Ngôn ngữ

Vì sao gọi “TRONG Nam, NGOÀI Bắc”, “VÔ (VÀO) Nam, RA Bắc”?

117 views

Cách gọi “trong Nam, ngoài Bắc”, “vô/vào Nam, ra Bắc” bắt nguồn từ danh xưng ĐÀNG TRONG / ĐÀNG NGOÀI vào thế kỷ 17 & 18.

Tiếng Việt chúng ta khi nói “TRONG” tức là trung tâm so với “NGOÀI”; bao giờ “TRONG” cũng có vai vế hơn (về mặt thực tiễn) so với “NGOÀI”. Ta nói “trong kinh thành, ngoài biên ải”, chớ không ai đi phân định “trong biên ải, ngoài kinh thành” hết.
Trong một số trường hợp, “TRONG” còn mang tính chất mật thiết hơn so với “NGOÀI”. Ta nói “trong nhà, ngoài lộ”, chớ không ai đi nói “trong lộ, ngoài nhà”.

Cái thuở nước Việt chưa phân chia hai miền (chúa Nguyễn, chúa Trịnh) mà Thăng Long còn làm kinh đô chung, người ở trong kinh kỳ khi ngó ra chốn mù khơi như Bình Định gọi là ngó ra NGOÀI biên ải.
Đến thời phân tranh Trịnh – Nguyễn, lấy ranh giới nơi sông Gianh (Quảng Bình) mà phân chia đất nước. Nói “Nam hà” 南 河 để chỉ lãnh thổ từ phía Nam sông Gianh trở vô, “Bắc hà” 北 河 để chỉ lãnh thổ từ phía Bắc sông Gianh trở ra. Nhưng, danh xưng chính thức thì không gọi Nam hà / Bắc hà, mà gọi là: ĐÀNG TRONG / ĐÀNG NGOÀI.
Lạ không, lẽ ra phải gọi toàn lãnh thổ phía bắc sông Gianh là “Đàng Trong” bởi nó có kinh đô Thăng Long; còn toàn lãnh thổ phía nam sông Gianh lẽ ra phải gọi là “Đàng Ngoài” (bởi nằm quá xa ngoài biên cương luôn, vượt qua Phú Yên, vượt tới Cà Mau mịt mù) mới phải chớ?
Nhưng, hoàn toàn ngược lại!
Cõi phía nam được gọi là “Đàng TRONG”, còn cõi phía bắc dầu có kinh kỳ Thăng Long đi nữa nhưng lại trở thành “Đàng NGOÀI”.

“ĐÀNG” (Đàng Trong, Đàng Ngoài) nghĩa là gì? “Đàng” = “đường”, nhưng “đường” ở đây không phải là “con đường” (Nếu tưởng như vậy, không lẽ “Đàng Trong” nghĩa là… trong con đường, “Đàng Ngoài” là… ngoài con đường? Nghe xong, khỏi hiểu luôn)
Trong Hán tự (nên nhớ trước khi có chữ Quốc ngữ, tiền nhân chúng ta xài Hán tự), “đường” có nhiều nghĩa. Ở đây, “đường” được viết 塘 , nghĩa là “con đê” (đê sông 河 塘 ; đê biển 海 塘)! Cách gọi này có liên quan tới Đào Duy Từ (1572- 1634), ông là người nghĩ ra cách xây lũy phòng thủ cho chúa Nguyễn (“Lũy Trường Dục”, còn gọi là “Lũy Thầy”). Hệ thống lũy này nhìn như con đê.
Lực lượng của chúa Nguyễn đóng phía trong con đê, thành thử gọi “Đàng (đường) Trong”, nằm về phía Nam. Còn lực lượng chúa Trịnh ở phía ngoài con đê, thành thử gọi “Đàng (đường) Ngoài”, nằm về phía Bắc.

Trong gần hai thế kỷ (thế kỷ 17, 18), cõi phía Nam sông Gianh liên tục được mở rộng và trải dài tới Cà Mau là cõi có kinh tế phồn thịnh hơn, có văn hóa cởi mở hơn so với cõi phía bắc sông Gianh.
Giáo sư Li Tana ở Đại học Quốc gia Úc khi nghiên cứu về Đàng Trong, bà đánh giá công trạng của Chúa Nguyễn Hoàng tương đương với công trạng của Ngô Quyền. Nếu Ngô Quyền, vào thế kỷ 10, đã mở đầu nền tự chủ lâu dài cho một nước Việt với lãnh thổ khoanh lại ở miền Bắc & phía bắc miền Trung, thì Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng), vào thế kỷ 17, đã mở ra một thời kỳ mới cho nước Việt với lãnh thổ mở rộng cho tới tận Cà Mau. Nói rõ hơn nữa, Đàng Trong của các Chúa Nguyễn trở thành một TRUNG TÂM phát triển mới, một sinh lực mới cho nước Việt.
Tương lai nước Việt được nhìn thấy trên vầng trán của xứ Đàng Trong…

