước) không có phòng trà nào tên là Mỹ Trân. Nhạc sĩ Anh Bằng đã không nói tên của phòng trà nên nhiều người có thể nghĩ theo nghĩa rộng là… phòng trà nào cũng được.

Nhưng với “Nghe Thái Thanh ca Biệt ly”, thực tế tại Sài Gòn ngày đó, danh ca Thái Thanh chỉ hát duy nhất tại phòng trà Đêm Màu Hồng, nơi mà nhạc sĩ Phạm Đình Chương (Hoài Bắc) mở vào năm 1967. Dàn ca sĩ tại Đêm Màu Hồng gồm có ban hợp ca Thăng Long (Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Hằng, Khánh Ngọc và Thái Thanh) chuyên trình bày những nhạc phẩm của Phạm Duy và Phạm Đình Chương, ban Tam Ca Đông Phương (Tuyết Hằng, Thu Hà, Hồng Vân) chuyên trình bày nhạc dân ca ba miền rất nổi tiếng, ban tứ ca “Bốn anh em nhà Dalton” với Ngọc Thi, Nhật Bằng, Hoài Trung và Hoài Khanh chuyên trình diễn những bản nhạc ngoại quốc vui nhộn, trẻ trung. Vì thế dù Anh Bằng không nói rõ là phòng trà nào nhưng ai biết cũng có thể nói chính xác đó là phòng trà Đêm Màu Hồng.

Những giai thoại có tên Thái Thanh - Ban hợp ca Thăng Long
Ban hợp ca Thăng Long

Ca khúc Biệt ly là ca khúc nổi tiếng của nhạc sỹ Doãn Mẫu được sáng tác năm 1939, khi nhạc sỹ chứng kiến những sự chia ly tại ga Hàng Cỏ (Hà Nội). Trước Thái Thanh, đã có nhiều ca sỹ thể hiện Biệt Ly như tài tử Ngọc Bảo, Thanh Thúy… nhưng phải tới Thái Thanh, người nghe mới thấu hiểu được nỗi lòng người nhạc sỹ muốn gửi gắm.

Sau này, khi được hỏi về lý do viết câu hát “Nghe Thái Thanh ca Biệt ly” chứ không phải ca khúc khác, nhạc sỹ Anh Bằng đã nói: “Có lẽ vì cùng đồng cảnh nỗi xa quê nên ca sỹ Thái Thanh mới thể hiện Biệt ly hay tới thế”.

Tác giã : Trọng Thịnh

Tiếng Hát Thái Thanh Trong Dòng Nhạc Đạo Ca

557 views

Thái Thanh tên thật là Phạm Thị Băng Thanh, sinh ngày 5/8/1934, từ trần ngày 17/3/2020 tại Quận Cam, California, Hoa kỳ, hưởng thọ 86 tuổi.

Cố ca sĩ Thái Thanh trong sự nghiệp ca hát của mình ít thấy có nhiều sự kiện liên quan đến Phật giáo nhưng chỉ một vài chi tiết thôi cũng đủ ghi đậm hình ảnh của Bà đối với những bái hát có liên quan đến hệ tư tưởng của Phật giáo. Các đây ít năm , người viết bài này có nói đến tiếng hát của bài cùng với Ban hợp ca Thăng Long qua bài hát bất hủ “Phật Giáo Việt Nam” của nhạc sĩ Lê Cao Phan thu thanh trong dĩa nhựa Sóng nhạc trước năm 1975 (bài “Ước Mơ Nhỏ, Niềm Vui Lớn”). Chỉ một giọng ca của Bà cất lên trong bài hát này mà các giọng ca còn lại trong Ban Thăng Long (Hoài trung, Thái Hằng, Hoài Bắc (tức Phạm Đình Chương), và Khánh Ngọc) như đã làm nền theo phong cách hòa âm có nghệ thuật cao. Điều mà ngày nay, dù chúng ta đã có nhiều dàn hợp xướng, họp ca bài “Phật Giáo Việt Nam” mà nghe vẫn như chưa toát lên hết sự khẳng khái và cương nghị của PGVN như cách hát của Bà khi ấy, dù rằng âm thanh ngàn nay đã có tiến bộ rất nhiều. Bài hát đó với giọng ca của Bà còn là một phần kỷ niệm rất lớn đối với những người con Phật thời ấy vào các ngày đại lễ của Phật giáo trên sóng phát và truyền hình, trong đó có tuổi thơ người viết.

Tuy nhiên dấu ấn lớn nhất và cỏn là sự kiện nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của cố nhạc sĩ Phạm Duy ( 1921 – 2013 ) và giọng ca của Bà là vào năm 1970, với 10 bài thơ thiền của nhà thơ Phạm Thiên Thư (khí đó còn là tu sĩ Phật Giáo) được Phạm Duy phổ nhạc, lấy tựa đề “10 Bài Đạo Ca”, tất cà và duy nhật cũng vẫn là giọng hát tuyệt vời của Bà thể hiện.