Cách gọi ĐÀNG TRONG / ĐÀNG NGOÀI, dễ thấy đây là “hệ qui chiếu” được nhìn từ tọa độ của phía Nam. Và, danh xưng này được ghi chép vào trong sử sách cái rụp – bởi sức ảnh hưởng tự thân của nền kinh tế, xã hội của cõi phía Nam sông Gianh.
Thực tiễn phát triển của mỗi miền (Nam phát triển hơn Bắc) đã ghi dấu ấn rõ rành vào trong ngôn ngữ, thể hiện qua danh xưng: cõi phía Nam mới là “Đàng TRONG”, cõi phía Bắc chỉ là “Đàng NGOÀI” thôi.
(mở ngoặc: người ngoài Bắc hiện nay xin đừng “sân si”, “tự ái” gì ráo, bởi đó là thực tiễn lịch sử trong thế kỷ 17, 18; ngay như tôi là… người gốc Bắc, mà tôi cũng ưng tôn trọng cách gọi “Đàng Trong” đầy hãnh diện, nói cho cùng, có ích lợi chung cho toàn nước Việt)
Dòng sử Việt dù đã đi qua thời kỳ định cõi riêng biệt giữa chúa Nguyễn với chúa Trịnh nhưng dấu ấn lịch sử vẫn còn lưu lại trong lời ăn tiếng nói của người Việt cho tới hiện nay – gọi “TRONG Nam, NGOÀI Bắc” là bởi vậy đó đa!
Và, tới đây chúng ta dễ dàng hiểu vì sao gọi “VÔ (vào) Nam”, mà không gọi “ra Nam”. Bởi vì Nam là “TRONG” (Đàng Trong), nên người Việt mình khi nói “vô (vào)” tức là vô (vào) bên trong, chớ không ai đi nói “ra bên trong” hết.
Cũng vậy, gọi “RA Bắc”, bởi vì miền Bắc là “NGOÀI” (Đàng Ngoài) nên khi ta nói “ra” tức là ra bên ngoài, ra phía ngoài, chớ không ai đi nói “vô (vào) bên ngoài” hết.

Từ thuở tự do nơi đất mới
Càng thương càng quý xứ Đàng Trong
”…

Ngay cả hiện nay, dù miền Nam không còn như trước kia, nhưng luồng di dân từ NGOÀI Bắc kéo VÔ Nam để định cư, kiếm sống vẫn tiếp diễn hết năm này qua năm khác (còn số người từ TRONG Nam đi RA Bắc để định cư ? ít hơn hẳn, đìu hiu, không thấm tháp gì ráo).
Ta nói, ở miền Nam, “đất lành chim đậu”.
Còn ở những nơi đất không lành thì… đất chọi chết chim.

Tác giã : Nguyễn Chương

“Cái” và “Cáy”, anh chưa phân biệt được thì đừng động phòng nhé !

176 views

Này anh, tiếng Việt mình rất phong phú, riêng từ “cái” thôi, viết thì giống nhau, đọc lên giống nhau mà nghĩa thì khác hẳn. Người ta gọi đó là đồng tự, đồng âm mà dị nghĩa. Tuỳ theo vị trí chữ “cái” đó đứng ở đâu, đi với từ nào mà biết nó thuộc loại từ gì, nghĩa gì. Em sẽ viết cho anh bài học hai từ “cái” và “cáy”, anh phải học thuộc trong thời gian 1 tuần lễ. Nếu thời gian này mà anh không thuộc thì…” Rồi cô cười ngặt nghẽo, hai tay chụp vào vai chồng, hóm hỉnh nói: “thì chưa được …động phòng nhé!

Một chàng trai Việt được chào đời trên đất Mỹ vào cuối năm 1975 tại một tiểu bang rất ít người Việt định cư. Cậu ta lớn lên trên đất Mỹ, theo học tại các trường Mỹ và khi đi làm cũng tại một cơ sở Mỹ. Cậu không được tiếp cận với cộng đồng người Việt, và lại nữa, cha mẹ cậu luôn tất bật với cuộc sống hàng ngày không nhiều thời giờ dạy tiếng mẹ đẻ cho cậu, thế nên cậu nói tiếng Việt bập bẹ như đứa trẻ lên ba và đọc viết chữ Việt chỉ khá hơn học sinh lớp Một. Nhưng bù lại, trong cơ thể cậu đang mang rặt dòng máu Việt Nam nên cậu rất giống cha mẹ từ thể chất đến tư duy, Mặc dù chôn nhau cắt rốn nơi đất khách nhưng tâm hồn cậu luôn hướng về quê cha đất tổ, đúng với cái tên cúng cơm mà cha mẹ đặt cho cậu : Nguyễn Hoài Việt. Hoài Việt đã ba mươi hai tuổi mà vẫn còn sống độc thân. Tâm nguyện của người Mỹ gốc Việt nầy làsẽ lập gia đình với một cô gái Việt để sau nầy con cái khỏi bị lai căn mất gốc. Đó cũng là ý nguyện của cha mẹ cậu.

Đã vài lần cha mẹ Hoài Việt về thăm Việt Nam và lần nào cũng có dẫn cậu đến thăm gia đình người bạn cũ. Ông bà bạn nầy có một đứa con gái đang là giáo viên dạy văn cấp II. Cô được cha mẹ đặt cho cái tên để kỷ niệm ngày đất nước chấm dứt chiến tranh: Lê Thị Thanh Bình. Thanh Bình đã ba mươi tuổi mà vẫn còn “ở vậy” để lo phụng dưỡng cha me. Chỉ gặp nhau vài lần mà cô cậu đã “phải lòng nhau” và đã được cha mẹ hai bên chấp nhận, hẹn đến năm sau sẽ làm đám cưới.

Từ Mỹ, Hoài Việt gửi thư về cho vị hôn thê, rằng anh sẽ về ở Việt Nam, công tác trong một tập đoàn công nghệ điện tử của Mỹ, rằng anh sẽ làm đám cưới với Thanh Bình v.v… Cô giáo dạy văn phải nhiều lần động não mới hiểu nổi cách hành văn nửa Việt nửa Mỹ của anh chồng tương lai… Chừng đọc tới câu : “… Sau khi là vợ chồng, mình sẽ sanh con đẻ cáy”, cô vừa bực vừa tức cười, rồi ỡm ờ tự hỏi : “Mình lấy anh ta để đẻ ra…cua à!…”. Nhưng rồi cô cũng thông cảm.

Ngày đám cưới, cha mẹ Thanh Bình có mời bà con bên ngoại dưới quê lên dự. Ông cậu của Thanh Bình là một lão nông chất phác, vừa tới cửa, ông cười giòn giã rồi nói lớn tiếng gây cho Hoài Việt chú ý : “Tao tưởng nhà của tụi bây ở trong sâu, ai dè từ đường cái vô có mấy bước”. Sau đám cưới, Hoài Việt rặn từng tiếng mới ra câu hỏi vợ : “Sao ông cậu không nói từ cái đường vô cái nhà mà nói từ đường cái?”. Thanh Bình không nín được cười rồi nhớ lại mấy ngày trước đám cưới, Hoài Việt dẫn cô đến tham quan nơi làm việc của anh ta, cô thấy chồng mình nói tiếng Anh với Mỹ như… lặt rau, thế mà một câu nói tiếng mẹ đẻ dễ ợt, anh ta phải… mắc nghẹn ba bốn lần! Cô nhớ lại trong thư anh viết có từ “cáy” bây giờ lại thắc mắc về từ “cái”. Chỉ hai từ nầy thôi, chồng cô cũng chưa hiểu được nghĩa của nó. Cô thông cảm cho chồng rồi ôn tồn giải thích:

“Này anh, tiếng Việt mình rất phong phú, riêng từ “cái” thôi, viết thì giống nhau, đọc lên giống nhau mà nghĩa thì khác hẳn. Người ta gọi đó là đồng tự, đồng âm mà dị nghĩa. Tuỳ theo vị trí chữ “cái” đó đứng ở đâu, đi với từ nào mà biết nó thuộc loại từ gì, nghĩa gì. Em sẽ viết cho anh bài học hai từ “cái” và “cáy”, anh phải học thuộc trong thời gian 1 tuần lễ. Nếu thời gian này mà anh không thuộc thì…”. Rồi cô cười ngặt nghẽo, hai tay chụp vào vai chồng, hóm hỉnh nói: “thì chưa được …động phòng nhé!

Hoài Việt chả biết “động phòng” là cái quái gì, thấy vợ cười vui và có cử chỉ âu yếm, anh cũng… khoái chí cười theo!

Cái “giáo án” mà cô giáo Thanh Bình soạn cho “học sinh” Hoài Việt học vỡ lòng là bài “Cái và Cáy”, kèm theo những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao mang tính giáo dục về đạo lý và phong tục tập quán Việt Nam:

1. CÁI là danh từ , nghĩa là MẸ, như “Bố CÁI Đại Vương” nhằm tôn xưng ông Phùng Hưng vừa là vị vua lớn của nước vừa là cha MẸ của dân. Tục ngữ có câu “Con dại CÁI mang” để nói con mà ngu dại thì MẸ phải chịu trách nhiệm. Câu ca dao “…Nàng về nuôi CÁI cùng con…” thì từ CÁI nầy cũng nghĩa là MẸ… Nhưng khi nó đứng sau từ “con” thì nó lại là… con chứ không phải mẹ, như “sanh con đẻ CÁI” hoặc “Con CÁI trong nhà” là chỉ chung con trai, con gái. Còn CÁI là danh từ với nghĩa khác để chỉ phần đặc trong canh như thịt, cá, rau… thì tục ngữ có câu “Khôn ăn CÁI, dại húp nước”. Danh từ CÁI để chỉ người làm chủ canh bạc (làm CÁI) : “Nhà CÁI tay non, nhà con hốt bạc”. CÁI ghẻ là một loài ký sinh gây ra bệnh ghẻ. Trong Hán Việt, danh từ CÁI là cây dù, cây lọng.