Tiếng Hát Thái Thanh Trong Dòng Nhạc Đạo Ca

Tuyển tập 10 bài Đạo ca ấy gồm : Đạo Ca thứ nhất: Pháp Thân, Đạo Ca Thứ hai: Đại Nguyện, Đạo Ca Thứ ba: Chàng Dũng Sĩ Và con Ngựa Vàng, Đạo Ca bốn: Quán Thế Âm, Đạo Ca năm: Một Cành Mai, Đạo Ca sáu : Lời Ru Bú Mớm Nâng Niu, Đạo Ca bảy: Qua suối mây Hồng, Đạo Ca tám : Giọt chuông cam Lộ, Đạo Ca chín: Chắp tay Hoa, và Đạo Ca mười : Tâm Xuân. Chưa kể trước và sau tuyển tập Đạo Ca này , nhạc sĩ Phạm Duy còn phổ hơn 10 bài thơ thiền khác của Phạm Thiên Thư cũng do tiếng hát Thái Thanh thể hiện như Em Lễ Chùa này, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, Huyền Thoại Tên Một Vùng Biển, Loài Chim Bỏ Xứ, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu và nhất là bài hát Ngày Xưa Hoàng Thị hẳn nhiều thế hệ đã qua đã được một lần được nghe qua.

Tiếng Hát Thái Thanh Trong Dòng Nhạc Đạo Ca

Thiền sư Thích Nhất Hạnh trước đây và cả sau này cũng có nhiều ấn tượng mạnh về giọng hát của Thái Thanh và những năm 80 Bà cũng từng đem tiếng hát của mình đến Làng Mai hát phục vụ. Thiền Sư Thích Nhất Hạnh có nói một câu rất sâu đậm ý nghĩa về giọng hát của Bà “Nếu ta nghiêng mình lệch đi một tí, bình diện với thời gian thay đổi thì cô Thái Thanh đã ở bên kia tự bao giờ rồi, ví dụ năm ngàn năm về trước năm ngàn năm vế sau” (Nguồn: Chánh Quán).

Đó là những dấu ấn trong sự nghiệp ca hát của ca sĩ Thái Thanh có liên quan đến Phật giáo và chúng ta vẫn tự hào nói về điều đó mỗi khi nhắc đến anh ca Thái Thanh – Tiếng Hát Vượt Thời Gian đã từng thả những thanh âm, thanh thoát của mình trên từng phím đàn có bóng dáng của những Càn-Thát-Bà và chim ca -lăng-tần-già vút cao giữa trời mây.

Không gì hơn, với những người con Phật, xin góp lời cầu nguyện hương linh Bà an dựa chốn cửu phẩm liên đài. Tiếng hát Phật Giáo Việt Nam của Bà vẫn còn vang vọng đó đây, trên đất nước này.

Tác giã : Dương Kinh Thành

Vài dòng về tiểu sử và tác phẩm của Nhạc Sĩ Lê Thương

625 views

Lê Thương tên thật là Ngô Đình Hộ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1914, tại phố Hàm Long, Hà Nội, trong một gia đình bố mẹ là những nghệ sĩ cổ nhạc. Một bài viết khác cho rằng Lê Thương sinh tại Nam Định. Chi tiết về cuộc đời ông rất ít được nhắc tới. Theo hồi ký của Phạm Duy, Lê Thương sinh năm 1913 và là một thầy tu nhà dòng hoàn tục.