2. CÁI là loại từ (còn gọi mạo từ) đặt trước danh từ chung, như CÁI nhà, CÁI bàn, CÁI ghế, đặt trước danh từ trừu tượng như “CÁI nết đánh chết CÁI đẹp”; hoặc để khen thì người ta nói “CÁI khó ló CÁI khôn”; để chê thì nói “CÁI khó bó Cái khôn”; để mỉa mai thì nói khác: “CÁI khó ló CÁI…ngu”. Một việc nhỏ không khéo giải quyết để trở thành việc lớn thì nói: “CÁI sảy nảy CÁI ung”. Ngoài ra, loại từ CÁI đôi khi đặt trước danh từ riêng để gọi bé gái: CÁI Lan, CÁI Huệ…

3. CÁI là tính từ chỉ giới tính như Đực, CÁI. Kinh nghiệm trong việc lựa giống vật để nuôi, dân gian có câu: “Chọn đực coi dái, chọn CÁI coi vú”. Từ CÁI chỉ giới tính còn có cách nói khác cùng một vần: Gái (trai); Mái (trống); Nái (nọc). Cách nầy người ta gọi là: Đồngvận, đồng nghĩa mà biến âm.
CÁI là tính từ có nghĩa là Lớn như: đường CÁI, sông CÁI: “Đường CÁI là đường CÁI quan, chận em đi chợ để tan chợ rồi” (ca dao). Và như: “Suối con lải nhải chẳng tải được gì, sông CÁI lầm lì người đi xuôi ngược”.

4. CÁI là động từ chỉ sự né tránh: “CÁI đi đường khác”; chỉ sự không hài lòng: “CÁI mặt lắc đầu”. Trong Hán Việt, động từ CÁI là chỉ sự bao trùm: “CÁI thế anh hùng”. Động từ CÁI nghĩa là đậy thì có câu: “CÁI quan luận đinh”, nghĩa là khi đậy nắp quan tài (người chết) mới luận công hay định tội người đó. CÁI nghĩa là xin, như “CÁI ban” là chỉ nhóm người ăn xin: “CÁI ban chơi gan hơn bá hộ”.
Ngoài ra, từ CÁI là gốc tiếng Khơme, ta lấy đặt tên nhiều địa danh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long : CÁI Tàu, CÁI Sắn, CÁI Sơn; CÁI Răng, CÁI Cóc, CÁI Mơn, CÁI Bè v.v…

Trên đây là CÁI i ngắn , còn dưới đây là CÁY y dài:

1. Động từ THÁU CÁY là mánh khoé của giới cờ bạc nhằm đánh lừa đối phương (bài xấu mà giả như tốt để lừa).

2. CÁY danh từ là loài cua nhỏ sống ở bờ biển, người ta dùng nó để làm mắm: “Nhát như CÁY”. Thành ngữ “Bầu dục chấm mắm CÁY” để chỉ sự mất cân xứng giữa cái ngon (bầu dục) và cái rẽ tiền (mắm CÁY). Một gia đình nghèo, đời cha cực khổ đến đời con cũng vất vả, người ta dùng câu thành ngữ rất hay để mô tả: “Đời cua cua máy, đời CÁY CÁY đào”.
Còn một câu nữa rất tuyệt, gồm các từ ngữ dân gian, cách gieo vần độc đáo, ý nghĩa tương phản, đối nhau chan chát để chỉ hai loại người trong xã hội có hai cách sống và hai tâm trạng khác nhau: “Ăn mắm CÁY ngáy o o, ăn thịt bò lo ngay ngáy”.

Hoài Việt rất thích tiếng mẹ đẻ nên trong quá trình “học bài” có những gì chưa thông suốt anh liền hỏi vợ hoặc nhờ người thân giải thích. Sau 1 tuần, anh gặp vợ để “trả bài”. Thanh Bình khen anh thông minh và động viên chồng: “Anh nên nhẫn nại, chỉ cần thuộc 2 ngàn từ thông dụng thì có thể viết và nói tiếng Việt tương đối khá”. Qua một thoáng suy nghĩ, Hoài Việt kêu lên: “Trời ơi! Mới có 2 từ mà mất hết 1 tuần, nếu thuộc 2 ngàn từ thì phải mất 1 ngàn tuần, tính ra là 20 năm nữa à?!” Thanh Bình phá lên cười rồi âu yếm vuốt nhẹ vào lưng chồng khuyên giải: “Không dài như vậy đâu. Trong thời gian còn làm việc ở nước nhà, anh nên thường xuyên tiếp cận với mọi giai tầng người Việt trong xã hội, nhất là anh biết quay lại cội nguồn dân tộc thì thời gian ấy chỉ còn không tới một phần mười”. Rồi cô yêu cầu chồng thực tập bài học vừa rồi:
“- Nầy anh, anh thử đặt một câu nói có từ “cái” trong đó!
Qua một thoáng suy nghĩ, Hoài Việt “trả bài”:
“- Nầy em, em cho anh xin một CÁI…hôn!

Thanh Bình không trả lời nhưng biểu đồng tình bằng một CÁI…cười!

Tác giã: Đỗ Văn Đồng

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những vay mượn từ tiếng Pháp

1042 views

Sang đến thời kỳ “một trăm năm đô hộ giặc Tây”. Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng đã trở thành thuộc địa của Pháp. Cũng vì thế, tiếng Pháp đã có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa, xã hội và đời thường của người Việt.

Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latinh làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latinh hóa” chữ Việt ngày càng được phổ biến để trở thành Quốc ngữ, chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương, nổi bật nhất là văn hóa Pháp.

Khi chiếm được ba tỉnh Nam Bộ, người Pháp đã nắm trong tay một công cụ vô cùng hữu hiệu để truyền bá văn hoá đồng thời chuyển văn hoá Nho giáo sang văn hoá Phương Tây. Tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc ngữ vào năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam sau này.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Linh mục Alexandre de Rhodes

Đối với người bình dân, việc tiếp nhận tiếng Pháp đến một cách rất tự nhiên. Người ta có thể nói “Cắt tóc, thui dê” để chỉ ngày Quốc khánh Pháp 14/7, Quatorze Juliet. Người ta có thể dùng tiếng Tây “bồi” nhưng lại không cảm thấy xấu hổ vì vốn liếng tiếng Pháp của mình vốn chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Để tả con cọp, người ta có thể dài dòng văn tự: “tí ti giôn, tí ti noa, lủy xực me-xừ, lủy xực cả moi”. Diễn nôm câu này là một chút màu vàng (jaune), một chút màu đen (noir), nó ăn thịt ông (monsieur), nó ăn thịt cả tôi (moi).

Nhân đây cũng xin nói thêm về những đại danh từ nhân xưng như toa (anh, mày – toi), moa hay mỏa (tôi, tao – moi), en hay ẻn (cô ấy, chị ấy – elle), lúy hay lủy (anh ấy, hắn – lui), xừ hay me-xừ (ông, ngài – monsieur)… Học trò trường Tây, những nhà trí thức khoa bảng hay cả những kẻ tỏ ra “thời thượng” ngày xưa thường dùng những đại từ này. Cũng vì thế có một câu mang tính cách châm chọc: “Hôm qua moa đi xe lửa, buồn tiểu quá nên moa phải… trên đầu toa” (toa ở đây có 2 nghĩa: toa xe lửa nhưng cũng có ý là toi (anh) trong tiếng Pháp).

Nói thêm về hỏa xa, người Pháp xây dựng đường xe lửa đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn từ năm 1881. Đây là đoạn đường ray (rail) từ Cột cờ Thủ Thiêm đến bến xe Chợ Lớn, dài 13km. Mãi đến năm 1885 chuyến xe lửa đầu tiên mới được khởi hành và một năm sau, tuyến đường Sài Gòn-Mỹ Tho dài 71km bắt đầu hoạt động. Sau đó, mạng lưới đường sắt được xây dựng trên khắp lãnh thổ Việt Nam, dùng kỹ thuật của Pháp với khổ đường ray 1 mét. Tính đến năm 1975 miền Nam có khoảng 1.240km đường ray nhưng vì chiến cuộc nên chỉ được sử dụng khoảng 60%.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Nhà ga xe lửa cạnh đầu đường Lê Lai (1931)

Nhà ga cũng có xuất xứ từ tiếng Pháp gare. Ga là công trình kiến trúc làm nơi cho tàu hoả, tàu điện hay máy bay đỗ để hành khách lên xuống hoặc để xếp dỡ hàng hoá. Từ sự vay mượn này ta có thêm những từ ngữ như sân ga, trưởng ga, ga chính, ga xép… Nhân nói về ga tưởng cũng nên nhắc lại động từ bẻ ghi (aiguiller) tức là điều khiển ghi (aiguille) cho xe lửa chuyển sang đường khác. Trong tiếng Việt, bẻ ghi còn có nghĩa bóng là thay đổi đề tài, chuyển từ chuyện mình không thích sang một đề tài khác.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Ga Đà Lạt (1938)

Có những từ ngữ xuất xứ từ tiếng Pháp nhưng vì lâu ngày dùng quen nên người ta cứ tưởng chúng là những từ “thuần Việt”. Chẳng hạn như cao su (caoutchouc), một loại cây công nghiệp được người Pháp du nhập vào Việt Nam qua hình thức những đồn điền tại miền Nam. Ngôn ngữ tiếng Việt rất linh động trong cách dùng từ ngữ cao su qua các biến thể như giờ cao su (giờ giấc co dãn, không đúng giờ), kẹo cao su (chewing-gum)…