Năm 1935, Lê Thương hành nghề dạy học ở Hà Nội, sau đó ông chuyển về dạy ở Hải Phòng. Lê Thương cùng Hoàng Quý, Hoàng Phú (tức nhạc sĩ Tô Vũ), Phạm Ngữ, Canh Thân tụ họp thành một nhóm ca nhạc sĩ trẻ để bắt đầu sáng tác và hát phụ diễn cho những buổi diễn kịch nói của nhóm kịch Thế Lữ tại Hải Phòng, hay theo ban kịch đi hát tại Hà Nội, Vĩnh Yên. Họ cũng là những hướng đạo sinh và hay tổ chức đi cắm trại hay đi hát tại các tỉnh lân cận bằng xe đạp.
Năm 1941, Lê Thương vào miền Nam. Ban đầu ông ở An Hóa, tỉnh Bến Tre, sau đó Lê Thương chuyển về sống tại Sài Gòn. Tuy là một nhạc sĩ tài danh, nhưng nghề chính của ông là dạy học. Ông từng là giáo sư Sử Địa, có một thời gian giảng dạy tại một số trường trung học tư ở Sài Gòn. Ông cũng từng là giáo sư Pháp ngữ tại trường trung học Pétrus – Ký vào thập niên 60. Lê Thương cũng từng làm công chức ở Trung tâm Học liệu, bộ Quốc gia Giáo dục và là giảng viên Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ thời Việt Nam Cộng hòa.
Lê Thương là một trong những nhạc sĩ Việt Nam tiên phong viết tân nhạc với bài Bản đàn xuân. Ngoài Bản đàn xuân, trong thời kỳ ở miền Bắc, Lê Thương còn sáng tác những tác phẩm khác như Tiếng đàn đêm khuya, Một ngày xanh, Trên sông Dương Tử, Thu trên đảo Kinh Châu
Từ khi vào miền Nam năm 1941, Lê Thương phổ thơ nhiều bài như Lời kỹ nữ (thơ Xuân Diệu), Lời vũ nữ (thơ Nguyễn Hoàng Tư), Bông hoa rừng (thơ Thế Lữ), Tiếng thùy dương(tức Ngậm ngùi thơ Huy Cận) và Tiếng thu (thơ Lưu Trọng Lư)…
Lê Thương là nhạc sĩ tiên phong của nhiều thể loại âm nhạc. Thời kỳ kháng chiến, ông có soạn một ca khúc rất nổi tiếng Lòng mẹ Việt Nam hay Bà Tư bán hàng nói về một bà mẹ thành phố có các con tham gia kháng chiến. Và bài hát đó là một trong những lý do Lê Thương bị Pháp bắt giam vào khám Catinat cùng Phạm Duy và Trần Văn Trạch vào năm 1951.
Lê Thương thuộc những người đầu tiên viết truyện ca và đã để lại những bản truyện ca hay nhất như Nàng Hà Tiên, Lịch sử loài người, Hoa thủy tiên… Đặc biệt hơn cả là bộ ba Hòn vọng phu, được xem như một trong những tác phẩm lớn nhất của tân nhạc Việt Nam. Văn Cao cũng từng thừa nhận ảnh hưởng bởi Lê Thương với phong cách âm nhạc bắt nguồn từ âm nhạc cổ truyền Việt Nam.
Lê Thương cũng là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết nhạc hài hước với những bản Hoà bình 48 (phê phán sự mỵ dân đội lốt hoà bình), Làng báo Sài Gòn (đả kích báo giới bồi bút, bất tài và ham tiền), Đốt hay không đốt (châm biếm máu Hoạn Thư), Liên Hiệp Quốc… Những bản này được nghệ sĩ Trần Văn Trạch trình diễn nhiều lần vào thập niên 1940. Lê Thương còn đặt lời cho những bản nhạc ngoại quốc ngắn như Nhớ Lào (nhạc Lào), Bông hoa dại tức Ô Đuồng Chăm Pá (nhạc Lào), Lòng trẻ trai (nhạc Hoa Kỳ), Hoa anh đào tức Sakura (cổ nhạc Nhật Bản), Màn Brúc đánh giặc (dân ca Pháp)…
Một thời gian, Lê Thương có cùng nhạc sĩ Lê Cao Phan phụ trách ban nhạc Măng Non cho trẻ em, phát thanh các truyện cổ tích, khúc dân ca, bài ca nhi đồng. Và cùng Nguyễn Xuân Khoát, Lê Thương được xem như những nhạc sĩ mở đầu của dòng nhạc dành cho thiếu nhi với những bản Tuổi thơ, Cô bán bánh, Con mèo trèo cây cau, Thằng bé tí non, Ông Nhang bà Nhang, Truyền kỳ Việt sử, Học sinh hành khúc… Nổi tiếng hơn cả là bài Thằng Cuội thường được trẻ em hát trong mỗi dịp tết Trung Thu, mặc dù nhiều người không biết đó là một ca khúc của nhạc sĩ Lê Thương:

Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mơ
Lặng yên ta nói Cuội nghe
Ở cung trăng mãi làm chi
Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mợ…

Ngoài âm nhạc, Lê Thương còn gia nhập vào ban kịch của Thế Lữ vào những năm thập niên 1930, và ban kịch Sầm Giang của Trần Văn Trạch khi ông sống ở Sài Gòn. Lê Thương đã sáng tác ca khúc cho nhiều kịch bản, và viết nhạc phim cho hãng phim Mỹ Vân.
Lê Thương lập gia đình cùng một phụ nữ học ở Pháp về và họ có 9 người con. Ông cũng có hai người tình, người tình đầu là một cô hát ả đào nổi tiếng ở Hà Nội. Người thứ hai là một vũ nữ tại Chợ Vườn Chuối Sài Gòn.
Sau 1975, ông không tham gia hoạt động văn nghệ. Vào thập niên 1990, ông bị mất hẳn trí nhớ và qua đời ngày 17 tháng 9 năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Một số tác phẩm tiêu biểu:
Bản đàn xuân, Bông hoa rừng, Cô bán bánh, Con mèo trèo cây cau. Đàn bao tuổi rồi, Đàn tình xưa, Đốt hay không đốt, Hoa thủy tiên, Học sinh hành khúc, Hòn vọng phu, Làng báo Sài Gòn, Lịch sử loài người 1 – 2, Lời kỹ nữ, Lời vũ nữ, Lòng mẹ Việt Nam, Một ngày xanh, Nàng Hà Tiên, Người chơi độc huyền, Nhớ Lào, Nhớ thày xưa, Ông Nhang bà Nhang, Ông Nỉnh, Ông Nang, Tâm sự ca nhân, Thằng bé tí non, Thu trên đảo Kinh Châu, Tiếng đàn đêm khuya, Tiếng thu, Tiếng thùy dương, Trên sông Dương Tử, Truyền kỳ Việt sử, Tuổi thơ, Xuân yêu đương