Nhà băng (banque) là một chữ quen dùng trong ngôn ngữ hàng ngày còn xà bông cũng là loại chữ dùng lâu ngày thành quen nên ít người để ý xuất xứ của nó là từ tiếng Pháp, savon. Ở miền Bắc, xà bông được cải biên thành xà phòng, là chất dùng để giặt rửa, chế tạo bằng cách cho một chất kiềm tác dụng với một chất béo. Nổi tiếng ở Sài Gòn xưa có xà bông Cô Ba của Trương Văn Bền, dùng dầu dừa làm nguyên liệu chính.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Ngân Hàng Đông Dương nhìn từ phía sau góc Tôn Thất Đạm-Nguyễn Công Trứ

Chúng ta thấy ngôn ngữ Việt vay mượn từ tiếng Pháp trong rất nhiều lãnh vực. Về ẩm thực, tiếng Việt thường mượn cả cách phát âm đến tên của các món ăn có xuất xứ từ phương Tây. Vào nhà hàng, người phục vụ đưa ra mơ-nuy (thực đơn – menu) trong đó có những món như bít-tết (chữ bifteck của Pháp lại mượn từ nguyên thủy tiếng Anh – beefsteak), những thức uống như bia (rượu bia – bière, được chế biến từ cây hốt bố hay còn gọi là hoa bia – houblon), rượu vang (rượu nho – vin)…

Về thịt thì có xúc-xích (saucisse), pa-tê (paté), giăm-bông (jambon), thịt phi-lê (thịt thăn, thịt lườn – filet). Các món ăn thì có ra-gu (ragout), cà-ri (curry)… Khi ăn xong, khách xộp còn cho người phục vụ tiền puộc-boa (tiền thưởng – pourboire). Ngày nay từ boa hay bo được dùng phổ biến với ý nghĩa cho tiền thưởng, hay còn gọi là tiền phong bao hoặc tiền phục vụ.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Bánh Pâté Chaud

Từ rất lâu, ở Sài Gòn xuất hiện các loại bánh mì theo kiểu Pháp, miền Bắc lại gọi là bánh tây với hàm ý du nhập từ Pháp. Có nhiều loại bánh đặc biệt như bánh mì ba-ghét (loại bánh mì nhỏ, dài – baguette), bánh pa-tê-sô (một loại bánh nhân thịt, ăn lúc nóng vừa dòn vừa ngon – pathé chaud), bánh croát-xăng (hay còn gọi là bánh sừng bò – croissant).

Người Sài Gòn thường ăn sáng với bánh mì kèm theo nhiều kiểu chế biến trứng gà như ốp-la (trứng chỉ chiên một mặt và để nguyên lòng đỏ – oeuf sur le plat), trứng ốp-lết (trứng tráng – omelette) hoặc trứng la-cóc (trứng chụng nước sôi, khi ăn có người lại thích thêm một chút muối tiêu – oeuf à la coque).

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Cà phê Brodard trên đường Catinat

Món không thể thiếu trong bữa ăn sáng là cà phê (café). Cà phê phải được lọc từ cái phin (filtre à café) mới đúng điệu. Người miền Bắc ít uống cà phê nên sau năm 1975 vào Sài Gòn nhiều người đã mô tả cái phin cà phê một cách rất “gợi hình”: “cái nồi ngồi trên cái cốc”.

Ngôn ngữ về trang phục cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tiếng Pháp. Bình thường hàng ngày người ta mặc áo sơ-mi (chemise), cổ tay có cài khuy măng-sét (manchette). Khi đi tiệc tùng hoặc hội họp thì mặc áo vét (vest) hay bộ vét-tông (veston) kèm theo chiếc cà-vạt (cravate) trên cổ áo sơ mi. Trời hơi lạnh có thể mặc bên trong áo vét một chiếc gi-lê (gilet) và hai tay mang găng (gants) cho ấm.

Ngay cả quần áo lót bên trong cũng mượn từ tiếng Pháp. Phụ nữ thì mang xú-chiêng (nịt ngực – soutien-gorge) và xì-líp (slip). Nam giới thì mặc áo may-ô (maillot) bên trong áo sơ-mi. Mặc quần thì phải có xanh-tuya (dây nịt – ceinture) và khi trời nóng thì mặc quần sóc (quần ngắn, tiếng Pháp là short được mượn từ tiếng Anh shorts).

Trang phục có thể được may từ các loại cô-tông (vải bông – coton) hoặc bằng len (làm từ lông cừu – laine). Trên đầu có mũ phớt (feutre, một loại mũ dạ), mũ be-rê (béret, một loại mũ nồi)… dưới chân là đôi dép săng-đan (sandales), sau này người Sài Gòn lại chế thêm dép sa-bô (sabot nguyên thủy tiếng Pháp là guốc).

Đi lính cho Tây thì được phát đôi giày săng-đá (giày của lính – soldat). Loại lính nhảy dù, biệt kích (ngày nay là đặc công) gọi là còm-măng-đô (commando). Một đoàn xe quân sự có hộ tống được gọi là công-voa (convoi, trông cứ như con voi trong tiếng Việt!). Thuật ngữ quân sự chỉ những công sự xây đắp thành khối vững chắc, dùng để phòng ngự, cố thủ một nơi nào đó được gọi là lô-cốt có xuất xứ từ blockhaus. Ngày nay, chữ lô cốt còn được dùng chỉ những nơi đào đường, thường được rào chắn, vây kín mặt đường, cản trở lưu thông.

Xưa kia cảnh sát được gọi qua nhiều tên: mã-tà (xuất xứ từ tiếng Pháp matraque, có nghĩa là dùi cui), sen đầm (gendarme), phú-lít (police), ông cò (commissaire)… Lực lượng thuế quan (ngày nay gọi là hải quan) được gọi là đoan (douane), lính đoan còn có nhiệm vụ đi bắt rượu lậu là một mặt hàng quốc cấm thời Pháp thuộc.

Nông phẩm thì có đậu cô-ve (còn gọi tắt là đậu ve – haricot vert), đậu pơ-tí-poa (đậu Hòa Lan có hột tròn màu xanh – petits-pois), bắp sú (bắp cải – chou), súp-lơ (bông cải – chou-fleur), xà lách (salade), cải xoong (còn gọi là xà lách xoong – cresson), cà-rốt (carotte), ác-ti-sô (artichaut)…

Tiếng Tây cũng đi vào âm nhạc. Từ điệu valse, tango… đến đàn piano (dương cầm), violon (vĩ cầm), kèn harmonica (khẩu cầm)… Ở các đăng-xinh (khiêu vũ trường – dancing) luôn có ọc-két (ban nhạc – orchestre) chơi nhạc và xuất hiện một nghề mới gọi là ca-ve (gái nhẩy – cavalière). Ngày nay người ta dùng từ ngữ ca-ve với ý chỉ tất cả những cô gái làm tiền, khác hẳn với ý nghĩa nguyên thủy của nó.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Vũ trường Maxim’s trên đường Tự Do cạnh khách sạn Majestic

Người phương Tây dùng nhiều sữa và các sản phẩm của sữa nên đã đưa vào ngôn ngữ tiếng Việt những từ ngữ như bơ (beurre), pho-mát (fromage), kem (crème)… Nổi tiếng ở Sài Gòn có hai nhãn hiệu sữa Ông Thọ (Longevity) và Con Chim (Nestlé) như đã nói ở phần trên.

Có người cắc cớ thắc mắc, đàn ông mà lại là ông già thì làm sao có sữa? Xin thưa, hình tượng “Ông Thọ chống gậy” trên hộp sữa chỉ muốn nói lên tuổi thọ (longévité) của người dùng sữa. Trường hợp của Nestlé cũng vậy. Con Chim thì làm gì có sữa? Thực ra thì logo của Nestlé là một tổ chim (gồm chim mẹ và 2 chim con) nhưng người Việt mình cứ gọi là sữa Con Chim cho tiện.

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Trụ sở hãng sữa Nestlé (sữa Con chim) trên đường Công Lý

Thế mạnh của Nestlé là các sản phẩm sữa bò khác như Núi Trắng (Lait Mont-Blanc) và sữa bột Guigoz. Ngày xưa, những gia đình trung lưu đều nuôi con bằng sữa bột Guigoz. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi ăn vụng một thìa Guigoz của em út: vừa bùi, vừa béo, những hạt sữa nhỏ ly ty như tan ngay trong miệng.

Sữa bột Guigoz được chứa trong một cái lon bằng nhôm, cao 15cm, có sọc ngang, bên trong lại có sẵn thìa để giúp người pha dễ đo lường. Khi dùng hết bột, các bà nội trợ không vứt lon như những loại sữa khác vì lon Guigoz có nắp đậy rất kín nên được “tái sử dụng” trong việc đựng đường, muối, tiêu, bột ngọt…

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Logo hình tổ chim của hãng sữa Nestlé

Những người thiết kế lon Guigoz chắc hẳn chưa bao giờ nghĩ cái lon lại có nhiều công dụng sau khi sữa bột ở bên trong đã dùng hết. Lon Guigoz đã theo chân những tù nhân cải tạo như một vật “bất ly thân”. Những người “tưởng đi học có 10 ngày” mang theo lon Guigoz để đựng các vật dụng linh tinh như bàn chải, kem đánh răng, vài loại thuốc cảm cúm, nhức đầu để phòng khi cần đến.

Lon Guigoz thường được chúng tôi gọi tắt là “lon gô”. Học tập càng lâu lon gô càng tỏ ra “đa năng, đa hiệu”. Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng gô làm gàu, buổi sáng thức dậy dùng gô làm ly đựng nước súc miệng, nhưng gô còn tỏ ra đặc biệt hữu ích khi dùng như một cái nồi để nấu nước, thổi cơm, luộc măng (lấy ở trên rừng), luộc rau, luộc khoai mỳ (“chôm chỉa” khi đi “tăng gia sản xuất”)… nghĩa là làm được tất cả mọi công việc bếp núc.

Chúng tôi ở trong một căn cứ cũ của Sư đoàn 25 tại Trảng Lớn (Tây Ninh) nên có cái may là còn rất nhiều vỏ đạn 105 ly. Người cải tạo săn nhặt những vỏ đạn về và chế thành một cái lò “dã chiến” và lon gô để vào trong lò vừa khít, tưởng như 2 nhà thiết kế vỏ đạn và lon gô đã ăn ý với nhau “từng centimét” ngay từ khâu thiết kế ban đầu! Ai chưa có lon gô thì nhắn gia đình tìm để đựng đồ ăn mỗi khi được vào trại “thăm nuôi”.

Sau 30/4/75 lon gô trở nên hữu dụng vì công nhân, sinh viên, học sinh dùng lon gô để đựng cơm và thức ăn cho bữa trưa. Người Sài Gòn thường đeo một cái túi đựng lon gô khi đi làm, một hình ảnh không thể nào quên của “thời điêu linh” sau 1975.

Tình cờ tôi bắt gặp trang web của Pháp quảng cáo bán lon sữa Guigoz cho những người sưu tầm, giá lên tới 15 euro cho một lon Guigoz xưa, dĩ nhiên là chỉ có lon không, không có sữa!

Người Pháp khi đến Việt Nam mang theo cả chiếc ô-tô (xe hơi – auto, automobile). Xe xưa thì khởi động bằng cách quay ma-ni-ven (manivelle) đặt ở đầu xe, sau này tân tiến hơn có bộ phận đề-ma-rơ (khởi động – démarreur). Sau khi đề (demarrer), xe sẽ nổ máy, sốp-phơ (người lái xe – chauffeur) sẽ cầm lấy vô-lăng (bánh lái – volant) để điều khiển xe… Về cơ khí thì người Sài Gòn dùng các từ ngữ như cờ-lê (chìa vặn – clé), mỏ-lết (molete), đinh vít (vis), tuốc-nơ-vít (cái vặn vít – tournevis), công-tơ (thiết bị đồng hồ – compteur), công tắc (cầu dao – contact)…

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Công ty xe hơi Pháp Citroen (REX Hotel Saigon) 1927

Bây giờ nói qua chuyện xe đạp cũng có nhiều điều lý thú. Chiếc xe đạp trong ngôn ngữ Việt mượn rất nhiều từ tiếng Pháp. Trước hết, phía trước có guy-đông (thanh tay lái – guidon), dưới chân có pê-đan (bàn đạp – pedale), săm (ruột bánh xe – chambre à air) và phía sau là bọc-ba-ga (để chở hàng hóa – porte-bagages).

Chi tiết các bộ phận trong xe đạp cũng… Tây rặc. Có dây sên (dây xích – chaine), có líp (bộ phận của xe đạp gồm hai vành tròn kim loại lồng vào nhau, chỉ quay tự do được theo một chiều – roue libre), rồi phanh (thắng – frein) ở cả bánh trước lẫn bánh sau. Thêm vào đó còn có các bộ phận bảo vệ như gạc-đờ-bu (thanh chắn bùn – garde-boue) và gạc-đờ-sên (thanh che dây xích – garde-chaine).

Ngôn ngữ Sài Gòn xưa - Những vay mượn từ tiếng Pháp
Xe hơi trên đường Nguyễn Huệ

Mỗi chiếc xe đạp xưa còn trang bị một ống bơm (pompe) để phòng khi lốp xe xuống hơi. Bên cạnh đó người ta gắn một chiếc đy-na-mô (dynamo – bộ phận phát điện làm sáng đèn để đi vào ban đêm). Tôi còn nhớ khi tháo tung một cái dynamo cũ thấy có một cục man châm gắn vào một trục để khi trục quay sẽ sinh ra điện.

Hồi xửa hồi xưa, đi xe đạp không đèn vào ban đêm rất dễ bị phú-lít thổi phạt nên nếu xe không đèn, người lái phải cầm bó nhang thay đèn! Sài Gòn xưa có các nhãn hiệu xe đạp mổi tiếng như Peugoet, Mercier, Marila, Follis, Sterling… Đó là những chiếc xe đã tạo nên nền “văn minh xe đạp” của những thế hệ trước và một nền “văn hóa xe đạp” còn lưu lại trong ngôn ngữ tiếng Việt của người Sài Gòn xưa.

Tác giã : Nguyễn Ngọc Chính